|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 171/2023/HSST
Ngày: 21/11/2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Ông Ngô Thế Tương
Các Hội thẩm nhân dân : Bà Đỗ Thị Thu Hà và bà Vũ Thị Dinh.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy tham gia phiên tòa:
Ông: Tô Tuấn Dũng - Kiểm sát viên
Ngày 21 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 145/2023/TLST - HS ngày 08 tháng 9 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 149/2023/QĐXXST ngày 20 tháng 10 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Vũ Thành T; sinh ngày 26/12/1987. Nơi cư trú thôn A, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Giới tính: Nam Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Vũ Hồng T1, sinh năm 1959, con bà Hòa Thị N, sinh năm 1968, có vợ là Vũ Thị D, sinh năm 1991, có 02 con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2019 đều cư trú tại xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Nhân thân: Còn nhỏ được gia đình nuôi ăn học hết lớp 9/12 sau đó ở nhà lao động tự do, bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
2. Phạm Văn L, sinh ngày: 24/04/1990. Nơi cư trú thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam;Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Phạm Trọng K, sinh năm 1962, con bà Vũ Thị N1, sinh năm 1963, có vợ là Vũ Thị Thanh H, sinh năm 1998, có 02 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2008 đều trú tại thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Nhân thân: Còn nhỏ được gia đình nuôi ăn học hết lớp 12/12, sau đó lao động tự do tại địa phương. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 06/02/2023 đến ngày 14/02/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
3. Trần Đức T2, sinh ngày: 22/05/1994. Nơi cư trú thôn P, xã T, huyện T, Thái Bình. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Trần Văn L1, sinh năm 1970, con bà Vũ Thị T3, sinh năm 1975. Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Nhân thân: Còn nhỏ được gia đình nuôi ăn học hết lớp 12/12 sau đó lao động tự do tại địa phương. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 06/02/2023 đến ngày 14/02/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
4. Đinh Văn H1; sinh ngày: 13/9/1994. Nơi cư trú thôn Đ, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Giới tính: Nam. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Đinh Văn C, sinh năm 1970 con bà Đào Thị H2, sinh năm 1973. Đều cư trú tại thôn Đ, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình, bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án: không; Tiền sự: Không. Nhân thân: Còn nhỏ được gia đình nuôi ăn học hết lớp 12/12, sau đó ở nhà lao động tự do tại địa phương. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 06/02/2023 đến ngày 14/02/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
5. Nguyễn Trọng Q; sinh ngày: 03/05/1984. Nơi cư trú thôn A, xã C, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Nguyễn Trọng S (đã chết). Con bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1962, có vợ là Phạm Thị D1, sinh năm 1984, có 01 con, sinh năm 2020, đều trú tại xã C, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Tiền án: Không, Tiền sự: Không. Nhân thân: Còn nhỏ được gia đình nuôi ăn học hết lớp 09/12, sau ở nhà lao động tự do. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 06/02/2023 đến ngày 14/02/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
6. Đinh Văn V; sinh ngày: 20/09/1996. Nơi cư trú thôn Đ, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Đinh Văn T4, sinh năm 1973, con bà Đinh Thị M, sinh năm 1973, có vợ là Nguyễn Thị Hồng N2, sinh năm 2000, có 01 con sinh năm 2020, đều cư trú tại thôn Đ, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Tiền án: Không, Tiền sự: Không. Nhân thân: Còn nhỏ được gia đình nuôi ăn học hết lớp 09/12. Sau đó ở nhà lao động tự do tại địa phương. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
7. Nguyễn Duy D2; sinh ngày: 01/07/1984. Nơi cư trú thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Nguyễn Duy V1, sinh năm 1952, con bà Phạm Thị L2, sinh năm 1958, có vợ là Nguyễn Thị H4, sinh năm 1985. có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2020, đều cư trú tại thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Tiền án: Không; Tiền sự: không. Nhân thân: Còn nhỏ được gia đình nuôi ăn học hết lớp 9/12. Sau đó ở nhà lao động tự do. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
8. Đinh Văn T5; sinh ngày 18/04/2002. Nơi cư trú thôn Đ, xã Đ, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Sinh viên.Con ông Đinh Văn T4, sinh năm 1973, con bà Đinh Thị M, sinh năm 1973, có vợ là Nguyễn Thị Đoan T6, sinh năm 2003, có 01 con sinh năm 2021. Đều cư trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Nhân thân: Còn nhỏ được gia đình nuôi ăn học hết lớp 12/12, hiện đang học tại trường Cao đẳng Y. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 06/02/2023 đến ngày 14/02/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
9. Nguyễn Tiến H5, sinh ngày 11/9/1989 ; Nơi cư trú Khu I, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Nguyễn Tiến P, sinh năm 1965, con bà Nguyễn Thị M1, sinh năm 1967. Nơi cư trú: xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình, bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Nhân thân: Còn nhỏ được gia đình nuôi ăn học hết lớp 6/12 sau đó ở nhà lao động tự do. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 09/02/2023 đến ngày 14/02/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
10. Nguyễn Đình P1; sinh ngày 02/02/1951. Nơi cư trú thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Giới tính: Nam Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Nguyễn Đình T7, con bà Đặng Thị C1 ( đều đã chết), có vợ: là Phan Thị V2, sinh năm 1951. Nơi cư trú: thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Bị cáo có 05 con, lớn sinh năm 1973, nhỏ nhất sinh năm 1983, đều cư trú tại thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Tiền án: Không; Tiền sự: Không Nhân thân: Còn nhỏ được gia đình nuôi ăn học hết lớp 7/10. Bị cáo tham gia nghĩa vụ quân sự năm 1972 tại tỉnh Quảng Trị, được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Q tặng Kỷ niệm chương Chiến sỹ bảo vệ T8 cổ Quảng Trị năm 1972, sau đó về địa phương lao động tự do. Hiện đang được hưởng Trợ cấp Thương binh loại A, thương tật hạng 4. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 06/02/2023 đến ngày 14/02/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
(Các bị cáo đều có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đình P1: Ông Hà Đức T9 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T.
