Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 7 - HÀ NỘI

Bản án số: 171/2025/HSST.

Ngày: 21 - 11 - 2025.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Bà Nguyễn Thị Minh.
  • 2/ Bà Ngô Thị Yêm.

Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Thông – Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 7 – Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Mai Xiêm - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 172/2025/HSST ngày 05/11/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 185/2025/QĐXXST - HS ngày 11 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thị Y, sinh năm 1970 tại P, Thái Nguyên, căn cước công dân số [...] do Cục cảnh sát cấp ngày 16/4/2021. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 01/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn C (đã chết) và bà Nguyễn Thị S (đã chết), có chồng đã ly hôn, có hai con, lớn sinh năm 1990, nhỏ sinh năm 1993; TATS: Theo Danh, chỉ bản số 41955 của Công an thành phố Hà Nội lập ngày 08/9/2025 và Trích lục tiền án, tiền sự HSTW: 32022301R784C, HSĐP: HNO491624 ngày 08/10/2025 thể hiện bị cáo không có tiền án, có 01 tiền sự: Ngày 23/10/2024, UBND xã B, huyện S, thành phố Hà Nội ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 246/QĐ-XPHC do có hành vi lấn đất do Cơ quan, tổ chức nhà nước đã quản lý được thể hiện trong hồ sơ địa chính thuộc địa giới hành chính của xã bằng hình thức phạt tiền, mức phạt 4.000.000 đồng. Nộp phạt ngày 13/10/2025; Nhân thân không có tiền sự, tiền án đã xóa

Bị cáo bị tạm giam theo Lệnh bắt bị can để tạm giam từ ngày 09/9/2025 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Hà Nội.

Trụ sở: Xã Trung Giã, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Bá H – Chủ tịch UBND xã.

Người đại diện theo uỷ quyền của người đại diện theo pháp luật: Bà Đàm Thị Thu H1 – Chuyên viên Phòng kinh tế xã T, thành phố Hà Nội theo Giấy uỷ quyền tham gia tố tụng ngày 30/10/2025 của Chủ tịch UBND xã T, thành phố Hà Nội. Vắng mặt tại phiên toà, có đơn xin vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Trần Văn Q, sinh năm 1980. Vắng mặt tại phiên toà, có đơn xin vắng mặt.

Nơi cư trú: Thôn L, xã T, thành phố Hà Nội.

2. Ông Bùi Văn H2, sinh năm 1993. Vắng mặt tại phiên toà, có đơn xin vắng mặt.

Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng công khai tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 07/4/2011, gia đình Nguyễn Thị Y, sinh năm 1970 và chồng là Bùi Văn T, sinh năm 1966, cùng trú tại thôn Đ, xã T, thành phố Hà Nội đã chuyển nhượng 01 thửa đất số 4, tờ bản đồ số 16, thôn Đ, xã T, thành phố Hà Nội, diện tích 864m² (trên đất có 01 nhà cấp 4, 200m² đất ao, 250m² đất 64 liền kề) cho ông Dương Văn Q1, sinh năm 1961, trú tại thôn P, xã P, thành phố Hà Nội, giá 640.000.000 đồng. Lúc này, lối đi vào đất là đường ruộng, rộng khoảng 1,5m. Hai bên thỏa thuận: gia đình Y có trách nhiệm mở con đường rộng 3,5m từ đường liên xóm đến diện tích đất ông Q1 mua để làm đường đi chung. Khoảng đầu năm 2018, ông Q1 bán thửa đất trên cho vợ chồng ông Vương Hữu T1, sinh năm 1976 và bà Trần Thị Lan P, sinh năm 1981, trú tại thôn L, xã Đ, thành phố Hà Nội. Ngày 09/02/2018, Sở tài nguyên môi trường thành phố H đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất trên cho ông T1, bà P. Năm 2019, chủ trương của Nhà nước đổ bê tông đường giao thông thôn xóm nên đoạn đường rộng 3,5m nêu trên từ đường liên xóm đến thửa đất nhà ông T1 đã được đổ bê tông. Nhà nước hỗ trợ bê tông còn người dân tự chi trả tiền công thợ theo quyết định số 16 ngày 06/7/2012 của UBND thành phố H về ban hành quy định thí điểm một số chính sách khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp, xây dựng hạ tầng nông thôn giai đoạn 2012 – 2016; quyết định số 1390 ngày 18/4/2019 của UBND huyện S về phê duyệt danh mục các công trình tại xã B thực hiện theo cơ chế đặc thù năm 2019; quyết định số 133 ngày 23/7/2019 của UBND xã B về việc phê duyệt hồ sơ xây dựng công trình thực hiện theo quyết định số 016/2012 của UBND thành phố H (công trình đường giao thông nông thôn xóm C - Đa Hội 2019); quyết định số 242 ngày 19/8/2019 của UBND xã B về việc phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu, chỉ định nhà thầu phụ gói thầu. Ngày 06/11/2019, UBND xã B có văn bản báo cáo hoàn thành thi công xây dựng dự án gửi phòng quản lý đô thị huyện S đối với đường giao thông nông thôn xóm C – Đa Hội năm 2019 (trong đó có đoạn đường ao T6 đi cổng ông T1 có chiều dài 60m, rộng 3m), các bên đã nghiệm thu, thôn Đ, UBND xã B đã tiếp nhận công trình đưa vào sử dụng.

Quá trình đoạn đường được đưa vào sử dụng theo bản đồ địa chính của UBND xã B (nay là xã T) quản lý, không phát sinh vấn đề gì.

Ngày 07/10/2024, ông T1, bà P đã chuyển nhượng thửa đất trên cho ông Đàm Văn T2, sinh năm 1985, trú tại thôn N, xã T, thành phố Hà Nội.

Nguyễn Thị Y nhận thức đường do Y đắp đất ruộng nhà Y nên Y là người quyết định đối với con đường, Y chỉ đồng ý cho ông Q1 sử dụng đường đi trên vào đất, còn nếu ông Q1 bán đất cho người khác muốn sử dụng đường thì phải có sự đồng ý của Y. Do vậy, khoảng tháng 5/2020, Y đã xây hàng gạch cao 15cm, dài 8m nằm trên đoạn đường bê tông là lối đi vào thửa đất.

Ngày 07/10/2024, tổ công tác UBND xã B kiểm tra hiện trạng sử dụng đất tại thôn Đ, xã B xác định lối đi vào thửa đất trên đã được đổ bê tông nhưng qua thực tế có hàng gạch xây dựng cao 15cm, dài 8m nằm trên phần đường giao thông. UBND xã đã lập biên bản kiểm tra, kết luận: “Hiện lối đi vào thửa đất là đường dân sinh do UBND xã quản lý. Nghiêm cấm các hộ xây dựng rào chắn ngăn cản đường dân sinh. Nếu hộ gia đình nào cố tình vi phạm sẽ xử lý theo quy định”. Ngày 17/10/2024, tổ công tác UBND xã B kiểm tra hoạt động xây dựng, hiện trạng sử dụng đất tại thôn Đ, xã B phát hiện xây dựng 03 đoạn tường rào trên đoạn đường ao T6 đi cổng ông T1 (đường giao thông xóm C, thôn Đ, xã B), cụ thể:

  • Đoạn 1: Dài 2,47m, cao 0,86m, tường xây gạch 110mm.
  • Đoạn 2: Dài 8m, cao 0,15m, tường xây gạch 220mm.
  • Đoạn 3: Dài 11,2m, cao 0,15m, tường xây gạch 110mm.

