Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 171/2023/HS-PT

Ngày: 24-10-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ong Thân Thắng.

Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Hà.

Ông Nguyễn Việt Hùng.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Yến Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Diễm Hạnh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24/10/2023 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 227/2023/TLPT-HS ngày 04/8/2023 đối với bị cáo Bùi Minh H1 do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 26/2023/HSST ngày 30/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.

* Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Bùi Minh H1, sinh năm 1980

Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố Tân Tiến, thị trấn Bố Hạ, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang;

Chỗ ở: Tổ dân phố Thống Nhất, thị trấn Bố Hạ, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang;

Quốc tịch: Việt Nam;Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 4/12; Nghề nghiệp: Tự do; Chức vụ: Không có; Bố đẻ: Bùi Văn T, sinh năm 1954; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1957; Vợ: Sầm Thị N, sinh năm 1984; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2011; Gia đình có 4 chị em, bị cáo là con thứ hai. Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 13/01/2014, bị Công an huyện Y ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/02/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt tại phiên tòa)

* Người tham gia tố tụng khác:

  1. Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Văn T1 - Luật sư Văn phòng L2 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B. (có mặt)
  2. Bị hại: Anh Trần Quang H2, sinh năm 1989 ( vắng mặt)
    Nơi cư trú: tổ dân phố T, thị trấn B, Y, Bắc Giang.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    Anh Nguyễn Thanh T2, sinh năm 1990 (vắng mặt)
    Nơi cư trú: Tổ dân phố Đồng Lều, thị trấn Bố Hạ, huyện Yên Thế, Bắc Giang
  4. Người làm chứng:
    • - Chị Lê Thị G, sinh năm 1991 (vắng mặt)
      Nơi cư trú: TDP Đ, thị trấn B, huyện Y, Bắc Giang
    • - Chị Bùi Thị Thu H3, sinh năm 1987 (vắng mặt)
      Nơi cư trú: tổ dân phố T, thị trấn B, huyện Y, Bắc Giang
    • - Anh Trần Quang L1, sinh năm 1983 (vắng mặt)
    • - Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1980 (vắng mặt)
      Đều cư trú: tổ dân phố Đ, thị trấn B, Y, Bắc Giang
    • - Anh Trần Mạnh C, sinh năm 1988 (vắng mặt)
      Nơi cư trú: tổ dân phố H, thị trấn B, huyện Y, Bắc Giang
    • - Ông Đỗ Danh Đ, sinh năm 1960 (vắng mặt)
      Nơi cư trú: tổ dân phố Đ, thị trấn B, Y, Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 01/10/2022, anh Trần Quang H2, sinh năm 1989 ở tổ dân phố T, thị trấn B, huyện Y điều khiển xe mô tô đến quán bán nước "Hiền Béo" ở tổ dân phố Đ, thị trấn B, huyện Y. Quán nước là của chị Bùi Thị Thu H3, sinh năm 1987 ở tổ dân phố T, thị trấn B. Khi đến quán, anh H2 thấy Bùi Minh H1, sinh năm 1980 ở tổ dân phố T, thị trấn B, huyện Y (là anh trai của chị H3) đang trông quán hộ. Do có mâu thuẫn cãi nhau với H1 từ sáng nên anh H2 điều khiển xe về nhà lấy 01 con dao, loại dao nhọn dài khoảng 40 cm, lưỡi dao chỗ rộng nhất khoảng 5cm quấn trong chiếc áo cũ màu trắng mang ra gài ở giá để hàng phía trước xe mô mô rồi điều khiển xe quay lại quán "Hiền Béo", mục đích để đánh H1. Khi đến nơi, anh H2 đỗ xe bên ngoài, cách lối vào quán khoảng 30m thì gặp chị Lê Thị G, sinh năm 1991 ở tổ dân phố Đ, thị trấn B, huyện Y đi bộ đến quán để mua thuốc lá. Chị G hỏi anh H2 đi đâu và rủ sang quán C2 uống nước thì anh H2 trả lời "tao không đi, tao vào gặp thằng H1 béo nói chuyện xem làm sao sáng nay nó chửi tao". Lúc này chị G nhìn thấy ở giá để hàng phía trước xe mô tô của anh H2 có gài 01 vật được quấn trong chiếc áo cũ màu trắng nhưng không biết đó là gì, sau đó chị G đi vào trong quán, còn anh H2 ở bên ngoài. Khi vào trong quán, chị G thấy H1 đang ngồi uống nước ở bàn cùng với anh Trần Quang L1, sinh năm 1983, anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1980 đều ở tổ dân phố Đ, thị trấn B, anh Trần Mạnh C, sinh năm 1988 ở tổ dân phố H, thị trấn B, còn ông Đỗ Danh Đ, sinh năm 1960 ở tổ dân phố Đ, thị trấn B ngồi một mình một bàn ở gần với bàn của H1. Chị G đi đến chỗ H1 nói với H1 là "anh với thằng H2 khoèo làm sao mà nó mang đồ xuống định đánh anh" thì H1 trả lời "có xích mích gì đâu". Sau khi nghe chị G nói vậy, H1 đứng dậy đi ra phía cửa quán nhìn về phía anh H2 và nói "mày vào đây nói chuyện xem nào" thì anh H2 đi vào. Vừa đi vào vừa tháo chiếc áo cũ màu trắng gói con dao, để lộ ra bên trong con dao nhọn. Thấy anh H2 cầm dao, H1 quay lại phía cuối quán nước nhặt 01 đoạn gậy gỗ, hình tròn bằng tay phải quay lại chỗ anh H2. Lúc này tay phải anh H2 cầm con dao nhọn đứng đối diện với H1, cách khoảng 03 đến 04 mét (ở giữa anh H2 và H1 là 01 chiếc bàn nhựa uống nước). Giữa anh H2 và H1 xảy ra cãi chửi nhau một lúc thì anh H2 cầm dao giơ về phía trước đi vòng sang bên phải chiếc bàn nhựa (theo hướng đứng của anh H2) để tiến đến vị trí của H1 để đánh. Thấy vậy chị G đang đứng ở gần đó chạy đến dùng hai tay kéo vạt áo phía sau bên dưới của anh H2 để can ngăn làm anh H2 bị hẫng đà nên người nghiêng sang bên phải. Lúc này H1 lao đến phía bên trái cách anh H2 khoảng 02m dùng gậy gỗ vụt 01 phát trúng vào khủy tay trái anh H2 làm gậy gỗ gây thành 02 đoạn. Ngay sau đó, H1 bỏ chạy ra ngoài đường, anh H2 cầm dao đuổi theo phía sau H1 nhưng không đuổi được do H1 đã chạy vào nhà dân bên đường phía đối diện quán nước đóng cửa lại. Do không đuổi được H1 nên anh H2 cầm dao gài lại vào giá để hàng phía trước xe mô tô rồi đi về. Sau khi bị đánh, anh H2 đã đến Trung tâm y tế huyện Y chụp X-Q. Kết quả: Hình ảnh mất liên tục màng xương, vị trí mỏm khuỷu trái. Anh H2 đã đến Bệnh viện đa khoa tỉnh B nhập viện điều trị từ ngày 02/10/2022 đến ngày 07/10/2022 thì ra viện về nhà (bút lục 76-165).