(Có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 1. Phạm Văn S1, sinh năm 1986, trú tại thôn T, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình; 2. Vũ Văn Q1 (T10) sinh năm 1971, trú tại thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; 3. Trần Văn N3, sinh năm 1984, trú tại thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; 4. Vũ Văn K1, sinh năm 1973, trú tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; 5. Hòa Quang T11, sinh năm 1995, trú tại thôn V, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình; 6. Nguyễn Văn P2, sinh năm 1976, trú tại thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; 7. Hà Thành Đ, sinh năm 1984, trú tại tổ H, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình; 8. Phạm Văn N4, sinh năm 1987, trú tại thôn H, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình; 9. Nguyễn Ngọc H6, sinh năm 1992, trú tại thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; 10. Nguyễn Tiến V3, sinh năm 1986, trú tại thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; 11. Nguyễn Mạnh H7, sinh năm 1971, trú tại thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; 12. Trần Văn Đ1, sinh năm 1985, trú tại thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; 13. Hòa Thành P3, sinh năm 1990, trú tại thôn V, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình; 14. Vũ Hữu T12, sinh năm 1968, trú tại xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; 15. Phạm Xuân B, sinh năm 1987, trú tại phường T, thành phố T; 16. Nguyễn Tiến M2, sinh năm 1993, trú tại xã T, huyệnThái Thụy, tỉnh Thái Bình. 17. Vũ Văn N5, sinh năm 1982, trú tại xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình (Đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 04/02/2023 Lưu Văn G và Vũ Thành T mỗi người mang theo 01 con gà chọi, đến nhà Nguyễn Đình P1 tại thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình, mục đích để chơi đánh bạc trái phép, được thua bằng tiền, dưới hình thức chọi gà. G và T thống nhất, để phân biệt giữa 02 con gà chọi với nhau thì sử dụng băng dính màu xanh quấn vào chân gà chọi của G, màu đỏ quấn vào chân gà chọi của T cho dễ nhận biết. Sử dụng 01 tấm cao su màu đen, rộng 56cm, dài 10,1m quây thành hình tròn; dưới trải 02 tấm thảm màu xanh, bằng nhựa, mỗi tấm thảm 2,8m x 1,9m để cho gà vào chọi nhau, sử dụng 01 đồng hồ treo tường, nhãn hiệu Good Time màu đỏ trắng để theo dõi tính giờ. Mỗi hồ (hiệp) là cho 02 con gà chọi nhau 15 phút và chọi đến khi con nào thua (bỏ chạy hoặc chết) thì kết thúc trận chọi gà. Tham gia đánh bạc cùng với G và T gồm có các bị cáo Nguyễn Trọng Q, Đinh Văn H1, Đinh Văn T5, Trần Đức T2, Đinh Văn V, Nguyễn Duy D2, Phạm Văn L, Nguyễn Tiến H5 và các anh Phạm Văn S1, Vũ Văn Q1 (T10), Trần Văn N3, Vũ Văn K1, Hòa Quang T11, Nguyễn Văn P2, Hà Thành Đ, Phạm Văn N4, Nguyễn Ngọc H6, Nguyễn Tiến V3, Nguyễn Mạnh H7, Trần Văn Đ1, Hòa Thành P3, Vũ Hữu T12, Phạm Xuân B và Nguyễn Tiến M2, T13 và trong khi cho 02 con gà chọi nhau thì các bị cáo thỏa thuận, bàn bạc trực tiếp với nhau về mức tiền tham gia đánh bạc, cụ thể như sau:
- Lưu Văn G và Vũ Thành T là hai chủ gà đánh bạc với nhau và mỗi người bỏ ra 2.000.000 đồng nếu gà của ai thắng thì được lấy tiền về với tổng số tiền là 4.000.000 đồng và thống nhất cho bị cáo Nguyễn Đình P1 là chủ nhà số tiền 200.000 đồng, bị cáo P1 đồng ý nhưng không xem và đi vào nhà.