Ngày 18/10/2024, UBND xã B lập biên bản vi phạm hành chính về lĩnh vực đất đai đối với bà Y về hành vi lấn đất do cơ quan, tổ chức nhà nước quản lý, cụ thể là tự ý xây dựng tường rào trên phần diện tích đất đường giao thông do UBND xã quản lý. Ngày 23/10/2024, UBND xã B đã ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bà Y, mức phạt 4.000.000 đồng, buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu.

Cùng ngày 28/10/2024, anh Bùi Văn H2, sinh năm 1993, trú tại thôn Đ, xã T (là con trai của Y) dùng số điện thoại 0944.386.xxx nhắn tin cho ông T2 với nội dung “bố mẹ em lấy 250tr bố mẹ mở rộng đường ra cho anh chị, nếu được thì vợ chồng anh chị lên nói chuyện với bố mẹ e”. Ông T2 trả lời lại “chỉ hỗ trợ 40 - 50 triệu là tối đa nếu được thì sẽ lên nói chuyện” nhưng H2 không đồng ý.

Do vậy, Y có bảo anh Bùi Văn H2 gọi người đến để cắt đục bê tông. Ngày 14/11/2024, anh H2 liên hệ anh Trần Văn Q, sinh năm 1980, trú tại thôn L, xã T để trao đổi về việc cắt đục bê tông và hẹn anh Q đến nhà Y để nói chuyện cụ thể công việc, thỏa thuận giá cả, anh Q đồng ý. Sáng 15/11/2024, anh Q đến nhà Y nhưng cả Y và anh H2 đều không có nhà. Anh Q gọi điện thoại cho anh H2 thì anh H2 hướng dẫn anh Q qua điện thoại là cắt, đục như Y đã dặn anh H2 là phần đường bê tông trong vị trí tường gạch xây ở giữa đường đến tường rào nhà anh C1 có chiều ngang 1,5m và dài khoảng 7 – 8m. Anh Q báo giá tiền công là 2.000.000 đồng, anh H2 đồng ý. Ngày 16/11/2024, anh Q mang máy cắt đến nhà Y để cắt bê tông theo vị trí anh H2 đã hướng dẫn trước đó. Anh Q dùng máy cắt toàn bộ đoạn đường thành từng ô kích thước (40 x 40) cm trong ngày 16/11/2024. Sau khi cắt xong, do bận công việc nên anh Q hẹn vài ngày sau sẽ đến để đục bê tông lên. Ngày 19/11/2024, anh Q đến nhà Y tiếp tục thi công nốt công việc. Chiều cùng ngày, tổ công tác UBND xã tổ chức kiểm tra hiện trạng, Y chưa khắc phục tình trạng của đất trước khi vi phạm nên UBND xã B đã ra Quyết định số 157 về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực đất đai đối với Y. Đồng thời, phát hiện Q đang tiến hành dùng máy đục bê tông được cắt sẵn tại đoạn đường nêu trên, cụ thể: Đoạn đường bị cắt chưa đục có tổng diện tích 21,245m²; 01 đoạn đường bị cắt đục lộ phần nền đất có tổng diện tích 8,09325m², độ dày 16cm nên tổ công tác đã lập biên bản và bàn giao vụ việc cho Công an xã B giải quyết.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 105/KL-HĐ ngày 26/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện S kết luận:

  • 01 (một) đoạn đường bê tông dày 16cm, diện tích 21,245m², không rõ mác bê tông, được làm mới năm 2019. Thời điểm định giá ngày 19/11/2024, tài sản bị thiệt hại có giá trị là 4.216.400 đồng (Bốn triệu, hai trăm mười sáu nghìn, bốn trăm đồng).
  • 01 (một) đoạn đường bê tông dày 16cm, diện tích 8,09325m², không rõ mác bê tông, được làm mới năm 2019. Thời điểm định giá ngày 19/11/2024, tài sản bị thiệt hại có giá trị là 1.606.231 đồng (Một triệu, sáu trăm linh sáu nghìn, hai trăm ba mươi mốt đồng)

