Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN TÂN BÌNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 171/2024/HS-ST

Ngày: 25-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Út.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Minh Phượng

2. Ông Phan Phục

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Trúc Quỳnh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Tố Trinh – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 19 và ngày 25 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 161/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 299/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Mai Thị Lệ S, sinh năm 1976 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: A, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: A, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: nữ; tôn giáo: không; con ông: Mai Văn R năm 1950 và con bà: Nguyễn Thị Q năm 1950; chồng: Trương Văn Đ năm 1964; con: có 05 con, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2006.

    Tiền án, tiền sự: không.

    Tạm giữ, tạm giam: Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.

  2. Trương Công B, sinh năm 1978 tại Long An; nơi đăng ký thường trú: khu phố B, thị trấn V, huyện V, tỉnh Long An; nơi cư trú: Ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông: Trương Công R1, sinh năm 1952 (đã chết) và con bà: Nguyễn Thị M, sinh năm 1952; vợ: Nguyễn Thị H năm 1983; con: 03 người, lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2005.

    Tiền án, tiền sự: không.

    Tạm giữ, tạm giam: Từ ngày 18/01/2024 đến nay.

  3. Phạm Như H1, sinh năm 1985 tại Thái Nguyên; nơi đăng ký thường trú: tổ H, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; nơi cư trú: không nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: nhân viên bảo vệ; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: nam; tôn giáo: Không; con ông: Phạm N H2sinh năm 1950 và con bà: Vũ Thị H3sinh năm 1955; vợ, con: không có;

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Ngày 21/3/2006, H1bị Tòa án nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 23/2006/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/8/2006, đã đóng án phí.

    Tạm giữ, tạm giam: Từ ngày 18/01/2024 đến nay.

  4. Lê Văn Q1, sinh năm 2001 tại Khánh Hòa; nơi đăng ký thường trú: Tổ D, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nơi cư trú: 1 N, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Quản lý Spa; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: nam; tôn giáo: Không; con ông: Lê Bảo C năm 1972 (đã chết) và con bà: Lê Thị P năm 1972; vợ, con: không có;

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Tạm giữ, tạm giam: Từ ngày 18/01/2024 đến nay.

  5. Trần Văn C1, sinh năm 1972 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: E T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: E T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông: Trần Văn C2, đã chết và con bà: Đặng Thị V chết; vợ, con: Không có; tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Ngày 08/6/1999, C1bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 13 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo Bản án số 1077/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/9/2008, đã đóng án phí.

    Tạm giữ, tạm giam: từ ngày 18/01/2024 đến nay.

  6. Nguyễn Văn H2, sinh năm 1979 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: F12/28 ấp F, xã V, huyện B, Thành phố H cư trú: F12/28 ấp F, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Văn H3, đã chết và con bà: Nguyễn Thị G, sinh năm 1924 (đã chết); vợ: Lê Thị T C3sinh năm 1978; con có 03 con, lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2003.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Tạm giữ, tạm giam: từ ngày 18/01/2024 đến ngày 29/01/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.

  7. Trần Xuân H4, sinh năm 1973 tại Bình Thuận; nơi đăng ký thường trú: Tổ G, khu phố H, xã P, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; nơi cư trú: H, ấp M, xã T, huyện H, Thành phố H nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; con ông: Trần Văn T1, sinh năm 1934 và con bà Trần Thị H5, sinh năm 1934; vợ, con: không có;

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Tạm giữ, tạm giam: từ ngày 18/01/2024 đến nay.

  8. Vòng Dịch Q2, sinh năm 1961 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: 7 Đường số D, Phường A, quận T, Thành phố H cư trú: 133/9 T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Hoa; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: nam; tôn giáo: Phật giáo; con ông: Vòng Giàu, đã chết và con bà: Chu Ngọc B1, đã chết; vợ: Đỗ Thị T2 H8sinh năm 1967 (đã ly hôn năm 2001), con: có 01 con sinh năm 1990.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Tạm giữ, tạm giam: Từ ngày 18/01/2024 đến ngày 29/01/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.