- Đinh Văn V mang theo số tiền 8.300.000 đồng để đánh bạc và đã bỏ ra 1.000.000 đồng nhận gà chân quấn băng dính màu đỏ đánh bạc trực tiếp với Lưu Văn G để ăn số tiền 5.000.000 đồng
- Phạm Văn L mang theo 9.700.000 đồng để đánh bạc, L chọn gà chân quấn băng dính màu xanh để đánh bạc với những người chọn gà chân quấn băng dính màu đỏ như sau: L đánh bạc trực tiếp với Nguyễn Ngọc H6 số tiền 1.000.000 đồng để ăn 200.000 đồng; đánh bạc trực tiếp với Đinh Văn H1 số tiền 2.000.000 đồng để ăn 800.000 đồng (sau đó L chia xẻ lại 1.000.000 đồng cho Vũ Hữu T12, để T12 đánh bạc trực tiếp với H1 ăn 400.000 đồng); đánh bạc với Đinh Văn T5 số tiền 4.000.000 đồng ăn 1.300.000 đồng (sau đó L chia xẻ lại 1.500.000 đồng cho Vũ Hữu T12, để T12 đánh bạc trực tiếp với H1 ăn 500.000 đồng); đánh bạc với Phạm Văn S1 số tiền 2.000.000 đồng ăn 400.000 đồng; đánh bạc với Vũ Văn Q1 (T10) số tiền 300.000 đồng ăn 300.000 đồng; đánh bạc với Nguyễn Trọng Q số tiền 2.000.000 đồng ăn 400.000 đồng. Ngoài ra L còn chọn gà chân quấn băng dính màu đỏ đánh bạc với Trần Văn Đ1 số tiền 1.000.000 đồng ăn 250.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền L thỏa thuận thống nhất đánh bạc sát phạt nhau với các đối tượng trên là 15.950.000 đồng (trong đó số tiền L phải bỏ ra chơi là 12.300.000 đồng).
- Trần Đức T2 mang theo số tiền 3.150.000 đồng để đánh bạc, T2 chọn gà chân quấn băng dính màu xanh thỏa thuận đánh bạc với những người chọn gà chân quấn băng dính màu đỏ như sau: T2 đánh bạc với Đinh Văn H1 số tiền 2.000.000 đồng ăn 800.000 đồng; đánh bạc Phạm Văn S1 số tiền 3.000.000 đồng ăn 1.000.000 đồng. Ngoài ra T2 còn chọn gà chân quấn băng dính màu đỏ để thỏa thuận trực tiếp đánh bạc với những người chọn gà chân quấn băng dính màu xanh như sau: Thịnh thỏa thuận đánh bạc với Phạm Xuân B số tiền 500.000 đồng ăn 2.000.000 đồng; đánh bạc với Nguyễn Tiến V3 số tiền 400.000 đồng ăn 1.000.000 đồng; đánh bạc với Nguyễn Duy D2 số tiền 400.000 đồng ăn 1.000.000 đồng; đánh bạc với Hòa Thành P3 số tiền 1.100.000 đồng ăn 2.000.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền T2 thỏa thuận, thống nhất đánh bạc sát phạt nhau với các đối tượng trên là 15.200.000 đồng (trong đó số tiền T2 phải bỏ ra là 7.400.000 đồng).
- Đinh Văn T5 mang theo số tiền 5.100.000 đồng dùng để đánh bạc, T5 chọn gà chân quấn băng dính màu đỏ và bỏ ra 1.300.000 đồng đánh bạc với Phạm Văn L chọn gà chân quấn băng dính xanh để ăn 4.000.000 đồng. Tổng số tiền mà T5 và L thỏa thuận, thống nhất dùng để đánh bạc sát phạt nhau là 5.300.000 đồng.
- Đinh Văn H1 mang theo số tiền 4.750.000 đồng để đánh bạc, H1 chọn gà chân quấn băng dính màu đỏ thỏa thuận trực tiếp đánh bạc với những người chọn gà chân quấn băng dính màu xanh như sau: H1 trực tiếp đánh bạc với Phạm Văn L, số tiền 800.000 đồng ăn 2.000.000 đồng, (sau đó chia xẻ lại cho Phạm Văn N4 300.000 đồng để N4 đánh bạc với L ăn 1.000.000 đồng); đánh bạc với Trần Đức T2, số tiền 800.000 đồng ăn 2.000.000 đồng; đánh bạc với Nguyễn Mạnh H7, số tiền 400.000 đồng ăn 2.000.000 đồng; đánh bạc với Phạm Xuân B, số tiền 100.000 đồng ăn 300.000 đồng; đánh bạc với Nguyễn Duy D2, số tiền 500.000 đồng ăn 2.000.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền H1 thỏa thuận, thống nhất sử dụng đánh bạc sát phạt nhau với các đối tượng trên là 10.900.000 đồng.
- Nguyễn Trọng Q mang theo số tiền 2.800.000 đồng để đánh bạc, Q chọn gà chân quấn băng dính màu đỏ, thỏa thuận trực tiếp đánh bạc với những người chọn gà chân quấn băng dính màu xanh như sau: Quỳnh trực tiếp đánh bạc với Nguyễn Tiến H5 số tiền 2.000.000 đồng ăn 2.000.000 đồng; đánh bạc với Phạm Văn L, số tiền 400.000 đồng ăn 2.000.000 đồng; đánh bạc với Nguyễn Duy D2, số tiền 1.000.000 đồng ăn 1.000.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền Q thỏa thuận, thống nhất sử dụng để đánh bạc sát phạt nhau với các đối tượng trên là 8.400.000 đồng (trong đó số tiền Q phải bỏ ra là 3.400.000 đồng).
- Nguyễn Tiến H5 mang theo số tiền 3.200.000 đồng để đánh bạc, H5 chọn gà chân quấn băng dính màu xanh để thỏa thuận trực tiếp đánh bạc với những người chọn gà chân quấn băng dính màu đỏ như sau: H5 trực tiếp đánh bạc với Nguyễn Trọng Q, số tiền 2.000.000 đồng ăn 2.000.000 đồng; đánh bạc với Vũ Văn Q1 (T10), số tiền 500.000 đồng ăn 500.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền H5 thỏa thuận thống nhất sử dụng để đánh bạc sát phạt nhau với Q và Q1 là 5.000.000 đồng (trong đó số tiền H5 phải bỏ ra là 2.500.000 đồng).
- Nguyễn Duy D2 chọn gà chân quấn băng dính màu xanh để thỏa thuận trực tiếp đánh bạc với những người chọn gà chân quấn băng dính màu đỏ như sau: Duẩn trực tiếp đánh bạc với Trần Đức T2, số tiền 1.000.000 đồng ăn 400.000 đồng; đánh bạc với Nguyễn Trọng Q, số tiền 1.000.000 đồng ăn 1.000.000 đồng; đánh bạc với Đinh Văn H1, số tiền 2.000.000 đồng ăn 500.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền D2 thỏa thuận, thống nhất đánh bạc sát phạt nhau với T2, Q và H1 là 5.900.000 đồng (trong đó số tiền D2 phải bỏ ra là 4.000.000 đồng).
Ngoài ra còn nhiều đối tượng khác cùng tham gia đánh bạc được thua bằng tiền như sau: Vũ Hữu T12 đánh bạc với anh Nguyễn Mạnh H7 số tiền 500.000 đồng ăn 1.000.000 đồng; đánh bạc với bị cáo Đinh Văn H1 số tiền 400.000 đồng ăn 1.000.000 đồng; đánh bạc với bị cáo Đinh Văn T5 số tiền 500.000 đồng ăn 1.500.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền sử dụng để đánh bạc T12 thống nhất với các đối tượng là 4.900.000 đồng. Hòa Thành P3 đánh bạc với Trần Đức T2 số tiền 2.000.000 đồng ăn 1.100.000 đồng. Vũ Văn K1 đánh bạc với anh Nguyễn Văn P2 số tiền 300.000 đồng ăn 1.000.000 đồng. Phạm Văn N4 đánh bạc với bị cáo Phạm Văn L số tiền 300.000 đồng ăn 1.000.000 đồng. Hòa Quang T11 đánh bạc với Hà Thành Đ, số tiền 300.000 đồng ăn 1.000.000 đồng. Nguyễn Ngọc H6 đánh bạc với bị cáo Phạm Văn L số tiền 200.000 đồng ăn 1.000.000 đồng. Nguyễn Mạnh H7 đánh bạc với Vũ Hữu T12 số tiền 500.000 đồng ăn 1.000.000 đồng; đánh bạc với bị cáo Đinh Văn H1 số tiền 400.000 đồng ăn 2.000.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền sử dụng để đánh bạc Hà thống nhất với các đối tượng là 3.900.000 đồng. Trần Văn N3 đánh bạc với Nguyễn Tiến M2 số tiền 500.000 đồng ăn 1.000.000 đồng. Phạm Xuân B đánh bạc với bị cáo Đinh Văn H1 số tiền 100.000 đồng ăn 300.000 đồng; đánh bạc với bị cáo Trần Đức T2 số tiền 500.000 đồng ăn 2.000.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền sử dụng để đánh bạc B thống nhất với các đối tượng là 2.900.000 đồng. Vũ Văn Q1 (T10) đánh bạc với bị cáo Nguyễn Tiến H5 số tiền 500.000 đồng ăn 500.000 đồng; đánh bạc với bị cáo Phạm Văn L số tiền 300.000 đồng ăn 300.000 đồng, tổng số tiền sử dụng để đánh bạc Quyên thống nhất với các đối tượng là 1.600.000 đồng. Nguyễn Tiến V3 đánh bạc với bị cáo Trần Đức T2 số tiền 1.000.000 đồng ăn 400.000 đồng. Trần Văn Đ1 đánh bạc với bị cáo Phạm Văn L số tiền 250.000 đồng ăn 1.000.000 đồng. Phạm Văn S1 đánh bạc với Phạm Văn L, số tiền 400.000 đồng ăn 2.000.000 đồng.
Đến khoảng 12 giờ 15 phút cùng ngày, khi các đối tượng đang có hành vi đánh bạc dưới hình thức đá gà thì bị Công an huyện T phát hiện bắt quả tang, Cơ quan điều tra điều tra đã quản lý và thu giữ: 02 con gà chọi tía, đều nặng 2.9kg; 01 tấm quây bằng cao su màu đen, rộng 56cm, dài 10.1m; 01 đồng hồ treo tường nhãn hiệu Good Time màu đỏ trắng; 02 tấm thảm màu xanh, bằng nhựa, mỗi tấm dài 2.8m, rộng 1.9m. Quản lý tiền của các bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan như sau: Đinh Văn V 8.300.000 đồng, Nguyễn Tiến H5 3.200.000 đồng, Đinh Văn T5 5.100.000 đồng, Đinh Văn H1 4.750.000 đồng, Trần Đức T2 3.150.000 đồng, Phạm Văn L 9.700.000 đồng, Nguyễn Đình P1 1.700.000 đồng, Nguyễn Trọng Q 2.800.000 đồng, Vũ Hữu T12 10.450.000 đồng, Hà Thành Đ 5.200.000 đồng, Phạm Văn S1 100.000 đồng, Hòa Quang T11 8.100.000 đồng, Nguyễn Văn P2 410.000 đồng, Phạm Văn N4 6.900.000 đồng, Trần Văn Đ1 1.400.000 đồng, Nguyễn Mạnh H7 2.200.000 đồng, Nguyễn Ngọc H6 1.700.000 đồng, Hòa Thành P3 số tiền 3.000.000 đồng, Vũ Văn Q1 4.400.000 đồng. Tổng số tiền cơ quan điều tra quản lý và thu giữ là 82.560.000 đồng. Quá trình điều tra G đã chết nên ngày 01/8/2023 Cơ quan điều tra đã ra quyết định đình chỉ điều tra đối với Lưu Văn G.
Tại bản cáo trạng số 146/CT- VKSTT ngày 08 tháng 9 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy truy tố các bị cáo Trung Nguyễn Trọng Q2, Đinh Văn H1, Đinh Văn T5, Trần Đức T2, Đinh Văn V, Nguyễn Duy D2, Phạm Văn L, Nguyễn Tiến H5 về tội "Đánh bạc" theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Truy tố bị cáo Vũ Thành T về tội "Đánh bạc" theo quy định tại khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự. Truy tố bị cáo Nguyễn Đình P1 về tội "Gá bạc" theo quy định tại khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Các bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã xác định. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản xác định hiện trường, sơ đồ hiện trường, biên bản tạm giữ đồ vật và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Luận tội của Kiểm sát viên: Vẫn giữ nguyên quan điểm như đã truy tố với các bị cáo về tội danh và điều luật được viện dẫn trong bản cáo trạng. Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo. Đề nghị:
* Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Vũ Thành T, Nguyễn Trọng Q2, Đinh Văn H1, Đinh Văn T5, Trần Đức T2, Đinh Văn V, Nguyễn Duy D2, Phạm Văn L, Nguyễn Tiến H5 về tội “Đánh bạc”, Nguyễn Đình P1 về tội “Gá bạc”.
* Về hình phạt: Áp dụng điểm b, khoản 2, 3 Điều 321; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; khoản 3 Điều 35, Điều 17, Điều 38; Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Thành T 03 năm đến 03 năm 03 tháng tù. Phạt bổ sung từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; khoản 3 Điều 35, Điều 17, Điều 38; Điều 50, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt các bị cáo Phạm Văn L, Trần Đức T2, mỗi bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm đến 03 năm 06 tháng. Phạt bổ sung từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s, khoản 1, Điều 51; khoản 3 Điều 35, Điều 17, Điều 38; Điều 50, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạtcác bị cáo Đinh Văn H1, Nguyễn Trọng Q2, Đinh Văn V, mỗi bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm 06 tháng đến 03 năm. Phạt bổ sung từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng.
Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s, khoản 1, Điều 51; khoản 3 Điều 35, Điều 17, Điều 38; Điều 50, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt các bị cáo Đinh Văn T5, Nguyễn Duy D2, Nguyễn Tiến H5, mỗi bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm đến 02 năm 06 tháng. Phạt bổ sung từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 322, các điểm o, s, x, khoản 1, Điều 51; Điều 38; Điều 50, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Đình P1 từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm đến 02 năm 06 tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
* Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm b khoản 2 Điều 106 BLTTHS đề nghị HĐXX tuyên tịch thu sung quỹ nhà nước đối với số tiền các bị cáo và những người liên quan sử dụng để đánh bạc:
+ Tịch thu tiền đối với các bị cáo Vũ Trung T14 số tiền 2.000.000 đồng; Phạm Văn L số tiền 12.300.000 đồng, đã thu giữ 9.700.000 đồng, còn phải thu 2.600.000 đồng; Trần Đức T2 số tiền 7.400.000 đồng, đã thu giữ 3.150.000 đồng, còn phải thu 4.250.000 đồng; Đinh Văn V số tiền 8.300.000 đồng (đã thu giữ); Đinh Văn H1 số tiền 4.750.000 đồng (đã thu giữ); Nguyễn Trọng Q2 số tiền 3.400.000 đồng, đã thu giữ 2.800.000 đồng, còn phải thu 600.000 đồng; Đinh Văn T5 số tiền 5.100.000 đồng (đã thu giữ); Nguyễn Tiến H5 số tiền 3.200.000 đồng (đã thu giữ); Nguyễn Duy D2 số tiền 4.000.000 đồng;
+ Tịch thu tiền đánh bạc của những người liên quan: Hòa Thành P3 số tiền 2.000.000 đồng; Vũ Văn K1 số tiền 300.000 đồng; Nguyễn Văn P2 số tiền 1.000.000 đồng, đã thu 410.000 đồng, còn phải thu 590.000 đồng; Phạm Văn N4 số tiền 300.000 đồng; Hòa Quang T11 số tiền 300.000 đồng; Hà Thành Đ số tiền 1.000.000 đồng; Nguyễn Ngọc H6 số tiền 200.000 đồng; Nguyễn Mạnh H7 số tiền 900.000 đồng; Trần Văn N3 số tiền 500.000 đồng; Nguyễn Tiến M2 số tiền 1.000.000 đồng; Phạm Xuân B số tiền 2.100.000 đồng; Vũ Văn Q1 số tiền 800.000 đồng; Nguyễn Tiến V3 số tiền 1.000.000 đồng; Trần Văn Đ1 số tiền 250.000 đồng; Vũ Hữu T12 số tiền 1.400.000 đồng; Phạm Văn S1 100.000 đồng.
+ Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 đồng hồ treo tường nhãn hiệu Good Time màu đỏ trắng;
- Áp dụng điểm b, khoản 3, Điều 106 BLTTHS đề nghị HĐXX tuyên trả lại số tiền còn lại không liên quan đến việc đánh bạc của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Vũ Hữu T12 9.050.000 đồng, Hà Thành Đ 4.200.000 đồng, Hòa Quang T11 7.800.000 đồng, Phạm Văn N4 6.600.000 đồng, Trần Văn Đ1 1.150.000 đồng, Nguyễn Mạnh H7 1.300.000 đồng, Nguyễn Ngọc H6 1.500.000 đồng, Hòa Thành P3 số tiền 1.000.000 đồng, Vũ Văn Q1 3.600.000 đồng.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Đình P1 số tiền 1.700.000 đồng không liên quan quan đến việc đánh bạc.
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị HĐXX tuyên tịch thu tiêu hủy 01 tấm quây bằng cao su màu đen, rộng 56cm, dài 10.1m; 02 tấm thảm màu xanh, bằng nhựa, mỗi tấm dài 2.8m, rộng 1.9m.
*Án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 BLTTHS, Điều 12, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội đề nghị tuyên án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng đối với mỗi bị cáo. Riêng bị cáo Nguyễn Đình P1 được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Người bào chữa cho bị cáo P1 đồng không có ý kiến tranh luận gì. Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì và nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho hưởng án treo để cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có khiếu nại về hành vi, các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng tại giai đoạn điều tra họ đã có lời khai đầy đủ lưu trong hồ sơ vụ án nên sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử, vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[3]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản quản lý vật chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
[4]. Như vậy đủ căn cứ để xác định: Hồi 12 giờ 15 phút ngày 04/02/2023, tại thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình, để được hưởng lợi 200.000 đồng Nguyễn Đình P1 đã sử dụng sân nhà thuộc quyền sở hữu và quản lý của mình để cho 10 người tham gia đánh bạc trái phép, được thua bằng tiền, dưới hình thức chọi gà, cụ thể: Lưu Văn G (chủ gà) thỏa thuận đánh bạc với số tiền là 10.000.000 đồng, Vũ Thành T (chủ gà) số tiền là 4.000.000 đồng, Đinh Văn V số tiền là 8.300.000 đồng, Phạm Văn L số tiền là 15.950.000 đồng, Trần Đức T2 số tiền là 15.200.000 đồng, Đinh Văn T5 số tiền là 5.300.000 đồng, Đinh Văn H1 số tiền là 10.900.000 đồng, Nguyễn Trọng Q2 số tiền là 8.400.000 đồng, Nguyễn Tiến H5 số tiền là 5.000.000 đồng, Nguyễn Duy D2 số tiền là 5.900.000 đồng. Lưu Văn G (đã chết, đã đình chỉ điều tra) và Vũ Thành T là người đã chuẩn bị công cụ là 02 con gà chọi để tự mình và cho 08 bị cáo đánh bạc trái phép được thu bằng tiền, do đó phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm về tổng số tiền 57.450.000 đồng, là số tiền mà các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc. Nguyễn Đình P1 mặc dù không tham gia đánh bạc nhưng vì hưởng lợi 200.000 đồng nên đã dùng địa điểm thuộc quyền sở hữu và quản lý của mình để cho 10 người đánh bạc trong cùng một lúc với tổng số tiền dùng để đánh bạc trên 5.000.000 đồng. Hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Trọng Q2, Đinh Văn H1, Đinh Văn T5, Trần Đức T2, Đinh Văn V, Nguyễn Duy D2, Phạm Văn L, Nguyễn Tiến H5 đã phạm vào tội "Đánh bạc" quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo Vũ Thành T đã phạm vào tội "Đánh bạc" quy định tại khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Đình P1 đã phạm vào tội "Gá bạc" theo quy định tại khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự. Do đó cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Điều 321. Tội Đánh bạc.
1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.
b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
Điều 322. Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc.
1. Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
b) Sử dụng địa điểm thuộc quyền Sở hữu hoặc quản lý của mình để cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên hoặc cho 02 chiếu bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
[4]. Xét vai trò của các bị cáo thì thấy: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo tiếp nhận ý chí của nhau, không có sự phân công, phân nhiệm, quá trình đánh bạc với nhau các bị cáo không tổ chức nơi cầm cố tài sản, không lắp đặt trang thiết bị phục vụ cho việc đánh bạc, không ai làm trọng tài. Bị cáo T là chủ gà, trực tiếp đánh bạc với Lưu Văn G (đã chết) đồng phạm về tổng số tiền 57.450.000 đồng mà các bị cáo khác sử dụng vào việc đánh bạc nên giữ vai trò cao nhất trong vụ án. Các bị cáo L, T2, H1 thỏa thuận và thống nhất đánh bạc với số tiền trên 10.000.000 đồng nên giữ vai trò thứ 2. Bị cáo Q2, V thỏa thuận và thống nhất đánh bạc với số tiền trên 8.000.000 đồng nên giữ vai trò thứ 3 và cao hơn các bị cáo còn lại là T5. H5, D2.
[5]. Về tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương. Do đó cần phải quyết định một hình phạt tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm cho hành vi phạm tội của các bị cáo. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo Q2, H1, T5, T2, V, D2, L, H5 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra các bị cáo T2 có ông nội là người có công với cách mạng, bị cáo L có bố đẻ là người có công với cách mạng, bị cáo T có ông nội là liệt sỹ nên các bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Nguyễn Đình P1 đã trên 70 tuổi và là Thương binh nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm o, x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo đều không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo Vũ Thành T là người chuẩn bị công cụ là gà chọi để tự mình và cho 08 bị cáo khác đánh bạc với số tiền lớn nên cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi dời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe giáo dục và phòng ngừa chung. Đối với các bị cáo Nguyễn Trọng Q2, Đinh Văn H1, Đinh Văn T5, Trần Đức T2, Đinh Văn V, Nguyễn Duy D2, Phạm Văn L, Nguyễn Tiến H5 và Nguyễn Đình P1 đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, xét thấy không cần thiết bắt các bị cáo phải cách ly khỏi đời sống xã hội vì các bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo được hưởng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, để các bị cáo nhận ra lỗi lầm đã phạm phải để phấn đấu trở thành công dân tốt cho gia đình và xã hội.
[6]. Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo Vũ Thành T, Nguyễn Trọng Q2, Đinh Văn H1, Đinh Văn T5, Trần Đức T2, Đinh Văn V, Nguyễn Duy D2, Phạm Văn L, Nguyễn Tiến H5 đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền nên cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền để răn đe các bị cáo. Tuy nhiên các bị cáo làm nghề lao động tự do, tham gia đánh bạc với số tiền thấp, để đảm bảo việc thi hành án nên cần áp dụng dưới khung hình phạt tiền đối với bị cáo Trần Đức T2, Đinh Văn V, Nguyễn Duy D2, Phạm Văn L, Nguyễn Tiến H5. Bị cáo Nguyễn Đình P1 là người trên 70 tuổi, là thương binh nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7]. Đối với vật chứng của vụ án:
Cơ quan điều tra đã quản lý 02 con gà chọi tía, đều nặng 2.9kg, tuy nhiên trong quá trình gà chọi nhau và đưa về trụ sở để điều tra xác minh, gà đã bị yếu khó bảo quản nên ngày 07/02/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra đã căn cứ quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật Hình sự để tiêu hủy là đúng quy định của pháp luật.
Cơ quan điều tra đã quản lý số tiền 82.560.000 đồng của các bị cáo và của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, kết quả điều tra và tại phiên tòa xác định như sau:
Bị cáo Vũ Thành T đánh bạc với số tiền 2.000.000 đồng, nên buộc bị cáo phải nộp số tiền 2.000.000 đồng sung vào ngân sách Nhà nước.
Quản lý của bị cáo Phạm Văn L số tiền 9.700.000 đồng, kết quả điều tra xác định số tiền bị cáo dùng đánh bạc là 12.300.000 đồng nên cần tịch thu số tiền 9.700.000 đồng, buộc bị cáo phải nộp tiếp số tiền 2.600.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước.
Quản lý của bị cáo Trần Đức T2 số tiền 3.150.000 đồng, kết quả điều tra xác định số tiền bị cáo dùng đánh bạc 7.400.000 đồng nên cần tịch thu số tiền 3.150.000 đồng, buộc bị cáo phải nộp tiếp số tiền 4.250.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước.
Quản lý của bị cáo Đinh Văn V số tiền 8.300.000 đồng, kết quả điều tra xác định số tiền trên bị cáo dùng đánh bạc là 8.300.000đồng nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Quản lý của bị cáo Đinh Văn H1 số tiền 4.750.000 đồng, kết quả điều tra xác định số tiền bị cáo dùng đánh bạc là 4.750.000đồng nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Quản lý của bị cáo Đinh Văn T5 số tiền 5.100.000 đồng, kết quả điều tra xác định số tiền bị cáo dùng đánh bạc là 5.100.000đồng nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Quản lý của bị cáo Nguyễn Tiến H5 số tiền 3.200.000 đồng, kết quả điều tra xác định số tiền bị cáo dùng đánh bạc là 3.200.000 đồng nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Bị cáo Nguyễn Duy D2 đánh bạc với số tiền 4.000.000 đồng, nên buộc bị cáo phải nộp số tiền 4.000.000 đồng sung vào ngân sách Nhà nước.
Quản lý của bị cáo Nguyễn Trọng Q2 số tiền 2.800.000 đồng, kết quả điều tra xác định số tiền bị cáo dùng đánh bạc 3.400.000 đồng nên cần tịch thu số tiền 2.800.000 đồng, buộc bị cáo phải nộp tiếp số tiền 600.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước.
Cơ quan điều tra đã quản lý số tiền của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm có: Hòa Thành P3 số tiền 2.000.000 đồng, Vũ Văn K1 số tiền 300.000 đồng, Phạm Văn N4 số tiền 300.000 đồng, Hòa Quang T11 số tiền 300.000 đồng, Hà Thành Đ số tiền 1.000.000 đồng, Nguyễn Ngọc H6 số tiền 200.000 đồng, Nguyễn Mạnh H7 số tiền 900.000 đồng, Trần Văn N3 số tiền 500.000 đồng, Nguyễn Tiến M2 số tiền 1.000.000 đồng, Phạm Xuân B số tiền 2.100.000 đồng, Vũ Văn Q1 số tiền 800.000 đồng, Nguyễn Tiến V3 số tiền 1.000.000 đồng, Trần Văn Đ1 số tiền 250.000 đồng, Vũ Hữu T12 số tiền 1.400.000 đồng, Phạm Văn S1 100.000 đồng. Nguyễn Văn P2 số tiền 1.000.000 đồng, đã thu giữ 410.000 đồng (anh P2 còn phải nộp tiếp số tiền 590.000 đồng để sung quỹ nhà nước).
- Tịch thu hóa giá sung quỹ nhà nước 01 đồng hồ treo tường nhãn hiệu Good Time.
- Trả lại cho bị cáo P1 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan số tiền sau đây:
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Đình P1 số tiền 1.700.000 đồng. Trả lại cho các anh Vũ Hữu T12 số tiền 9.050.000 đồng, anh Hà Thành Đ số tiền 4.200.000 đồng, anh Hòa Quang T11 số tiền 7.800.000 đồng, anh Phạm Văn N4 số tiền 6.600.000 đồng, anh Trần Văn Đ1 số tiền 1.150.000 đồng, anh Nguyễn Mạnh H7 số tiền 1.300.000 đồng, anh Nguyễn Ngọc H6 số tiền 1.500.000 đồng, anh Hòa Thành P3 số tiền 1.000.000 đồng, anh Vũ Văn Q1 số tiền 3.600.000 đồng .
- Tịch thu tiêu hủy: 01 tấm quây bằng cao su màu đen, rộng 56cm, dài 10.1m; 02 tấm thảm màu xanh, bằng nhựa, mỗi tấm dài 2.8m, rộng 1.9m. (Tất cả vật chứng nêu trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Công an và Chi cục thi hành án dân sự huyện Thái Thụy ngày 15/9/2023).
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; NQ 326/2016/UBTVQH 14 về Án phí, Lệ phí Tòa án:
Các bị cáo Vũ Thành T, Nguyễn Trọng Q2, Đinh Văn H1, Đinh Văn T5, Trần Đức T2, Đinh Văn V, Nguyễn Duy D2, Phạm Văn L, Nguyễn Tiến H5, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Đình P1.
5. Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
|
Nơi nhận
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Ngô Thế Tương |
Bản án số 171/2023/HSST ngày 21/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH về vụ án hình sự về tội đánh bạc và gá bạc
- Số bản án: 171/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Đánh bạc và Gá bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Thành T và đồng phạm