Tổng cộng là: 5.822.631 đồng (Năm triệu, tám trăm hai mươi hai nghìn, sáu trăm ba mươi mốt đồng)

Ngày 19/12/2024 tiến hành làm việc với UBND xã B xác định về nguồn gốc thửa đất như sau:

Nguồn gốc đất liên quan đến đoạn đường bị cắt, đục bê tông ngày 19/11/2024 tại thôn Đ, xã B, huyện S, thành phố Hà Nội: Từ năm 2011 sau quá trình mua bán chuyển nhượng giữa gia đình ông Bùi Văn T, bà Nguyễn Thị Y với ông Dương Văn Q1, hai bên đã thống nhất để đường đi theo Hợp đồng chuyển nhượng là 3,5m chiều rộng vào đến đất. Sau đó hai bên hộ gia đình đã thực hiện việc chuyển nhượng và cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên đã hình thành đoạn đường trên là đường dân sinh. Đến năm 2018, ông Dương Văn Q1 chuyển nhượng cho người khác thì đoạn đường trên vẫn được thể hiện là đường dân sinh. Năm 2019, UBND xã B đã thực hiện đổ đường bê tông theo đề xuất của thôn. Từ đó đến nay, trên bản đồ đo đạc dự án tổng thể của xã B năm 2016 và bản đồ quy hoạch xây dựng xã B được UBND huyện S phê duyệt theo Quyết định số 1825 ngày 22/6/2020, bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2030 được UBND thành phố H phê duyệt theo Quyết định số 257 ngày 19/01/2022 thể hiện đoạn đường trên là đường dân sinh.

Căn cứ công văn số 124 ngày 11/4/2025 của UBND xã B thể hiện:

  • Sau dồn điền đổi thửa, đoạn đường dân sinh được mở rộng 3,5m theo thỏa thuận mua bán giữa gia đình ông Bùi Văn T và ông Dương Văn Q1 không giao cho ai mà được hình thành đường dân sinh - đường giao thông do UBND xã quản lý (được thể hiện theo bản đồ tổng thể xã B, bản đồ Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2030 huyện S được UBND thành phố H phê duyệt tại Quyết định số 257 ngày 19/01/2022 về việc phê duyệt quy hoạch sử dụng đất đến năm 2030 huyện S; quy hoạch chung xây dựng xã B được UBND huyện S phê duyệt theo Quyết định số 1825 ngày 22/6/2020).
  • Đối với đoạn đường bị cắt, đục bê tông được xây dựng theo chủ trương Nhà nước và nhân dân cùng làm, sau khi nghiệm thu đoạn đường có chiều dài và chiều rộng theo báo cáo hoàn thành thi công dự án ngày 06/11/2019 và biên bản bàn giao công trình hoàn thành đưa vào sử dụng ngày 06/11/2019 của UBND xã B tại thứ tự số 8, tên tuyến Ao Tầu đến cổng nhà ông T (đất cũ đã chuyển nhượng) với chiều dài tuyến 60m và rộng 3m. Thực tế vị trí bị cắt đục nằm trọn trong chiều dài 60m của tuyến trên. Sau khi nghiệm thu, tại mục 5 Kết luận của biên bản bàn giao công trình hoàn thành đưa vào sử dụng ngày 06/11/2019 của UBND xã B ghi rõ: UBND xã B, thôn Đ tiếp nhận công trình để đưa vào quản lý sử dụng. Do vậy, tuyến đường sau khi nghiệm thu do UBND xã B quản lý.

Căn cứ Biên bản làm việc ngày 08/4/2025 tại UBND xã B với ông K (nguyên trưởng thôn Đa Hội), ông S1 (trưởng thôn Đ) và ông Bùi Xuân T3, ông Bùi Văn T4, ông Chu Văn C2, ông Nguyễn Văn T5 và ông Vũ Văn H3 (đều là nguyên thành viên tiểu ban dồn điền đổi thửa thôn Đ thể hiện:

  • Diện tích đất nông nghiệp giao theo Nghị định 64 và diện tích giao đất sau dồn điền đổi thửa đối với hộ ông T, bà Y đã đủ so với tiêu chuẩn được giao.
  • Vị trí, diện tích đoạn đường từ Ao Tàu đến cổng đất nhà ông T cũ (đã chuyển nhượng) không nằm trong diện tích được giao theo Nghị định 64 và không được giao đất khi thực hiện dồn điền đổi thửa. Thực tế là đường dân sinh do UBND xã quản lý đã đổ bê tông theo Quyết định số 16, đã được thôn Đ và UBND xã B nghiệm thu năm 2019.

Về dân sự: Gia đình Y đã tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng trên đất và khắc phục đổ bê tông đối với phần diện tích đường bê tông đã cắt đục. UBND xã không có yêu cầu đề nghị gì thêm về dân sự.

Quá trình điều tra, Nguyễn Thị Y đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên. Ngoài ra, Y khai khoảng năm 2019, Nhà nước làm đường bê tông cho người dân sinh sống tại thôn Đ theo chủ trương Nhà nước và nhân dân cùng làm, Nhà nước hỗ trợ nguyên vật liệu, người dân trả tiền công thợ. Tuyến đường Ao Tàu trước cửa nhà Y cũng được đổ bê tông. Lúc này, Y hỏi ông Nguyễn Văn S1, sinh 1970, trú tại thôn L, xã T (làm trưởng thôn Đa Hội, xã B từ năm 2018 đến nay) về việc đổ đường bê tông thì ông S1 bảo nhà Y có được đổ bê tông nhưng là đường tư nhân nên phải mua bê tông hết 3.000.000 đồng. Y biết với số tiền 3.000.000 đồng không thể đổ đoạn đường trên nhưng do ông S1 bảo đưa nên Y vẫn đồng ý. Sau đó, Y đã đưa cho ông S1 3.000.000 đồng tại nhà Y, việc đưa tiền không có giấy tờ gì, chỉ có Y, ông S1. Sau khi Y đưa tiền cho ông S1 thì chồng Y là Bùi Văn T, sinh năm 1966 có biết. Ngoài số tiền trên, Y còn trả anh Bùi Văn H4, sinh 1982, trú tại thôn P, xã T, thành phố Hà Nội tiền công thợ đổ bê tông là 1.500.000 đồng. Khoảng cuối năm 2019, đoạn đường hoàn thành, dài khoảng 61m. Khoảng thời gian này, nghe mọi người hàng xóm nói đổ đường chỉ mất tiền công thợ, không mất tiền nguyên vật liệu nên Y nhận thức rõ đoạn đường trên được Nhà nước đổ bê tông nên sau khi hoàn thành là đường do nhà nước quản lý. Về nguồn gốc đất làm đường bê tông, Y khai năm 2013 khi được chia đất ruộng dồn điền đổi thửa thì Y đã mở rộng con đường đi từ 1,5m thành 3,5m bằng cách đắp thêm đất ruộng nhà Y. Tuy nhiên, Y không cung cấp được giấy tờ, tài liệu chứng minh nguồn gốc đất.

Đối với anh Bùi Văn H2 là con trai Y, không sinh sống cùng nhà với Y từ khoảng năm 2019, 2020 đến nay. Quá trình điều tra xác định, anh H2 không biết nguồn gốc đoạn đường bị cắt đục là của UBND xã B quản lý, mà chỉ được Y nói lại đoạn đường thuộc đất nông nghiệp của gia đình mình. Vào năm 2019, khi đoạn đường được thi công thì anh H2 thường xuyên đi làm xa, không có mặt tại địa phương nên không biết đoạn đường do ai đổ, chỉ được nghe Y kể khi đổ đường gia đình bỏ tiền mua bê tông và trả tiền công thợ. Anh H2 cũng chỉ biết phần đất cạnh Ao Tàu, gia đình anh H2 đã bán cho người khác còn thỏa thuận cụ thể như nào anh H2 không biết. Khi Y bảo anh H2 thuê người đến đục đường bê tông, mục đích để lấy lại đất để trồng rau nên anh H2 nghĩ đoạn đường này là thuộc diện tích đất của gia đình anh H2. Do vậy, không đủ căn cứ xử lý anh H2 về hành vi Hủy hoại tài sản.