(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Long T3, sinh năm 1993.

    Địa chỉ: Căn hộ A, đường số A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

  2. Bà Trần Nghiêm Thùy L, sinh năm 1982.

    Địa chỉ: C L, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 50 phút ngày 09/01/2024, Tổ công tác do Đ1 Công an quận T Công an P1quận Ttiến hành kiểm tra quán C5tại địa chỉ số A, phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minhdo M chủ, phát hiện tại 03 chòi lá của quán Cà phê có các đối tượng đang đánh bạc dưới hình thức đánh “bài Tây” thắng thua bằng tiền, cụ thể:

  • -Chòi số 1 gồm: Lê Văn B2Trịnh Xuân S Hữu T2Phạm M đánh bạc dưới hình thức đánh bài “Phỏm”, thu giữ: 01 bộ “bài Tây” loại 52 lá và 1.940.000 đồng (các đối tượng sử dụng để đánh bạc);

  • -Chòi số 2 gồm: Tô Thành T Đình T Thanh T Đ đánh bạc dưới hình thức đánh bài “Phỏm”, thu giữ: 01 bộ “bài Tây” loại 52 lá và 1.860.000 đồng (các đối tượng sử dụng để đánh bạc);

  • -Chòi số 3 gồm: Lê Văn Q1Phạm Như H Xuân H Công BTrần Văn C V H4và Vòng Dịch Quắn đang đánh bạc dưới hình thức đánh bài “Binh Ấn Độ”, thu giữ: 01 bộ “bài Tây” loại 52 lá, tổng số tiền 25.440.000 đồng.

Đối với các đối tượng tham gia đánh bạc tại chòi số 1 và chòi số 2, do số tiền sử dụng đánh bạc không đủ định lượng, xác minh các đối tượng chưa bị xử phạt hành chính hoặc kết án về hành vi đánh bạc, Công an P1ra Quyết định xử phạt hành chính các đối tượng và xử lý tài sản, đồ vật liên quan.

Đối với hành vi đánh bạc của Lê Văn Q2 Như H1Trần Xuân H Công BTrần Văn C V Vòng D số tiền đánh bạc bị bắt quả tang như nêu trên, đủ cơ sở để khởi tố về tội “Đánh bạc”. Quá trình điều tra xác định:

Khoảng 11 giờ 40 phút ngày 18/01/2024, Trương Công B1 quán Cà phê “Tham Lương” tại địa chỉ số A, Phường A, quận T chủ, để uống Cà phê. Tại đây, Bgặp Phạm N1 H1nên đã rủ H1đánh bài ăn tiền dưới dạng chơi “Binh Ấn Độ”, H1đồng ý. Sau đó, B1 quầy bán nước gặp Smua 01 bộ “bài Tây” 52 lá với giá 10.000 đồng để đánh bạc với H1Khi H1và Bđang chơi thì có L Xuân H Văn C1Nguyễn V H4và Vòng D1Quắn đến và cùng tham gia đánh bạc. Q1đứng ra làm cái, cách thức đánh bạc như sau: 01 bộ “bài Tây” 52 lá được chia làm các tụ, mỗi tụ gồm 06 lá bài, mỗi người chơi có thể chọn 01 tụ đến 02 tụ, mỗi tụ đặt từ 20.000 đồng đến tối đa 150.000 đồng, người chơi xếp 06 lá bài thành cây bài trên – dưới để tính điểm và so sánh điểm trực tiếp với người làm cái. Nếu người chơi có số điểm lớn hơn người làm cái thì thắng số tiền đã đặt và ngược lại. Đến khoảng 14 giờ 50 phút cùng ngày, khi cả nhóm đang chơi thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt quả tang về hành vi đánh bạc như đã nêu trên.