Ngay sau khi sự việc xảy ra, hồi 21 giờ 30 phút ngày 01/10/2022, Công an thị trấn B đã đến lập biên bản sự việc và thu giữ tại hiện trường: 02 đoạn gậy gỗ gồm: 01 đoạn có đường kính 04cm, dài 35,8cm, một đầu cắt vát, một đầu gãy nham nhở, 01 đoạn gỗ có đường kính 4cm, dài 58cm, 02 đầu gẫy nham nhở. Ngày 07/10/2022, Công an thị trấn B đã chuyển toàn bộ hồ sơ cùng vật chứng trên đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y (75, 186).

Ngày 22/10/2022, anh H2 có đơn đề nghị giám định thương tích. Tại giấy chứng nhận thương tích ngày 02/11/2022 của Bệnh viện đa khoa tỉnh B xác định: Tình trạng thương tích lúc vào viện ngày 02/10/2022: Đau, hạn chế vận động khuỷu tay trái, X-Q: Hình ảnh gãy mỏm khuỷu tay trái, xưng phần mềm vùng khuỷu tay trái (bút lục (bút lục 98, 278).

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 1079/22/TgT ngày 29/11/2022 của Trung tâm pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận:

  1. Dấu hiệu chính qua giám định: Thương tích vết sẹo mổ khuỷu tay trái kích thước trung bình + Xquang khuỷu tay trái. Hình ảnh vỡ mỏm khuỷu trái, đã điều trị kết hợp xương, can tốt: 12%.
  2. Kết luận: Căn cứ bảng tỷ lệ tổn thương cơ thể ban hành kèm theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 12% (mười hai phần trăm);
  3. Kết luận khác: Vật, cơ chế, chiều hướng, lực tác động: Thương tích do vật tày gây nên, không xác định được chiều hướng gây thương tích, lực tác động mạnh (bút lục 29,30).

Tại bản kết luận giám định bổ sung số: 1283/23/KLBSHS-PY ngày 17/3/2023 của Trung tâm pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận:

  • - Tình huống bị can Bùi Minh H1 gây thương tích cho anh Trần Quang H2 theo lời trình bày của Bùi Minh H1 gây được thương tích vỡ mỏm khuỷu tay trái của anh H2.
  • - Tình huống bị can Bùi Minh H1 gây thương tích cho anh Trần Quang H2 theo lời trình bày của anh H2 gây được thương tích vỡ mỏm khuỷu tay trái của anh H2.
  • - Tình huống bị can Bùi Minh H1 gây thương tích cho anh Trần Quang H2 theo lời trình bày của chị Lê Thị G không gây được thương tích vỡ mỏm khuỷu tay trái của anh H2.
  • - Hai đoạn gậy gỗ gửi giám định là vật tày (bút lục 33, 34).

Tại Cơ quan điều tra, ban đầu H1 khai: Khi thấy anh H2 cầm dao đi về phía H1 thì H1 đã chạy về phía cuối quán nước nhặt 01 đoạn gậy gỗ cầm bằng tay phải quay lại đứng đối diện, cách anh H2 khoảng 04-05 mét mục đích là để xem anh H2 có dám đánh H1 hay không. Khi H1 thấy anh H2 cầm dao xông đến thì H1 đã dùng gậy gỗ vụt 01 phát trúng vào cánh tay trái của anh H2 làm gậy bị gãy làm hai đoạn rồi H1 bỏ chạy, anh H2 cầm dao đuổi theo nhưng H1 đã chạy sang nhà ở phía đối diện đường đóng cửa lại nên anh H2 không đuổi được. Lời khai của H1 phù hợp lời khai bị hại và các nhân chứng. Tuy nhiên, sau đó H1 thay đổi lời khai là: Khi anh H2 chạy đến gần chỗ H1, cách khoảng 02m đến 03m thì anh H2 dơ dao lên về phía H1 nên H1 đứng dậy bỏ chạy về phía cuối quán nước nhặt 01 đoạn gậy gỗ (là cốt ván bóc). Anh H2 vẫn cầm dao đuổi theo phía sau, H1 bỏ chạy được khoảng 02m đến 03m (từ chỗ nhặt gậy), H1 quay đầu và xoay người lại, dùng tay phải cầm chiếc gậy vụt 01 phát trúng vào cánh tay trái của anh H2 làm gậy gỗ gẫy thành 02 đoạn. H1 tiếp tục bỏ chạy sang nhà ở đối diện đường đóng cửa lại, thì anh H2 đứng ở bên ngoài cầm dao đe dọa H1 sẽ chém chết H1 xong anh H2 bỏ về (bút lục 138-161).

Căn cứ vào lời khai của bị hại và các nhân chứng có mặt tại hiện trường đều xác định: Khi anh H2 cầm dao vào trong quán thì H1 đã chạy về phía cuối quán nhặt 01 đoạn gậy gỗ cầm bằng tay phải quay lại đứng đối diện với anh H2, sau đó hai bên cãi nhau thì anh H2 đã cầm dao nhọn giơ lên chạy về phía H1 và được chị G kéo áo phía sau ngăn cản lại, anh H2 chưa chém được H1. Ngay lúc đó H1 đã dùng gậy vụt 01 phát trúng vào tay trái của anh H2 rồi bỏ chạy. Do đó, việc H1 thay đổi lời khai là không có căn cứ.

Do có mẫu thuẫn lời khai giữa H1 và các nhân chứng trong vụ án nên Cơ quan điều tra đã nhiều lần yêu cầu các nhân chứng tham gia đối chất với Bùi Minh H1 để làm rõ các tình tiết còn mâu thuẫn, tuy nhiên các nhân chứng đều từ chối tham gia đối chất và vẫn giữ nguyên những lời khai đã trình bày với Cơ quan điều tra (bút lục 220-221, 225, 234).

Tiến hành đối chất giữa H1 và anh H2, cả hai đều giữ nguyên lời khai đã trình bày (bút lục 184,203).

Tại bản cáo trạng số 22/CT-VKS ngày 17/5/2023 của Viện kiểm sát huyện Y, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Bùi Minh H1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo H1 cho rằng bị cáo không gây thương tích cho anh H2 nên bị cáo không đồng ý kết luận điều tra, nội dung bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát và có ý kiến tranh luận bị cáo không phạm tội, bị oan.

* Với nội dung trên bản án hình sự sơ thẩm số 26/2023/HSST ngày 30/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang đã xét xử và quyết định:

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự (với tình tiết được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự), điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Căn cứ Điều 584, Điều 585, Điều 590 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự:

Căn cứ khoản 1 Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 ; khoản 2 Điều 135, Điều 331, Điều 333, Điều 336 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.

  1. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Minh H1 02 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 09/02/2023.
  2. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Bùi Minh H1 phải bồi thường thiệt hại cho anh Trần Quang H2 số tiền 13.328.000 đồng.

Ngoài ra án sơ thẩm còn giải quyết về tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

* Sau khi cấp sơ thẩm xét xử xong, ngày 12/7/2023 bị cáo Bùi Minh H1 có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị xem xét giảm hình phạt cho bị cáo.

* Tại phiên toà ngày 31/8/2023 bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo, bị cáo không phạm tội “Cố ý gây thương tích” như bản án sơ thẩm đã xét xử. Bị cáo bị oan.

* Tại phiên toà phúc thẩm ngày 28/9/2023:

  • - Bị cáo không rút đơn kháng cáo. Bị cáo trình bày: bị cáo không phạm tội “Cố ý gây thương tích” như bản án sơ thẩm đã xét xử. Bị cáo bị oan. Ngày 01/10, em gái nhờ trông hộ quán nước. Lúc đấy xuống thì thấy 1 bàn chơi bài và ăn nói rất bậy bạ, nhà bị cáo có cháu gái lớn, thì bị cáo bảo H2 à, từ nay tao không cho mày xuống đây nữa, H2 có bảo “ anh chả tuổi đéo gì mà đuổi được em”, bị cáo có bảo “mày thử xuống xem tao có đuổi mày không”. Sau đó tan. Đến tối bị cáo đang uống nước tại quán, thì có người em bảo “anh ơi, anh làm gì mà thằng H2 lấy đồ bảo tìm anh để giết”. Đến lúc sau thì thấy H2 cầm con dao tiết lợn lao theo bị cáo, bị cáo đứng dậy bỏ chạy đến cuối quán nước, thấy cây gậy bị cáo cầm, quay người lại vụt, bị cáo vụt cây gỗ gãy làm đôi. Sau đó bị cáo tiếp tục bỏ chạy sang nhà ở đối diện đường đóng cửa lại thì anh H2 đứng ở bên ngoài cầm dao đe dọa sẽ chém chết bị cáo, ốp mìn vào nhà bị cáo xong anh H2 bỏ về. Như vậy hành vi của bị cáo chỉ là phòng vệ chính đáng. Bị cáo đề nghị xem xét giám định lại thương tích của bị hại vì bị hại khai có hai vết thương trong khi bị cáo chỉ vụt 1 cái. Ngoài ra theo bệnh án thì hôm sau bị hại mới đi Bệnh viện Yên Thế khám, điều trị thì không biết thương tích đó bị vào lúc nào? Có đúng do bị cáo gây ra không?
  • - Bị hại H2 trình bày: Nguyên nhân mâu thuẫn bị cáo nói không đúng. Khi bị hại đến quán thấy anh H1 đang đánh bài, dùng tú lơ khơ, có 1 anh bảo tôi chơi tú lơ khơ, có anh H1, anh C, và 1 anh là anh T3 bảo chơi nhưng tôi bảo không chơi, H1 bảo thằng này muốn chơi tao còn không cho chơi ý. Tôi chỉ gọi nước uống thôi. Bị cáo H1 dọa đánh tôi. Hôm đó trời mưa, đến khoảng tầm 2h chiều thì tạnh. Buổi tối do bực tức nên bị hại đi tìm bị cáo để nói chuyện, khi đi có cầm theo dao nhọn bọc trong áo cũ để phòng thân. Khi đến gần quán nước thì gặp chị G trước. Chị G rủ đi uống cà phê thì tôi bảo “tao không đi”. Bị hại có bảo chị G là xuống nói chuyện với anh H1. Chị G cũng nói lại với bị cáo H1. Trong đấy bị hại có nghe thấy bị cáo H1 bảo gọi nó vào đây nên tôi đi vào. Lúc đấy có chị G, và chị G can tôi, túm cổ áo tôi và lôi lại, còn bị cáo H1 tay cầm gậy chủ động đi về phía tôi. Sau đó tôi và bị cáo H1 đứng đối diện nhau cách nhau 1 cái bàn uống nước thấp, và cách cửa quán 3 đến 4m. Tôi bỏ dao ra khỏi áo thì chị G túm cổ áo của tôi lôi lại luôn, mục đích chị G can ngăn không cho đánh nhau nhưng ngay lúc đó thì bị cáo H1 đập gậy vào tay tôi luôn, không có việc 2 bên đứng thách thức, cãi chửi nhau. Chị G lúc đó đứng bên tay cầm dao của tôi, đứng ngang tôi. Vụt gẫy gậy xong thì H1 bỏ chạy vào nhà bên kia đường đóng cửa, tôi vùng vẫy thoát ra khỏi chị G và đuổi theo, chắc có chửi bới nhưng tôi không nhớ nội dung. Tôi tự lái xe máy đi về về nhà anh N1, ở tổ dân phố H, thị trấn B gọi cho N1 và chờ đợi, một lúc sau N1 và anh Đặng Văn N2 về. Tôi kể với anh N1 và N2 là tao vừa xuống kia, bị H1 béo vụt hình như gãy tay vì thấy đau lắm. N1 và N2 đã đưa tôi đi bệnh viện Bố Hạ chụp chiếu X Quang chỗ tay đau luôn. Sau đó người lái xe bệnh viện B1 đưa chúng tôi lên bệnh viện Y1 điều trị. Sáng hôm sau người đó lại đưa từ Bệnh viện Y1 lên bệnh viện đa khoa tỉnh B. Tôi điều trị từ sáng ngày mùng 2 đến ngày mùng 7 tôi xin về. Bác sĩ kết luận là phẫu thuật mổ có 1 nẹp đinh hiện vẫn có vết sẹo mổ ở tay. Tay trái của tôi bị tật do tiêm từ lúc nhỏ, bình thường tay trái vẫn vận động, chỉ không giơ cao và xách nặng được thôi, nó teo nhỏ hơn tay phải. Tôi bị khuyết tật nặng có chứng nhận, có chế độ hưởng trợ cấp của địa phương.
  • - Những người làm chứng trình bày :
    • + Anh L1 trình bày: Tôi đang ở quán thì thấy anh H2 cầm dao chạy vòng vòng từ ngoài quán chạy vòng vào, gần tới nơi tôi đi ra ngoài đi vệ sinh, quay lại thì thấy bụp 1 cái, 2 anh em đuổi nhau, H2 lụp bụp quăng dao. Lúc H2 cầm dao vào quán thì H1 vẫn đang ngồi. Thấy H2 cầm dao thì H1 với tay ra sau lấy cây gậy, vị trí chỗ H1 ngồi với chỗ đặt gậy cách 2m. Bị cáo H1 lấy gậy và ngồi đấy. Chị G bảo là anh H1 làm gì H2 mà thằng H2 cầm dao bem anh H1. H2 chạy vòng vòng vào, H2 lao vào trước, H1 đứng dậy, 2 bên xông vào nhau. Chỗ H2 và H1 đứng không có bàn uống nước; hai bên không có việc đứng cãi chửi nhau. Lời khai tại phiên tòa là đúng. Sau khi nghe công bố lời khai trong hồ sơ thì tôi xác định lời khai tại cơ quan điều tra là lời khai đúng.
    • + Ông Đ trình bày: Tôi hôm đó ngồi uống nước, ngồi 1 mình, tôi thấy G xì xào với H1 rồi thấy H2 cầm dao vào quán, thấy 2 người đánh nhau nên tôi chạy về nhà luôn. Tôi không nhìn thấy 2 người đứng đối diện nhau, tôi ngồi 1 mình ở bên ngoài. Tôi chỉ thấy H2 lao vào, thấy thế tôi đứng dậy, diễn biến quá trình thế nào tôi không nhìn thấy. Tôi khẳng định lời khai hôm nay còn lời khai tại cơ quan điều tra là không chính xác.
    • + Anh C trình bày: Tôi khai với cơ quan điều tra rồi. Tôi giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra. Tôi nhìn thấy anh H2 lao vào cầm dao để trong áo trắng, đánh bị cáo H1, bị cáo H1 cầm gậy tôi không để ý lấy gậy ở đâu, tôi không nhìn thấy chửi nhau. Sự việc đúng như cơ quan điều tra đã ghi lời khai của tôi.
    • + Anh V trình bày: Tôi có nhìn thấy H2 cầm dao vào quán và thấy H1 lùi lại cầm gậy gỗ, thấy H2 lao vào tấn công, H1 lùi lại và H2 đuổi theo H1. Tôi không chứng kiến việc H1 và H2 cách nhau 1 cái bàn và chửi bới nhau vì tôi ở xa vị trí đó. Lời khai ở cơ quan điều tra là chính xác, khách quan.
    • + Chị H3 trình bày: Hôm đó tôi bận đi ăn cỗ, sau đó tối con gái tôi gọi điện bảo bác H2 đánh bác H1, tôi chạy về thì thấy anh H2 đang cầm dao đuổi đánh bị cáo H1, bị cáo H1 chạy vào nhà đóng cửa. Buổi sáng hôm đấy không có việc đánh cãi chửi nhau giữa bị cáo H1 và anh H2. Khi anh H2 đuổi đánh bị cáo H1, có chửi bới, sau đó anh H2 không đánh được bị cáo H1 nên lái xe đi về.

* Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 24/10/2023:

  • - Bị cáo H1 vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và các lời khai đã trình bày tại quá trình điều tra và các phiên tòa trước. Bị cáo có được Cơ quan điều tra tổ chức tiến hành thực nghiệm điều tra nhưng không phải ở hiện trường nơi xảy ra sự việc và do người khác đóng thế nên không đúng diễn biến sự việc.
  • - Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, nguyên nhân hoàn cảnh phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo đã kết luận quá trình giải quyết cấp sơ thẩm đã điều tra không đầy đủ, có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, đề nghị HĐXX: Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 355; điểm b, điểm c, khoản 1, Điều 358- Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, hủy bản án sơ thẩm số 26/2023/HSST ngày 30/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang. Giao hồ sơ vụ án cho VKSND huyện Yên Thế điều tra lại theo quy định của pháp luật. Bị cáo không phải chịu 200.000 đồng án phí HSPT.
  • - Người bào chữa cho bị cáo tranh luận: Hành vi của bị cáo là phòng vệ chính đáng theo quy định tại Điều 22-Bộ luật Hình sự. Do đó hành vi này không cấu thành tội phạm. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm d, khoản 1, Điều 355; Điều 359-Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bản án sơ thẩm, đình chỉ giải quyết vụ án do bị cáo không phạm tội. Đề nghị tuyên bị cáo vô tội, trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa. Trường hợp hủy điều tra lại thì cũng đề nghị thay thế biện pháp tạm giam đối với bị cáo để chờ kết quả điều tra lại.
  • - Bị cáo nhất trí quan điểm của Luật sư, không tranh luận gì khác.
  • - Đại diện VKS đối đáp: Do cấp sơ thẩm vi phạm tố tụng, điều tra chưa đầy đủ nên VKS chưa đánh giá hành vi của bị cáo có phạm tội hay không. Quá trình điều tra lại sẽ xem xét về tội danh đối với bị cáo. Việc thay thế biện pháp ngăn chặn, trả tự do cho bị cáo là thuộc thẩm quyền của HĐXX xem xét.
  • *Bị cáo nói lời sau cùng: Mong HĐXX xem xét có bản án công bằng đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1].Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo được làm trong thời hạn kháng cáo và gửi đến Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang theo đúng quy định tại các Điều 331, 332, 333- Bộ luật Tố tụng hình sự nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp. HĐXX chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.

[2]. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Người tham gia tố tụng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt có lý do. Xét thấy họ đã có lời khai tại cơ quan điều tra, thể hiện quan điểm trong hồ sơ vụ án. Do vậy, sự vắng mặt không ảnh hưởng việc xét xử, HĐXX quyết định xét xử vắng mặt người tham gia tố tụng theo quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 351- Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3]. Xét kháng cáo của bị cáo, HĐXX thấy: Trong quá trình giải quyết cấp sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và điều tra chưa đầy đủ cụ thể như sau:

[3.1] Đối với quá trình khám, điều trị thương tích của bị hại : Quá trình xô xát dẫn đến đánh nhau, bị hại trình bày sau khi bị đánh đã kể lại cho anh N1, anh N2 nghe và tối hôm 01/10/2022 bị hại được anh N1, anh N2 (tên gọi khác là C1) đưa đi khám tại Bệnh viện B1. Tại đây có tiến hành chụp X- quang, sau đó bị hại được giới thiệu chuyển lên Bệnh viện Y1 khám, điều trị tiếp. Tuy nhiên những tài liệu khám chữa bệnh ban đầu này chưa được Cơ quan điều tra thu thập, xác minh làm rõ.

[3.2]. Bị cáo cho rằng chỉ phòng vệ chính đáng nên không phạm tội, HĐXX thấy: Căn cứ lời khai của bị hại, các nhân chứng trong quá trình điều tra thì đều xác định giữa bị cáo Bùi Minh H1 và bị hại Trần Quang H2 có mẫu thuẫn nhau từ trước và tại ngày xẩy ra sự việc khi bị hại cầm dao đến thì bị cáo đã chạy xuống cuối ki ốt lấy 1 cây gậy và cầm chạy lên phía cửa kiốt. Cả hai bên cầm hung khí nguy hiểm đứng đối diện nhau ở cự ly rất gần, có việc xô sát chửi nhau, thách thức nhau tại địa điểm quán nước có đông người chứng kiến quan sát rõ sự việc với khoảng cách gần cả 2 bên. Căn cứ lời khai bị hại là anh H2 và những người làm chứng là đều khẳng định khi anh H2 cầm dao tay phải giơ lên ngay lúc đó bị cáo H1 cầm gậy gỗ vụt 01 phát trúng vào khủy tay trái anh H2 làm gậy gỗ gẫy thành 02 đoạn. Tuy nhiên quá trình xét xử phúc thẩm các nhân chứng trình bày thấy bị hại H2 cầm dao lao về phía bị cáo H1 để tấn công và bị cáo H1 có vụt gậy vào tay bị hại. Lời khai của bị cáo chỉ thừa nhận khi thấy anh H2 đi vào cầm dao chém thì bị cáo lùi lại phía sau, anh H2 tiếp tục đuổi, bị cáo chạy nhìn thấy gậy gỗ cầm lên xoay người vụt vào bên trái anh H2, do đó bị cáo không cố ý gây thương tích cho anh H2.

Quá trình điều tra, truy tố, xét xử còn có một số nội dung mâu thuẫn trong lời khai của những người làm chứng nhưng chưa tiến hành đối chất được do những người này đều từ chối đối chất vì sợ tư thù cá nhân; chị Lê Thị G là người làm chứng trực tiếp vắng mặt trong tất cả các phiên toà phúc thẩm, mặc dù Toà án cấp phúc thẩm đã áp dụng biện pháp dẫn giải nhưng hiện tại chị G không có mặt tại địa phương.

[3.3] Tại Biên bản thực nghiệm điều tra bắt đầu hồi 15 giờ, kết thúc 15 giờ 30 phút ngày 01/3/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y thể hiện nội dung: Anh Ngọc Trung B, sinh năm 1999 ở B, Đ, Y đóng thế anh Trần Quang H2, sinh năm 1989 ở T, B, Y (đeo chữ H2), có ảnh trong hồ sơ vụ án nhưng không có tên, tuổi, địa chỉ của anh Ngọc T4 Bắc trong thành phần biên bản, không có chữ ký của anh Ngọc T4 Bắc khi kết thúc biên bản. Như vậy việc thực nghiệm điều tra theo tình huống này không có giá trị để giải quyết vụ án.

[3.4] Tại biên bản làm việc hồi 09 giờ ngày 09/11/2022 (Bút lục 196,197) về việc xác định vị trí có sự tham gia của bị cáo Bùi Minh H1 nhưng không có chữ ký của Bùi Minh H1.

[3.5] Theo những tài liệu thu thập được có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà phúc thẩm có tài liệu thể hiện anh Trần Quang H2 là người khuyết tật nặng. Tại Bút lục số 252: Giấy xác nhận khuyết tật, số hiệu: 0240 YT TTBH 051 của Ủy ban nhân dân thị trấn B ngày 01/9/2013: Họ và tên: Trần Quang H2, sinh năm 1989, nơi ĐKHKTT: Thị trấn B, dạng khuyết tật: vận động; mức độ khuyết tật: nặng. Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các cơ quan tiến hành tố tụng không thu thập tài liệu gốc hoặc bản sao có chứng thực để xem xét đánh giá việc áp dụng tình tiết tăng nặng “Phạm tội đối với người... khuyết tật nặng...” quy định tại điểm k, khoản 1, Điều 51-Bộ luật hình sự đối với bị cáo Bùi Minh H1.

[3.6] Ngoài ra quá trình giải quyết các cơ quan tố tụng cũng không xem xét đánh giá việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm c hoặc điểm e hoặc điểm k, khoản 1, Điều 51- Bộ luật Hình sự đối với bị cáo là không đảm bảo quyền lợi cho bị cáo.

[3.7] Một số tài liệu trong hồ sơ (từ Bút lục 240 đến 252) là bản phô tô nên không được coi là tài liệu hợp pháp, không có giá trị sử dụng để giải quyết vụ án.

[3.8] Trong lý lịch của bị cáo Bùi Minh H1 có thể hiện nơi thường trú là tổ dân phố T, thị trấn B và nơi ở là tổ dân phố T, thị trấn B (Bút lục 356). Tuy nhiên trong danh bản, chỉ bản của bị cáo chỉ thể hiện nơi cư trú là Tổ dân phố T, thị trấn B (Bút lục 346,347) là không thống nhất.

[3.9] Tại Trích lục tiền án, tiền sự (Bút lục 348) nêu ngày 13/01/2014 bị cáo Bùi Minh H1 bị Công an huyện Y xử phạt hành chính 750.000 đồng về hành vi đánh bạc nhưng trong lý lịch bị cáo lại nêu năm 2014 bị cáo bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là có mâu thuẫn, không thống nhất.

[3.10] Theo quyết định số 11/QĐ-TT ngày 06/4/2023 (Bút lục 273a) có quyết định truy tìm vật chứng là con dao nhọn do anh Trần Quang H2 sử dụng hôm xảy ra xô sát với bị cáo nhưng đến nay chưa có kết quả truy tìm, chưa có văn bản kết thúc việc truy tìm vật chứng.

[4]. Từ những nội dung trên, HĐXX thấy những nội dung có vi phạm, chưa được thu thập đầy đủ HĐXX không thể khắc phục tại phiên tòa được. Do việc điều tra chưa đầy đủ và có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng nên HĐXX chưa có cơ sở đánh giá về tội danh đối với bị cáo. Căn cứ điểm c, khoản 1, Điều 355; điểm b, điểm c, khoản 1, Điều 358 - Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, HĐXX quyết định: Hủy bản án sơ thẩm số 26/2023/HSST ngày 30/6/2023 của TAND huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang như đề nghị của đại diện VKS tại phiên tòa. Giao hồ sơ vụ án cho VKSND huyện Yên Thế điều tra lại theo thủ tục quy định của pháp luật. Những nội dung cần điều tra lại gồm:

Điều tra thu thập, xác minh làm rõ việc anh H2 khám bệnh ban đầu tại Bệnh viện B1 tối ngày 01/10/2022; tiến hành hoạt động thực nghiệm điều tra tại hiện trường xảy ra vụ việc có sự tham gia của những người có liên quan trực tiếp, người làm chứng; xử lý việc truy tìm vật chứng theo quyết định số 11/QĐ-TT ngày 06/4/2023; tiến hành đối chất làm rõ lời khai của những người làm chứng về diễn biến sự việc xảy ra xô xát giữa bị cáo và anh Trần Quang H2; thu thập đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo; thu thập các tài liệu có đầy đủ chữ ký của người tham gia tố tụng; thu thập các tài liệu gốc hoặc bản sao có chứng thực; xác định thống nhất nơi cư trú của bị cáo; xác định chính xác nhân thân bị cáo năm 2014 bị xử phạt hành chính về hành vi gì.

[5]. Về áp dụng biện pháp ngăn chặn: Căn cứ khoản 5, Điều 358-Bộ luật Tố tụng hình sự, HĐXX quyết định tạm giam bị cáo Bùi Minh H1 kể từ ngày tuyên án ( ngày 24/10/2023) đến khi Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang thụ lý lại vụ án.

[6]. Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 135, Điều 136- Bộ luật tố tụng hình sự; điểm f, khoản 2, Điều 23- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, bị cáo không phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ điểm c, khoản 1, Điều 355; điểm b, điểm c, khoản 1, Điều 358 - Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Hủy bản án hình sự sơ thẩm số 26/2023/HSST ngày 30/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang. Giao hồ sơ vụ án cho VKSND huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang điều tra lại theo thủ tục quy định của pháp luật.
  2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 135, Điều 136- Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm f, khoản 2, Điều 23 - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, bị cáo Bùi Minh H1 không phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - CA, VKS, TA huyện Yên Thế;
  • - Chi cục THADS huyện Yên Thế;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HSVA, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

(đã ký)

Ong Thân Thắng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 171/2023/HS-PT ngày 24/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 171/2023/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/10/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 20 giờ ngày 12/11/2022, ông Chu Bá H1, sinh năm 1966, trú tại thôn Đ, xã Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang đến nhà anh Chu Trọng H2, sinh năm 1985, ở thôn Đ, xã Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang lấy xe mô tô gửi trước đó. Ông H1 thấy trong phòng khách nhà anh H2 có cháu họ là anh Chu Thế Đ, sinh năm 1990, trú tại thôn K, xã Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang đang ngồi đánh bạc ăn tiền dưới hình thức đánh bài liêng cùng với anh H2, Chu Trọng T1, sinh năm 1990, anh Chu Trọng P, sinh năm 1976, anh Chu Trọng T2, sinh năm 1976, anh Chu Trọng C2, sinh năm 1982, đều ở cùng thôn với anh H2 nên ngồi cạnh anh Đ để xem đánh bạc. Khoảng 05 phút sau, anh C2 và anh Đ xảy ra mâu thuẫn trong việc thanh toán tiền đánh bạc, anh C2 dùng tay không đấm 01 nhát vào đầu anh Đ nên anh Đ lao vào đánh lại anh C2. Sau đó, Chu Trọng T1 là em ruột của anh C2 lao vào kéo tay anh Đ lại không cho đánh anh C2. Lúc này, ông H1 dùng hai tay ôm ngang người Tùng từ phía sau, mục đích can ngăn không cho T1 lao vào đánh anh Đ. Lập tức, T1 dùng khuỷu tay phải vung lên đồng thời gạt tay theo hướng từ trước về sau trúng vào mặt ông H1. Tuy nhiên, ông H1 vẫn ôm người T1 không bỏ ra. T1 tiếp tục dùng hai tay vòng ra sau túm vào vai và tay phải ông H1 rồi vật ông H1 ngã nằm nghiêng bên phải xuống nền phòng khách, đồng thời T1 dùng chân phải đá liên tiếp hai nhát vào mặt ông H1 thì mọi người căn ngăn không cho đánh nhau. Sau đó, C2, Đ, T1 dừng lại không đánh nhau và bỏ đi khỏi nhà anh H2, còn ông H1 được đưa đến Trung tâm y tế huyện V điều trị thương tích đến ngày 16/11/2022 thì chuyển đến Bệnh viện B điều trị tiếp, đến ngày 23/11/2022 thì ra viện.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger