|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 171/2024/HS-ST
Ngày 26/9/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tô Huy Bân, ông Chu Văn Bình.
Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Hạ Gia Thuận - Kiểm sát viên.
Ngày 26/9/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 171/2024/TLST-HS ngày 13/9/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 166/2024/QĐXXST-HS ngày 13/9/2024 đối với:
1. Bị cáo: Nguyễn Văn Q, sinh năm 1988; Nơi đăng ký HKTT: Thôn V, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H và bà Bùi Thị C; Có vợ là Vi Thị L, con chưa có;
Tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân: Tại Bản án số 159/2019/HSST ngày 22/10/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt Q 07 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Quyết đã chấp hành xong toàn bộ Bản án.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/6/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt ở điểm cầu trực tuyến tại Trại tạm giam Công an tỉnh B).
2. Bị hại: Chị Ngô Thị H1, sinh năm 1989; Địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Có mặt tại điểm cầu trực tuyến Tòa án nhân dân huyện Yên Phong.
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Mẫn Văn Á, sinh năm 1996; Địa chỉ: Thôn C, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.
4. Người tham gia tố tụng khác: Ông Nguyễn Đức Đ - Cán bộ phụ trách tin học thuộc Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh (có mặt tại điểm cầu trực tuyến Tòa án nhân dân huyện Yên Phong).
NỘI DUNG VỤ ÁN
1
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chị Nguyễn Thị H2 kể cho Nguyễn Văn Q nghe về việc bị một đối tượng lừa đảo qua App vay tiền trên mạng xã hội số tiền 24.872.000 đồng vào tối ngày 22/3/2024 và hỏi Q chỗ vay tiền. Lợi dụng sự không hiểu biết của chị H2, Q nói với chị H2 về việc bọn lừa đảo sử dụng thông tin cá nhân của chị trong hồ sơ vay tiền qua mạng để tiếp tục vay tiền của nhiều ngân hàng khác. Nếu muốn xóa được hồ sơ thì phải có chi phí để lo, chị H2 đồng ý nhớ Q làm thủ tục vay tiền tại ngân hàng. Q đã liên hệ với Mẫn Văn Á để làm thủ tục vay tiền. Sáng ngày 25/3/2024, Q cùng chị H2 đến gặp Á và Lê Văn G là nhân viên của ngân hàng V để làm hồ sơ vay tiền 150.000.000 đồng. Chị H2 đã nhận được số tiền 137.417.000 đồng. Q đã gọi điện cho chị H2 bằng điện thoại Samsung Galaxy S215G yêu cầu chị H2 chuyển tiền để làm thủ tục xóa hồ sơ vay. Chị H3 đã chuyển 4 lần tiền vào 18 giờ ngày 26/3/2024 chuyển 10.000.000 đồng; 20 giờ ngày 26/3/2024 chuyển 65.000.000 đồng; ngày 27/3/2024 chuyển 8.000.000 đồng và ngày 28/3/2024 chuyển 9.000.000 đồng. Tổng số tiền chị H2 chuyển cho Q là 92.000.000 đồng. Số tiền này Q đã chi tiêu cá nhân hết. Ngày 11/6/2024 Q đã đến Công an huyện Y đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.
Với nội dung trên, bản cáo trạng số 167/CT-VKS-YP ngày 12/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã quyết định truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Yên Phong để xét xử bị cáo Nguyễn Văn Q về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: Lợi dụng sự quen biết và tin tưởng của chị Nguyễn Thị H2, biết được thông tin chị H2 bị lừa tiền vay qua mạng, bị cáo đã nói và chị H2 tin tưởng việc thông tin tài khoản vay tiền của chị H2 có thể bị sử dụng để vay tiền của ngân hàng và đồng ý nhờ bị cáo giúp đỡ. Bị cáo có thể xóa thông tin này giúp chị H2 nhưng phải có chi phí. Bị cáo đã liên lạc với Á, sau đó Á liên lạc với G để vay tiền ngân hàng cho chị H2. Sau khi chị H2 nhận tiền vay, bị cáo đã yêu cầu chị H3 chuyển tiền 4 lần, tổng là 92.000.000 đồng nhưng bị cáo không thể thực hiện việc xóa thông tin cho chị H2 như đã nói.
Bị hại là chị Ngô Thị H1 yêu cầu bị cáo phải trả cho chị số tiền 92.000.000 đồng. Khi vay tiền tại ngân hàng, giữa chị và Á có thỏa thuận với nhau về việc trích chi phí khoản vay. Việc này là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Số tiền này, anh Ánh đã trả lại cho chị. Chị không yêu cầu gì đối với anh Ánh.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Mẫn Văn Á: Anh Ánh không biết việc bị cáo Q lừa đảo chiếm đoạt tiền của chị H1. Khi bị cáo Q nhờ anh liên hệ vay tiền ngân hàng V, mọi thủ tục là do anh G thực hiện. Anh chỉ thỏa thuận với chị H1 về việc trích chi phí khoản vay. Việc này hoàn toàn tự nguyện. Khoản tiền này, anh đã trả cho chị H1. Anh không có yêu cầu gì.
Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của
2
bị cáo cũng như xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Q từ 42 đến 48 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 11/6/2024. Miễn phạt bổ sung.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 585 và Điều 589 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo phải bồi thường cho chị H1 92.000.000 đồng.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 sim điện thoại số 0971.280.xxx. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại Samsung Galaxy S215G. Lưu trong hồ sơ vụ án đĩa DVD hỏi cung bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án là đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản người phạm tội đầu thú và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án xác định: Nguyễn Văn Q đã có hành vi gian dối chiếm đoạt số tiền 92.000.000 đồng của chị Ngô Thị H1. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã truy tố.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an ở địa phương, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân nên cần phải xử lý nghiêm các bị cáo theo quy định của Bộ luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
3
Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã bị xét xử về tội trộm cắp tài đã xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Điều này chứng tỏ bị cáo là người khó giáo dục, cải tạo, không tu chí làm ăn. Sau khi phạm tội, bị cáo đã đến Công an đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt tiền của chị H1 4 lần, mỗi lần số tiền đều bằng hoặc hơn 8.000.000 đồng nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội từ 2 lần trở lên được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5] Sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 92.000.000 đồng. Xét thấy, yêu cầu này là chính đáng và phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Buộc bị cáo Q phải bồi thường cho Ngô Thị H1 92.000.000 đồng.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
[7] Về vật chứng:
Sim điện thoại 0971.280.xxx không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
01 điện thoại Samsung Galaxy S215G bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Liên quan trong vụ án này có Mẫn Văn Á, Lê Văn G được Q nhờ giúp chị H1 làm thủ tục vay tiền tại ngân hàng V nhưng không biết và Q không nói cho họ biết mục đích Q vay tiền để sau đó chiếm đoạt tiền của chị H1. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y không xem xét, xử lý là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47; Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 329, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 42 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 11/6/2024.
4
giữ, tạm giam 11/6/2024.
- Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- Bị cáo phải bồi thường cho chị Ngô Thị H1 92.000.000 đồng. Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Tịch thu tiêu hủy 01 sim điện thoại số 0971.280.xxx. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại Samsung Galaxy S215G.
- Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 4.600.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt bản án hợp lệ.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Thanh |
5
Bản án số 171/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH về hình sự sơ thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 171/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Q lừa đảo chiếm đoạt tài sản