Số tiền các đối tượng sử dụng để đánh bạc được xác định như sau:

  • -Lê Văn Q117.000.000 đồng gồm 1.680.000 đồng thu trên chiếu bạc, 13.550.000 đồng thu trên người Q1đã bị thua 1.770.000 đồng;

  • -Trương Công B110.000 đồng gồm 50.000 đồng thu trên chiếu bạc, đã bị thua 60.000 đồng;

  • -Trần Văn C1350.000 đồng, gồm 50.000 đồng thu trên chiếu bạc; đã thua 300.000 đồng;

  • -Nguyễn Văn H41.500.000 đồng gồm 50.000 đồng thu trên chiếu bạc, 1.310.000 đồng thu trên người Hùng, đã thua 140.000 đồng;

  • -Phạm Như H13.400.000 đồng, thu giữ trong người Hưng 3.850.000 đồng (trong đó 450.000 đồng là tiền thắng bạc);

  • -Trần Xuân H63.050.000 đồng, gồm 50.000 đồng thu trên chiếu bạc, 2.750.000 đồng thu trên người Hóđã thua 250.000 đồng;

  • -Vòng Dịch Quắn: 2.150.000 đồng, gồm 50.000 đồng thu trên chiếu bạc, 2.000.000 đồng thu trên người Quắn, đã thua 100.000 đồng;

Đối với Mai Thị Lệ S1 trình điều tra xác định hành vi “gá bạc” như sau: Vào sáng ngày 18/01/2024, S2 bán 03 bộ “bài Tây” loại 52 lá cho các đối tượng và các bị can trên với giá 10.000 đồng/bộ (thu lợi để đánh bạc ăn tiền tại 03 chòi trong quán cà phê “Tham Lương”. Sương bán bài và đồng ý cho khách sử dụng địa điểm quán cà phê T4 đánh bạc dưới hình thức đánh bài ăn tiền nhằm mục đích thu hút khách hàng, tăng doanh thu bán mặt hàng nước giải khát cho khách đánh bạc để thu lợi, ngoài ra, S3 thu tiền xâu hay tiền mặt bằng của khách chơi đánh bạc.

Vật chứng thu giữ:

  • - Thu giữ trên chiếu bạc: 01 bộ “bài Tây” loại 52 lá; Số tiền 1.980.000 đồng (Nhập kho vật chứng);

  • - Thu giữ của Lê Văn Q3 tiền 13.550.000 đồng, Q1sử dụng để đánh bạc; 01 xe mô tô hiệu Vision biển số 86B6-264.85 của ông Nguyễn L1 T1cho Q1mượn sử dụng, ông T1không biết Q1sử dụng xe máy để đi đánh bạc (nhập kho vật chứng); 01 điện thoại di động hiệu Iphone XR 128GB (Đã trả lại cho Lê Văn Q1

  • - Thu giữ của Phạm N1 H1Số tiền 3.850.000 đồng, H1sử dụng để đánh bạc; 01 xe mô tô hiệu Wave 110s biển số 59C2-214.54, qua xác minh, xác định xe máy trên là của Phạm Như H(nhập kho vật chứng); 01 điện thoại di động hiệu OPPO A5s là tài sản cá nhân của H1không liên quan đến vụ án (Đã trả lại cho Phạm N1 H1

  • - Thu giữ của Vòng D Q3số tiền 2.000.000 đồng, Q3sử dụng để đánh bạc; 01 xe mô tô hiệu Airblade biển số 59P1-858.34 của Q3(nhập kho vật chứng); 01 điện thoại di động hiệu Vsmart (Đã trả lại cho V1Dịch Quắn);

  • - Thu giữ của Nguyễn Văn H6 tiền 1.310.000 đồng, H4sử dụng để đánh bạc; 01 xe mô tô hiệu Honda Dream biển số 52N1-3346 qua xác minh của bà Nguyễn Thị C3 mẹ ruột của H4để lại cho H4sau khi chết (nhập kho vật chứng); 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen model TA-1034, 01 điện thoại di động hiệu S2(Đã trả lại cho Nguyễn Văn H2