Đối với việc Y bảo anh H2 trao đổi với ông T4 về việc hỗ trợ tiền để được sử dụng lối đi chung là đoạn đường bê tông trên, sau đó anh H2 nhắn tin cho ông T4 “bố mẹ em lấy 250tr bố mẹ mở rộng đường ra cho anh chị, nếu được thì vợ chồng anh chị lên nói chuyện với bố mẹ e” nhưng ông T4 không đồng ý. Quá trình điều tra làm rõ ngoài việc nhắn tin trên anh H2 không có hành vi, lời nói nào ép ông T4 phải đưa tiền. Sau đó, ông T4 không đưa tiền cũng không đi trình báo. Việc Y xây dựng tường hay đục đường chỉ gây khó khăn chứ không chặn hết lối đi vào đất nhà ông T4, gia đình ông T4 cũng không sinh sống tại thửa đất này. Do vậy, không đủ căn cứ xử lý H2, Y về hành vi Cưỡng đoạt tài sản.

Đối với anh Trần Văn Q, được anh H2 thuê và trả công để cắt đục đường bê tông, nhưng do chưa làm xong nên chưa được trả tiền. Khi thuê anh Q, anh H2 và Y nói đoạn đường bê tông trên là của gia đình Y, muốn cắt đục lên để trồng rau. Đồng thời, khi anh Q đến thì khu vực đường bê tông trên đã được xây tường bao quanh nên anh Q không biết nguồn gốc đoạn đường bê tông bị đục cắt. Do vậy, không đủ căn cứ xử lý anh Q về hành vi Hủy hoại tài sản.

Đối với việc Y khai vào năm 2019, khi thực hiện việc đổ đường bê tông đoạn Ao Tàu đi qua cổng nhà Y, Y đã đưa cho ông Nguyễn Văn S1 số tiền 3.000.000 đồng để mua bê tông. Quá trình điều tra ông S1 không thừa nhận, mặt khác ngoài lời khai của Y, không có tài liệu chứng minh. Tiến hành cho Y và ông S1 đối chất, ông S1 khẳng định không nhận số tiền trên của Y, bê tông làm đường là do Nhà nước cung cấp, Y chỉ thanh toán tiền công trực tiếp cho thợ. Do vậy, không có căn cứ để xem xét, xử lý.

Quá trình điều tra, bà Trần Thị Lan P khai năm 2019, khi có chủ trương làm đường thì Y có thông báo cho bà P biết và nói về chi phí làm đường sẽ hết 15.000.000 đồng do khu vực đó chỉ có nhà Y và bà P nên Y yêu cầu mỗi nhà đóng góp 1 nửa. Bà P đồng ý và đã đưa cho Y số tiền 7.500.000 đồng tiền mặt. Y khai không có việc bà P đưa tiền cho Y như trên. Do bà P không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì chứng minh việc đưa tiền cho Y, đồng thời bà P có đơn kiên quyết từ chối đối chất với Y và không có yêu cầu đề nghị gì. Do vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ đề xem xét, xử lý.

Tại bản Cáo trạng số 21/CT-VKS ngày 30/10/2025, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 – Hà Nội đã truy tố: Bị cáo Nguyễn Thị Y về tội Huỷ hoại tài sản theo Khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận hành vi của mình như cáo trạng đã nêu, ăn năn, hối cải về hành vi của mình và mong được hưởng sự khoan hồng của pháp luật. Số tiền thuê anh Q cắt đục bê tông bị cáo xác định là 2.000.000 đồng nhưng chưa thanh toán cho anh Q vì anh Q bảo khi nào làm xong thì lấy tiền công. Bị cáo thừa nhận mình có biết đọc và có thể viết nhưng hay bị sai chính tả.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 – Hà Nội giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố bị cáo về tội danh như Cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng Khoản 1 Điều 178, Điểm b, i, s Khoản 1 Điều 51, khoản 3 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt:

Nguyễn Thị Y: Từ 04 tháng đến 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/9/2025 và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo

Về phần dân sự: Bị cáo đã khắc phục xong tài sản bị huỷ hoại và bị hại không yêu cầu gì thêm về phần dân sự nên không phải giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
  2. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Trong khoảng thời gian ngày 16 và ngày 19/11/2024, tại thôn Đ, xã B, huyện S, thành phố Hà Nội (nay là thôn Đ, xã T, thành phố Hà Nội), Nguyễn Thị Y đã có hành vi thuê anh Trần Văn Q cắt, đục đoạn đường bê tông Ao Tàu đi cổng ông T (đường giao thông xóm C, thôn Đ, xã T) do UBND xã T, Hà Nội quản lý khiến phần đường bị hư hỏng toàn bộ, trị giá tài sản bị cắt, đục là 5.822.631 đồng.

    Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi Huỷ hoại tài sản phù hợp với lời khai của bị hại, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Do đó, đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn Thị Y phạm tội Huỷ hoại tài sản theo Khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.

  3. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ xác định: Bị cáo không phải chịu các tình tiết tăng nặng.

    Bị cáo thành khẩn khai báo hành vi của mình và ăn năn, hối cải; đã khắc phục hậu quả nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo Điểm b, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    Bị cáo chưa có tiền án nhưng bên cạnh hành vi huỷ hoại tài sản thuộc sự quản lý của tập thể bị cáo còn có những hành vi liên quan khác nên xác định hành vi của bị cáo không thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên không cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ: Phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo có 01 tiền sự về hành vi lấn chiếm đất do cơ quan, tổ chức nhà nước đã quản lý; có hành vi đăng các thông tin liên quan đến người thi hành công vụ trên mạng đang được các cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết nên khi lượng hình cần áp dụng hình phạt tương xứng với mức độ hành vi và giảm nhẹ một phần cho bị cáo cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Do bị cáo là lao động tự do, có tài liệu xác định đang có bệnh cần điều trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

  4. Về phần dân sự: Đối với tài sản bị làm hư hỏng, bị cáo đã khắc phục và bị hại không có yêu cầu gì khác nên Tòa án không giải quyết.

    Đối với khoản tiền thuê mướn giữa bị cáo và anh H2, anh Q, anh Q không đề nghị nên Toà án không giải quyết.

  5. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Y phạm tội Huỷ hoại tài sản.

Áp dụng Khoản 1 Điều 178, Điểm b, s Khoản 1 Điều 51, Khoản 3 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Thị Y 04 (bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/9/2025.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106, Điều 136, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về phần dân sự: Bị cáo đã khắc phục hậu quả đối với tài sản bị thiệt hại và bị hại không có yêu cầu gì khác nên Tòa án không giải quyết.

Số tiền thuê mướn đục phá bê tông giữa Nguyễn Thị Y, anh H2 và anh Q, anh Q tự nguyện không yêu cầu nên Toà án không giải quyết.

Bị cáo Nguyễn Thị Y phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ được kháng cáo về phần quyền lợi, nghĩa vụ của mình có liên quan trong bản án/.

Nơi nhân:

  • - VKSND Khu vực 7 – Hà Nội;
  • - PV06 Công an thành phố Hà Nội;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự;
  • - Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Thu Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 171/2025/HSST ngày 21/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HÀ NỘI về huỷ hoại tài sản

  • Số bản án: 171/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Huỷ hoại tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Y Huỷ hoại tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger