|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 171/2024/HS-ST
Ngày: 24-6-2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Lệ Quyên
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Minh Hùng
2. Ông Lý Anh Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Đắc Toàn - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Tạ Hà Giang – Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 185/2024/HSST ngày 31/5/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 179/2024/QĐXXST-HS ngày 12/6/2024, đối với bị cáo:
Vũ Tuấn A – sinh năm 2002 tại Nam Định; Tên gọi khác: không; Giới tính: nam; Đăng ký hộ khẩu thường trú: số C T, phường H, thành phố N, tỉnh Nam Định; chỗ ở: P - E2, phường P, quận Đ, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: không xác định; con bà: Vũ Thị Thanh T; bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không; D chỉ bản số: 374, lập ngày 02/5/2024 tại Công an quận Đ; bị cáo đầu thú, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
(Có mặt tại phiên tòa).
Bị hại: Chị Cao Thị Hoàng P - sinh năm 1980; trú tại: số nhà G phố P, phường P, quận Đ, thành phố Hà Nội (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 02 giờ 15 phút ngày 17/02/2024 chị Cao Thị Hoàng P (sinh năm 1980; trú tại: số nhà G phố P, phường P, quận Đ, Hà Nội) trên đường về nhà đã làm rơi một chiếc điện thoại di động Iphone 14 Pro màu vàng 256GB gắn sim số 0904264673 ở khu vực đoạn đường trước nhà. Đến khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, thì chị P mới phát hiện mất điện thoại di động nên đã gọi đến số 0904264673 của mình để tìm điện thoại thì có giọng một nam giới nghe máy và đề nghị chị P trả số tiền 20.000.000 đồng thì mới trả lại điện thoại. Chị P đồng ý, cả hai hẹn gặp nhau tại khu vực hồ P để chuộc lại tài sản. Tại khu vực hồ P, chị P gọi vào số điện thoại của mình để liên lạc nhưng không được, nên đã đến Công an phường P trình báo sự việc.
Nhận được tin báo, Cơ quan Công an phường P đã tiến hành xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ, đồng thời áp dụng biện pháp nghiệp vụ thì xác định vị trí chiếc điện thoại của chị Cao Thị Hoàng P đang ở P - E2 tập thể Phương Mai là nơi Vũ Tuấn A (sinh năm 2002; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại số nhà C đường T, phường H, thành phố N, tỉnh Nam Định; tạm trú tại: P - E2 P, quận Đ, Hà Nội) đang thuê trọ.
Cơ quan Công an đã tiến hành triệu tập Vũ Tuấn A đến trụ sở để làm việc, tại Cơ quan công an Tuấn A khai nhận như sau:
Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 17/02/2024, Vũ Tuấn A điều khiển xe máy Honda Wave Alpha biển kiểm soát 29D1- 40253 chở bạn là Trần Tùng L (sinh năm 2002; trú tại: C- B1 T, phố T, phường M, quận H, Hà Nội) đi qua khu vực nhà chị P ở số G phố P, phường P, quận Đ, Hà Nội thấy chiếc điện thoại Iphone 14 Pro màu vàng 256GB của chị P ở dưới đường. Tuấn A dừng xe, nhặt chiếc điện thoại và kiểm tra thấy chiếc điện thoại có mật khẩu màn hình. Lúc này, L bảo Tuấn A khi chủ chiếc điện thoại liên hệ xin lại máy thì nên cho chuộc lại, họ cảm ơn thế nào cũng được. Khoảng 08 giờ 30 phút sáng cùng ngày, Tuấn A thấy chị P gọi điện thì Tuấn A nghe máy, qua nói chuyện biết chị P là chủ sở hữu chiếc điện thoại. Chị P nói đã làm rơi chiếc điện thoại và mong muốn xin lại. Tuấn A yêu cầu chị P trả 20.000.000 đồng thì mới cho chuộc lại điện thoại. Chị P đồng ý và hẹn gặp nhau ở khu vực hồ P. Sau đó, Tuấn A qua nhà bạn là Trần Đức T1 (sinh năm 2002; trú tại số H ngõ B phố Đ, phường C, quận H, Hà Nội) rủ T1 đi cùng đến điểm hẹn với chị P. Tuy nhiên, khi đi đến khu vực ngã tư B - T, thì Tuấn A nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản nên đã tắt máy điện thoại di động không đến điểm hẹn gặp chị P nữa mà cùng với T1 vào cửa hàng điện thoại số E phố T, phường T, quận H, Hà Nội. Tại cửa hàng, Tuấn A gặp chủ cửa hàng là anh Nguyễn Công T2 (sinh năm 1987; trú tại: tổ C phường T, quận H, Hà Nội) đặt vấn đề phá mật khẩu Icloud của điện thoại Iphone 14 Pro. Lúc này T1 có khuyên Tuấn A nên trả lại điện thoại cho chủ sở hữu nhưng Tuấn A không nói gì mà tiếp tục trao đổi với anh T2 về việc phá I. Sau khi kiểm tra máy, anh T2 đã báo giá 1.500.000 đồng tiền công để phá mật khẩu Icloud, Tuấn A đồng ý. Sau đó, anh T2 thao tác mở khóa Icloud xong thì giao lại điện thoại cho Tuấn A. Tuấn A cầm điện thoại rồi điều khiển xe máy chở T1 về nhà. Khoảng 20 giờ 30 cùng ngày, Công an phường P triệu tập Tuấn A đến làm việc. Tại Cơ quan Công an, nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên Tuấn A đã đầu thú và thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình và giao nộp chiếc điện thoại di động trên.
Tại bản Kết luận định giá số 34/KL-HĐĐGTS ngày 07/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân quận Đ, kết luận:
“- Chiếc điện thoại Iphone 14 Pro màu vàng 256GB, đã qua sử dụng, đã thu hồi định giá 15.500.000 đồng
- Sim số 0904264673: Chi phí cấp lại định giá: 25.000 đồng.
- Chiếc ốp màu đen, đã qua sử dụng, định giá 0 đồng.”
Đối với Trần Tùng L và Trần Đức T1, khi biết việc Tuấn A nhặt được điện thoại di động của chị P và có khuyên Tuấn A trả lại tài sản cho bị hại. Do vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý Trần Tùng L, Nguyễn Đức T3.
Đối với Nguyễn Công T2, khi được Tuấn A thuê mở Icloud điện thoại, thì T2 được Tuấn A nói do nhặt được, T2 hoàn toàn không biết hành vi chiếm giữ trái phép tài sản của Tuấn A. Do vậy, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.
Vật chứng vụ án:
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ của Vũ Tuấn A 01 chiếc điện thoại di động Iphone 14 Pro màu vàng 256GB, IMEI 350046781586663 có ốp màu đen, đã qua sử dụng.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro màu vàng 256GB nêu trên, xác định là tài sản hợp pháp của chị Cao Thị Hoàng P. Do đó, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trao trả chiếc điện thoại cho chị P quản lý, sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: chị Cao Thị Hoàng P đã nhận lại tài sản nên không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự.
Bản cáo trạng số 174/CT-VKSĐĐ ngày 30/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội đã truy tố Vũ Tuấn Anh về tội Chiếm giữ trái phép tài sản theo khoản 1 Điều 176 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Vũ Tuấn A về tội Chiếm giữ trái phép tài sản; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
- khoản 1 Điều 176, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự;
xử phạt: Vũ Tuấn A từ 08 tháng đến 10 tháng tù về tội: Chiếm giữ trái phép tài sản nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách từ 16 tháng đến 20 tháng.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Bị hại vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, xác nhận đã nhận lại tài sản và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, bị hại, lời khai người làm chứng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Đ, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và truy tố, bị cáo không khiếu nại. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2]. Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Tuấn A đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng, thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng thu được trong vụ án, lời khai của bị hại, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo Vũ Tuấn A đã có hành vi nhặt được chiếc điện thoại Iphone 14 Pro màu vàng 256GB trị giá 15.500.000 đồng của chị Cao Thị Hoàng P bị đánh rơi ở đường. Mặc dù, sau đó đã được chị P liên lạc để xin chuộc lại tài sản. Tuy nhiên, do thấy tài sản có giá trị nên Tuấn A đã nảy sinh ý định chiếm đoạt. Ngay sau đó, Tuấn A đã mang chiếc điện thoại đi thuê phá mật khẩu Icloud, mục đích để bản thân sử dụng hoặc nếu có người hỏi mua sẽ bán lại để lấy tiền tiêu xài. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa truy tố bị cáo về tội Chiếm giữ trái phép tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 176 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3]. Tính chất vụ án là nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội, tạo nên tâm lý hoang mang, lo lắng trong nhân dân, gây bức xúc trong xã hội. Bị cáo là người đã trưởng thành nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện, lao động chính đáng, ham hưởng lợi mà phạm tội. Do vậy, cần phải xử phạt bị cáo hình phạt nghiêm khắc mới bảo đảm tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, thái độ ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đầu thú; bị hại đã nhận lại tài sản và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời đảm bảo nguyên tắc nhân đạo và chính sách khoan hồng của Nhà nước ta.
[4]. Về trách nhiệm bồi thường dân sự:
Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác về dân sự.
[5]. Các vấn đề khác:
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Vũ Tuấn A phạm tội “Chiếm giữ trái phép tài sản”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 176, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt:
Bị cáo Vũ Tuấn A 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao Vũ Tuấn A cho Ủy ban nhân dân phường P, quận Đ, thành phố Hà Nội để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Gia đình bị cáo được hưởng án treo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015.
Áp dụng: - Các Điều 136, 298, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Vũ Tuấn A phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Lệ Quyên |
| Thành viên hội đồng xét xử | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
| Vũ Lệ Q |
Bản án số 171/2024/HS-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về chiếm giữ trái phép tài sản
- Số bản án: 171/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Chiếm giữ trái phép tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chiếm giữ trái phép tài sản