  • - Thu giữ của Trần Xuân H7 tiền 2.750.000 đồng, H6sử dụng để đánh bạc; 01 xe máy hiệu Honda Wave biển số 86B6-016.91, qua xác minh xác định, xe máy trên là tài sản của H6(nhập kho vật chứng); 01 điện thoại di động hiệu OPPO Reno 7Z5G 128GB (Đã trả lại cho Trần Xuân H6

Tại bản Cáo trạng số 160/CT-VKS ngày 06 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố các bị cáo:

L Xuân H Như H Dịch Q Văn H4Trần V C1và Trương Công B về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Mai Thị Lệ S4 tội “Gá bạc” theo quy định tại điểm b, c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Trong phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình nêu tóm tắt nội dung vụ án, các nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đồng thời, nêu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt các bị cáo:

Bị cáo Mai Thị Lệ S phạm tội “Gá bạc”, đề nghị xử phạt bị cáo 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 năm đến 05 năm kể từ ngày tuyên án.

Các bị cáo Lê Văn Q2 Như H1Trần Xuân H Công BTrần Văn C Văn H4Vòng D1Quắn phạm tội “Đánh bạc”.

Đề nghị xử lý đối với các bị cáo như sau:

  • Bị cáo Lê Văn Q1 từ 15 đến 18 tháng tù.

  • Bị cáo Phạm N1 H1 từ 09 đến 12 tháng tù

  • Bị cáo Trần Xuân H4 từ 09 đến 12 tháng tù

  • Bị cáo Trương Công B từ 09 đến 12 tháng tù

  • Bị cáo Trần Văn C1 từ 09 đến 12 tháng tù

  • Bị cáo Nguyễn Văn H2 từ 12 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng.

  • Bị cáo Vòng Dịch Q3 phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Về vật chứng thì đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, không tranh luận, bào chữa bổ sung mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình, làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố các bị cáo Mai Thị L2 SLê Văn Q1 Trần Xuân H Như H Dịch Q Văn H4Trần V C1và Trương Công B, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T6, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình được phân công điều tra giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; các bị cáo không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội: Xét thấy lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với Bản kết luận điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Bản cáo trạng của Viện kiểm sát cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 09/01/2024, tại quán Cà phê “Tham Lương”, địa chỉ số A, phường A, quận T bị cáo Mai Thị Lệ S5 chủ, các bị cáo Lê Văn Q1Trần X H6Phạm Như H1Vòng Dịch Q Văn H Văn C1Trương C đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức chơi bài “Binh Ấn Độ” thắng thua bằng tiền, với tổng số tiền xác định được là 25.440.000 đồng. Hành vi của các bị cáo Lê Văn Q1Trần X H6Phạm Như H1Vòng Dịch Q3Nguyễn Văn H4Trần Văn C1và Trương Công B đã phạm vào tội “Đánh bạc”, thuộc trường hợp “được thu bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị cáo Mai Thị Lệ S6 có hành vi sử dụng địa điểm do mình làm chủ, đồng ý cho 07 bị cáo và các đối tượng khác đánh bài thắng thua bằng tiền, với 03 chiếu bạc cùng một lúc, tổng số tiền đánh bạc là 29.240.000 đồng, bị cáo S7 bài và bán nước phục vụ cho việc đánh bài của các con bạc nhằm tăng doanh thu cho quán để thu lợi cá nhân, bị cáo không được hưởng lợi từ việc đánh bạc của các con bạc. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gá bạc” phạt được quy định tại điểm b, c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017

Hành vi nêu trên của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội trực tiếp xâm phạm đến lĩnh vực trật tự công cộng được nhà nước bảo hộ, đồng thời làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo là người đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi đánh bạc và gá bạc nhằm tạo ra thu nhập bất chính bị pháp luật nghiêm cấm nhưng các bị cáo cố ý thực hiện. Do đó, hành vi trái pháp luật của các bị cáo cần xử lý nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra.

Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết áp dụng hình phạt nghiêm nhằm mục đích cải tạo, giáo dục các bị cáo từ bỏ con đường phạm pháp; đồng thời, có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

Đối với các đối tượng Lê Văn B2 Xuân S Hữu T Minh KTô Thành T Đình T Thanh T5Võ Đ do số tiền tham gia đánh bạc ngày 09/01/2024 chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, Công an P1 ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính các đối tượng này là có căn cứ.

[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Đối với bị cáo Mai Thị L2 SHội đồng xét xử xem xét quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là chủ cơ sở kinh doanh quán C5có thuê nhân công lao động để làm việc, có tạo được công việc và thu nhập cho gia đình nên được xem là lao động chính để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo theo quy định tại s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đối với các bị cáo Lê Văn Q4 Xuân H Văn H, Vòng DTrương Công B, Hội đồng xét xử xem xét quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo Nguyễn Văn H8 lao động chính trong gia đình để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đối với bị cáo Vòng D Q3trên 60 tuổi, mắc nhiều bệnh nền có hoàn cảnh khó khăn để giảm nhẹ một phần hình phạt khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đối với bị cáo Trần Văn C4 Như H1, Hội đồng xét xử xem xét quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuy nhiên, khi xem xét hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét đến vai trò, mức độ của từng bị cáo, cụ thể: Bị cáo Lê Văn Q5 vai trò cầm đầu, là người cầm cái và chơi bài với số tiền nhiều nhất nên phải chịu hình phạt cao hơn các bị cáo khác. Bị cáo Trần X1 H6Nguyễn V1 H4có vai trò là người chơi bạc, số tiền chơi bạc ít. Trong thời gian tại ngoại bị cáo H4chấp hành pháp luật tốt, không vi phạm gì, bị cáo H4có nơi cư trú rõ ràng nên không cần phải áp dụng hình phạt tù mà áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe đối với bị cáo. Bị cáo Mai Thị Lệ S8 nơi cư trú rõ ràng, trong thời gian tại ngoại bị cáo S9 hành pháp luật tốt, không vi phạm gì, là lao động chính nên không cần phải áp dụng dụng hình phạt tù mà áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe đối với bị cáo. Bị cáo Vòng D Q3có nhân thân tốt, trong thời gian tại ngoại bị cáo chấp hành pháp luật tốt, có nhiều bệnh nền nên áp dụng hình phạt tiền cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo. Các bị cáo Trần Văn C4 Như H1có nhân thân xấu nên phải chịu hình phạt cao hơn các bị cáo H4H6Q3BQ3Do đó, đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng đối với các bị cáo.

[6] Về số tiền thu lợi bất chính: Các bị cáo đều thua nên không có tiền thu lợi bất chính. Do đó, không có căn cứ để buộc các bị cáo phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính.

[7] Về vật chứng vụ án:

  • - Đối với 01 (một) bộ “bài Tây” loại 52, là tang vật sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, tiêu hủy.

  • - Đối với số tiền thu giữ trên chiếu bạc 1.980.000 đồng là tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc nên Hội đồng xét xử tịch thu sung quỹ Nhà nước.

  • - Đối với số tiền 13.550.000 đồng thu giữ của bị cáo Lê Văn Q6 điều tra xác định bị cáo Q1 sử dụng để đánh bạc nên Hội đồng xét xử tịch thu sung quỹ Nhà nước.

  • - Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Vision biển số 86B6-264.85, số máy: JF58E0812126, số khung: RLHJF580XEY812063 thu giữ của bị cáo Lê Văn Q1. Qua xác minh xe đứng tên của ông Nguyễn Long T3, ông T1khai cho bị cáo Q1mượn sử dụng, ông T1không biết Q1sử dụng xe máy để đi đánh bạc nên Hội đồng xét xử trả lại xe cho ông T3.

  • - Đối với số tiền 3.850.000 đồng thu giữ của bị cáo Phạm N1 H1. Qua điều tra xác định bị cáo H1sử dụng để đánh bạc nên Hội đồng xét xử tịch thu sung quỹ Nhà nước.

  • - Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Wave 110s màu đỏ, biển số 59C2-214.54, số máy: 150FM96002788, số khung: VTTDCHOA4TT147996, thu giữ của bị cáo Phạm N1 H1. Qua xác minh xe đứng tên của bà Trần Nghiêm Thùy Lbà L3 đã bán xe máy này cho người khác (không nhớ rõ họ tên, địa chỉ) năm 2019, chưa làm thủ tục sang tên. Bị cáo H1khai mượn xe từ một người không rõ lai lịch. Hội đồng xét xử xét thấy xe gắn máy trên có nguồn gốc chưa rõ ràng, cần giao Chi cục thi hành án dân sự quận T báo tìm chủ sở hữu trong một thời gian nhất định, quá thời hạn không có ai đến nhận thì lập thủ tục nộp ngân sách Nhà nước là phù hợp với qui định tại khoản 2 Điều 228 Bộ luật dân sự năm 2015 và khoản 4 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

  • - Đối với số tiền 2.000.000 đồng thu giữ của bị cáo Vòng D Q3. Qua điều tra xác định bị cáo Q3sử dụng để đánh bạc nên Hội đồng xét xử tịch thu sung quỹ Nhà nước.

  • - Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Airblade biển số 59P1-858.34 Airblade màu nâu đen, biển số 59P1-858.34, số máy JF46E-4213110, số khung không rõ, đứng tên bị cáo Vòng D Q3. Xét bị cáo không sử dụng xe này vào việc đánh bạc nên Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo Q7 nhiên do bị cáo phải nộp phạt nên tạm thời giữ lại để đảm bảo thi hành án.

  • - Đối với số tiền 1.310.000 đồng thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn H2. Qua điều tra xác định bị cáo H2 sử dụng để đánh bạc nên Hội đồng xét xử tịch thu sung quỹ Nhà nước.

  • - Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Dream biển số: 52N1-3346, số máy: 0465050, số khung 0465050 thu giữ của Nguyễn Văn H2. Qua xác minh xe đứng tên bà Nguyễn Thị G1 năm 1941 là mẹ ruột của bị cáo H2. Bà G2 ngày 22/6/2019. Bị cáo H4khai xe này do mẹ để lại cho H4sử dụng từ khi mất đến nay. Làm việc với những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà G3 định, chồng bà G4 ông Nguyễn Văn H9 năm 2009, có 05 người con, tất cả các anh em của bị cáo H4đều thống nhất xe này thuộc quyền sở hữu của bị cáo H4không tranh chấp. Xét bị cáo không sử dụng xe này vào việc đánh bạc nên Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo H2

  • - Đối với số tiền 2.750.000 đồng thu giữ của bị cáo Trần Xuân H4. Qua điều tra xác định bị cáo H4 sử dụng để đánh bạc nên Hội đồng xét xử tịch thu sung quỹ Nhà nước.

  • - Đối với 01 (một) xe gắn máy hiệu Honda Wave, biển số 86B6-016.91 màu đen, có số khung: RLHUG4323BY619597, số máy: UC43E6071821 thu giữ của bị cáo Trần Xuân H4. Qua xác minh xe máy đứng tên ông Trần X1 H9sinh năm 1968, là anh ruột của bị cáo H6Ông H9chết ngày 29/12/2018. Làm việc với những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông H9xác định, ông H9không có vợ con, cha của ông H9là ông Trần Văn T5 chết ngày 16/3/2024, mẹ là bà Trần Thị H10 năm 1937. Bà H7và bị cáo H6đều thống nhất khai xe máy này do ông H9trước khi chết cho em trai quản lý sử dụng, không có tranh chấp. Xét bị cáo không sử dụng xe này vào việc đánh bạc nên Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo H4

[8] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo Lê Văn Q1Trần X H6Trương Công B;

Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Vòng D Q3

Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Văn H2

Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Phạm N1 H1, Trần Văn C1;

Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Mai Thị Lệ S;

Căn cứ Điều 106, Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Điều 26 của Luật thi hành án dân sự;

Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

[1] Tuyên bố các bị cáo Lê Văn Q1Trần X H6Phạm Như H1Vòng Dịch Q3Nguyễn Văn H4Trần Văn C1và Trương Công Bphạm tội “Đánh bạc”.

  1. Xử phạt bị cáo Lê Văn Q1 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/01/2024.

  2. Xử phạt bị cáo Phạm N1 H1 10 (mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/01/2024.

  3. Xử phạt bị cáo Trần Xuân H4 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/01/2024.

  4. Xử phạt bị cáo Trương Công B 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/01/2024.

  5. Xử phạt bị cáo Trần Văn C1 10 (mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/01/2024.

  6. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H2 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm.

    Giao bị cáo cho Ủy ban nhân xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

  7. Xử phạt bị cáo V1Dịch Quắn 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.

[2] Tuyên bố bị cáo Mai Thị Lệ S10 tội “Gá bạc”

Xử phạt bị cáo Mai Thị L2 S02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Mai Thị Lệ S11 Ủy ban nhân dân phường A, Thành phố H sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

[2] Về hình phạt bổ sung: Không.

[3] Về vật chứng:

  • Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: Số tiền 25.440.000 (hai mươi lăm triệu bốn trăm bốn mươi ngàn) đồng.

  • Tịch thu, tiêu hủy: 01 bộ bài tây loại 52 lá

  • Trả lại cho ông Nguyễn Long T3: 01 xe mô tô hiệu Vision biển số 86B8-264.85 số máy, JF58E0812126, số khung: RLHJF580XEY812063.

  • Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H2: 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Dream biển số: 52N1-3346, số máy: 0465050, số khung 0465050.

  • Trả lại cho bị cáo Trần Xuân H4: 01 (một) xe gắn máy hiệu Honda Wave, biển số 86B6-016.91 màu đen, có số khung: RLHUG4323BY619597, số máy: UC43E6071821.

  • Trả lại cho bị cáo V1Dịch Quắn 01 (một) xe mô tô hiệu Airblade biển số 59P1-858.34 Airblade màu nâu đen, biển số 59P1-858.34, số máy JF46E-4213110, số khung: Không rõ. Tuy nhiên do bị cáo phải nộp phạt nên tạm thời giữ lại để đảm bảo thi hành án.

  • Giao Chi cục thi hành án dân sự quận T báo tìm chủ sở hữu: 01 (một) xe mô tô hiệu Wave 110s màu đỏ, biển số 59C2-214.54, số máy: 150FM96002788, số khung: VTTDCHOA4TT147996 trong thời gian 06 (sáu) tháng, quá thời hạn trên không có ai đến nhận thì lập thủ tục nộp ngân sách Nhà nước.

(Theo Biên bản về việc giao vật chứng, tài sản vật chứng số 188/BB/2024 ngày 13/9/2024 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra quận T, Thành phố Hồ Chí Minh và Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh).

[3] Về án phí:

Các bị cáo Mai Thị L2 S, Lê Văn Q1, Trần Xuân H, Như H Dịch Q Văn H Văn C1và Trương Công B, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo:

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014). Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo; người liên quan;
  • - Công an quận Tân Bình;
  • - VKSND quận Tân Bình;
  • - Chi cục THADS quận Tân Bình;
  • - TAND, VKSND TP. Hồ Chí Minh;
  • - Phòng HSNVCS CA TP. Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hồng Út

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 171/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự về tội đánh bạc và gá bạc

  • Số bản án: 171/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Đánh bạc và Gá bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 14 giờ 50 phút ngày 09/01/2024, Tổ công tác do Đ1 Công an quận T Công an P1quận Ttiến hành kiểm tra quán C5tại địa chỉ số A, phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minhdo M chủ, phát hiện tại 03 chòi lá của quán Cà phê có các đối tượng đang đánh bạc dưới hình thức đánh “bài Tây” thắng thua bằng tiền.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger