|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN H THÀNH PHỐ H |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NVIỆT N Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 171/2025/HS-ST
Ngày: 17/06/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NVIỆT N
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN H, THÀNH PHỐ H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Hồng Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Vỹ
Bà Trần Thị Kim Dung
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Quang – Thư ký Tòa án nhân dân quận H, thành phố H.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận H, thành phố H tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hương- Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận H, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 171/2025/TLST- HS ngày 02 tháng 06 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 168/2025/QĐXXST- HS ngày 03 tháng 06 năm 2025, đối với các bị cáo:
1. N, sinh năm: 1990; tại: H; Nơi thường trú: Số 380, phố T, phường T, quận H, H; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: kinh; giới tính: N; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt N; con ông: Nguyễn Tiến Phương và bà: Phạm Thị Bích Ngà; Vợ: Đỗ Thanh Huyền; Có 03 con: sinh năm 2017, 2012, 2022; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: chưa bị kết án, chưa bị xử lý hành chính, xử lý kỷ luật; bị bắt, tạm giữ ngày 03/11/2024; tạm giam ngày 08/11/2024; Bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2- Công an thành phố H(có mặt).
2. T, sinh năm: 2003, tại: Q; Nơi thường trú: Thôn B, xã V, thành phố T, tỉnh Q; Tạm trú: Số 17 hẻm 183/60/4 L, tổ 25, phường V, quận H, H; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt N; con ông: Vũ Lê Huy và bà: Nguyễn Thị Tin; Có 01 con sinh năm 2019; tiền sự: không; tiền án: không; nhân thân: chưa bị kết án, chưa bị xử lý hành chính, xử lý kỷ luật; bị bắt, tạm giữ ngày 03/11/2024; tạm giam ngày 08/11/2024; Bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2- Công an thành phố H(có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
[1]. Khoảng 03 giờ 00 phút ngày 03/11/2024, sau khi đi làm về, T, N, A(sinh năm: 1987; HKTT: 65 L,T, H, H), L, phường L), T(sinh năm: 1996; HKTT: Khu 7 phường N H, thị xã Q, Q) cùng nhau đi ăn uống rồi rủ nhau về nhà T ở địa chỉ số 17 hẻm 183/60/4 L, tổ 25 V, H, H, để cùng sử dụng ma túy. Lúc này, N chuyển cho T số tiền 4.000.000 đồng mục đích mua ma túy để cả nhóm cùng nhau sử dụng. T liên hệ qua facebook với một người sử dụng tài khoản “Thần Đèn” hỏi mua 01 chỉ ketamine và 04 viên ma túy “kẹo”. Người này đồng ý bán và hẹn T đến khu vực đầu cầu Thanh Trì thuộc huyện Gia Lâm để lấy ma túy. Sau khi ăn xong, Tuấn và An đi trước về đứng chờ ở cửa nhà T, N đi cùng Tvề nhà T sau. Còn T một mình đi đến khu vực đầu cầu Thanh Trì để mua ma túy, trên đường đi T chuyển khoản cho “Thần Đèn” số tiền 4.000.000 đồng vào tài khoản số 46789103333, chủ tài khoản “TRINH XUAN BAC”, ngân hàng VP Bank. Sau khi chuyển tiền xong và đến khu vực đầu cầu Thanh Trì, T liên lạc lại với “Thần Đèn” thì được người này cho biết ma túy được giấu trong gói kẹo để ở rìa đường. T tìm và lấy được ma túy rồi đi về nhà ở địa chỉ số 17 hẻm 183/60/4 L. Khoảng 6 giờ 15 phút cùng ngày T về đến nhà thì có Tuấn và An đang chờ ở cửa.T bỏ ma túy ra và lấy đĩa, thẻ nhựa, tẩu hút để sử dụng ma túy. Khoảng 15 phút sau thì N và Tđến nên tất cả 05 người cùng nhau sử dụng ma túy “kẹo” và ketamine đến khoảng 8 giờ 00 phút cùng ngày, khi tất cả đang sử dụng ma túy tại phòng thì cơ quan công an kiểm tra hành chính, phát hiện và thu giữ số ma túy cùng dụng cụ còn lại trong phòng đang sử dụng nhưng chưa hết. Cụ thể, quá trình kiểm tra, T có giao nộp tại vị trí trên giường trong phòng có 01 túi nilông màu trắng kích thước (4x6,5) cm bên trong chứa 01 viên nén màu xám; 01 túi ni lông kích thước (4x4) cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng; 01 đĩa sứ màu trắng đường kính 20cm trên đĩa có 01 mảnh viên nén màu xám; 01 tẩu hút tự tạo được quấn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng và 01 thẻ nhựa màu xanh đỏ. Tại chỗ các đối tượng khai nhận tinh thể màu trắng và viên nén màu xám (còn lại) là ma túy do các đối tượng đang cùng nhau sử dụng . Tổ công tác đã lập biên bản, thu giữ và niêm phong vật chứng (nghi ma túy) và đưa các đối tượng về trụ sở cơ quan Công an để điều tra.
Vật chứng vụ án:
* Thu giữ của T:
- 01 túi nilông màu trắng kích thước (4x6,5) cm bên trong chứa 01 viên nén màu xám;
- 01 túi ni lông kích thước (4x4) cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng;
- 01 đĩa sứ màu trắng đường kính 20cm trên đĩa có 01 mảnh viên nén màu xám;
- 01 tẩu hút tự tạo được quấn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng;
- 01 thẻ nhựa màu xanh đỏ;
- 01 loa màu xanh;
- 01 đèn màu xanh đen;
- 01 điện thoại di động Iphone 15 promax màu xám (đã qua sử dụng);
* Thu giữ của N:
- 01 điện thoại di động Iphone màu đen, số imei: 350905825062975 (đã qua sử dụng);
- Số tiền 700.000 đồng nộp tài khoản Chi cục thi hành án Dân sự quận H chờ xử lý.
Kết luận giám định số 7953/KL-KTHS ngày 12/11/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố H, kết luận:
- Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong là ma túy loại Ketamine, khối lượng 1,025 gam;
- 01 viên nén màu xám có ma túy loại Methamphetamine, ma túy loại MDMA và ma túy loại Ketamine, khối lượng: 0,403 gam;
- 01 mảnh viên nén màu xám có ma túy loại Methamphetamine, ma túy loại MDMA và ma túy loại Ketamine, khối lượng: 0,080 gam;
- 01 đĩa sứ màu trắng đường kính 20cm, 01 thẻ nhựa màu xanh đỏ, 01 tẩu hút tự tạo được cuốn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng đều có dính ma túy loại Ketamine.
Tại Kết luận giám định số 10340/KL-KTHS ngày 08/01/2025 của Viện Khoa học Hình sự - Bộ Công an, kết luận:
- Khối lượng chất ma túy loại Methamphetamine, MDMA và Ketamine có trong 0,255 gam mẫu viên nén màu xám gửi giám định lần lượt là 0,0035 gam; 0,1037gam và 0,0127 gam;
- Khối lượng chất ma túy loại Methamphetamine, MDMA và Ketamine có trong 0,051 gam mẫu viên nén màu xám gửi giám định lần lượt là 0,0007 gam; 0,0204 gam và 0,0025 gam.
Tại cơ quan công an, T, N và A, T, Tcó lời khai nhận hành vi như trên phù hợp với nhau và với vật chứng thu giữ được.
Số tiền mua ma túy để cả nhóm sử dụng là do N chuyển khoản cho T. N không yêu cầu ai đóng góp tiền mua ma túy. N không biết T mua ma túy của ai.
Đối với người bán ma túy cho T, T khai là một người đàn ông T liên hệ qua facebook có tên “Thần Đèn” và T chuyển khoản tiền mua ma túy cho người này vào tài khoản ngân hàng TP Bank số 46789103333, chủ tài khoản là B, sinh ngày: 18/10/2005, hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố H, phường T, thành phố T, H. Tiến hành xác minh thông tin của B, được công an phường T cung cấp bản ảnh của B và cung cấp thông tin hiện gia đình B đã bán nhà chuyển đến nơi khác sinh sống. Tiến hành cho T nhận dạng qua ảnh đối với người tên B, kết quả T xác định không phải người có tên “Thần Đèn” bán ma túy cho T. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã tách tài liệu liên quan đến người tên “Thần Đèn” để xác minh làm rõ xử lý sau.
Đối với nơi các đối tượng sử dụng ma túy là phòng tầng 3 số 17 hẻm 183/60/4 L, tổ 25 V, H, H, là phòng do T thuê của bà N(sinh năm 1958, HKTT và nơi ở: Tổ 25 phường V, H, H) từ khoảng tháng 12/2023 đến nay. Bà Nkhai cho T thuê với giá 2.000.000 đồng/tháng, phòng đó chỉ có một mình T ở và bà Nvới T có thỏa thuận với nhau trong thời gian T thuê ở thì T toàn quyền quản lý căn phòng. Việc T sử dụng ma túy bà Nkhông biết.
Đối với A, T, T, ngày 03/11/2024, các đối tượng có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vi phạm khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021. Ngày 06/02/2025, Công an quận H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với A, T, T, hình thức xử phạt là phạt tiền, mức phạt 1.500.000 đồng/người.
Cáo trạng số 166/CT-VKSHM ngày 30/05/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận H đã truy tố N, T tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý quy định tại Điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
[2] Tại phiên tòa: Bị cáo N, T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng số 166/CT-VKSHM ngày 30/05/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận H đã truy tố. Các bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình bị truy tố là đúng tội, quá trình điều tra không bị ai đánh đập, đe dọa, ép cung.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận H sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử :
Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt:
N từ 07 năm tù đến 07 năm 06 tháng tù;
T từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù;
Không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với các bị cáo;
Tịch thu tiêu huỷ:
- 01 bao niêm phong bên trong 01 đĩa sứ màu trắng đường kinh 20cm; 1,025 gam Ketamine; 0,483 gam Methamphetamine, MDMA và ketamine; 01 thẻ nhựa màu đỏ;
- 01 bao niêm phong bên trong có 01 tẩu hút tự tạo bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng
-Tịch thu sung ngân sách nhà nước:
- 01 loa màu xanh; 01 đèn màu xanh;
-Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax màu xám; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen
-Trả lại cho bị cáo N số tiền 700.000 đồng
[3]. Phần tranh luận tại phiên tòa: Các bị cáo thừa nhận nội dung truy tố, luận tội đối với hành vi phạm tội của bị cáo mà Kiểm sát viên đã đưa ra là đúng, không oan, sai nên không có tranh luận gì.
[4]. Lời nói sau cùng của bị cáo: Các bị cáo hối hận về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Hoàng Mai, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Xét hành phạm tội của bị cáo: Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa thể hiện: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng thu được trong vụ án và kết luận giám định. Đủ cơ sở kết luận:
Trong khoảng 06h 15 phút ngày 03/11/2024 tại phòng tầng 3, hẻm 183/60/4 L, tổ 25, phường V, quận H, H, N và T đã có hành vi cung cấp dụng cụ, ma túy tổng hợp loại Methamphetamine, MDMA và ketamine cho các đối tượng Vi Hồng An, T, Tcùng N và T sử dụng trái phép.
Đến 08 giờ 00 cùng ngày, khi các đối tượng đang cùng nhau sử dụng ma túy thì bị lực lượng công an kiểm tra hành chính, phát hiện và bắt giữ cùng vật chứng. Thu giữ tại chỗ: 1,025 gam Ketamine; 0,483 gam Methamphetamine, MDMA và Ketamine- là khối lượng ma túy mà N, T cùng các đối tượng khi bị bắt giữ chưa sử dụng hết.
Các bị cáo N và T có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi chuẩn bị dụng cụ, cung cấp chất ma túy cho 03 đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy của N và T đã đủ yếu tố cấu thành tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo Điểm b Khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân quận H truy tố theo tội danh và điều luật trên là hoàn toàn đúng pháp luật.
[3].Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Tính chất vụ án là nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm, tiếp tay cho các tệ nạn buôn bán ma túy ngày càng phát triển. Các bị cáo biết được tác hại của ma túy nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội nhằm mục đích thỏa mãn sự nghiện ngập của bản thân.
Vụ án có hai bị cáo là đồng phạm giản đơn. Bị cáo T là người chủ động và khởi xướng, rủ rê cho các đối tượng khác về nơi cư trú của T để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo T là người trực tiếp mua ma túy, sử dụng nơi ở của mình và cung cấp các dụng cụ để cùng với N đã tổ chức cho 03 đối tượng cùng với các bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo N là người chủ động đưa tiền cho T và khi T khởi xướng sử dụng tiền N cho để mua ma túy về cho các đối tượng cùng sử dụng thì N cũng đồng ý. Vì vậy cần phải xử phạt các bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất hành vi phạm tội cũng như nhân thân của các bị cáo mới có tác dụng giáo dục các bị cáo và để đảm bảo công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm.
Khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét: các bị cáo khai báo thành khẩn hành vi phạm tội, thái độ tỏ ra ăn năn hối cải, nhân thân chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu; Bị cáo N có bác ruột là liệt sỹ, bố đẻ bị cáo N được Chủ tịch UBND quận H tặng Giấy khen về thành tích nhanh chóng chữa cháy và dũng cảm cứu người bị nạn trong đám cháy. Nên áp dụng điểm s khoản 1, (Khoản 2 đối với bị cáo N), Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
[4]. Hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy các bị cáo không có thu nhập ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo.
[5]. Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Đối với vật chứng của vụ án gồm khối lượng ma túy và dụng cụ dùng để sử dụng ma túy cần tịch thu tiêu hủy, cụ thể: 01 bao niêm phong bên trong 01 đĩa sứ màu trắng đường kinh 20cm; 1,025 gam Ketamine; 0,483 gam Methamphetamine, MDMA và ketamine; 01 thẻ nhựa màu đỏ; 01 bao niêm phong bên trong có 01 tẩu hút tự tạo bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng có dinh ma túy;
- Đối với 01 loa màu xanh; 01 đèn màu xanh là phương tiện các bị cáo sử dụng thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax màu xám thu giữ của T, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen thu giữ của N, các bị cáo sử dụng để liên lạc thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.
- Đối với số tiền 700.000 đồng thu giữ của N, là tài sản của N không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo N.
[6]. Về các vấn đề khác:
Về nguồn gốc số ma túy tổng hợp T khai liên hệ mua của một người qua facebook có tên “Thần Đèn” và T chuyển khoản tiền mua ma túy cho người này vào tài khoản ngân hàng TP Bank số 46789103333, chủ tài khoản là Trịnh Xuân Bắc. Kết quả xác minh, tài khoản ngân hàng TP Bank số 46789103333 thì chủ tài khoản là Trịnh Xuân Bắc, sinh ngày: 18/10/2005, hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố Hà Tây, phường Thủy Hà, thành phố Thủy Nguyên, Hải Phòng. Tiến hành xác minh thông tin của Trịnh Xuân Bắc, được công an phường Thủy Hà cung cấp bản ảnh của Trịnh Xuân Bắc và cung cấp thông tin hiện gia đình Trịnh Xuân Bắc đã bán nhà chuyển đến nơi khác sinh sống. Tiến hành cho T nhận dạng qua ảnh đối với người tên Trịnh Xuân Bắc, kết quả T xác định không phải người có tên “Thần Đèn” bán ma túy cho T. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã tách tài liệu liên quan đến người tên “Thần Đèn” để xác minh làm rõ xử lý sau.
Đối với nơi các đối tượng sử dụng ma túy là phòng tầng 3 số 17 hẻm 183/60/4 L, tổ 25 V, H, H, là phòng do T thuê của bà N(sinh năm 1958, HKTT và nơi ở: Tổ 25 phường V, H, H) từ khoảng tháng 12/2023 đến nay. Bà Nkhai cho T thuê với giá 2.000.000 đồng/tháng, phòng đó chỉ có một mình T ở và bà Nvới T có thỏa thuận với nhau trong thời gian T thuê ở thì T toàn quyền quản lý căn phòng. Việc T sử dụng ma túy bà Nkhông biết. Vì vậy, không có cơ sở để xử lý đối với bà Nghĩa.
Kết quả kiểm tra 03 đối tượng Đối với A, T, Tcó mặt tại phòng tầng 3 số 17 hẻm 183/60/4 L, tổ 25 V, H, H tại thời điểm kiểm tra hành chính ngày 03/11/2024 đều dương tính với ma túy. Hành vi của các đối tượng An, Tuấn, Thơm, ngày 03/11/2024 đã vi phạm khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021. Ngày 06/02/2025, Công an quận H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với A, T, T, hình thức xử phạt là phạt tiền, mức phạt 1.500.000 đồng/người.
Tại phiên tòa, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát truy tố bị cáo N và T tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý quy định tại Điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự và các điều luật quy định tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, đề xuất mức án đối với các bị cáo và biện pháp tư pháp là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
[7]. Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; Khoản 1 Mục 1 Danh mục án phí lệ phí Tòa án.
[8]. Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH
[1].Căn cứ: - Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: N 07 năm 02 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/11/2024.
*Căn cứ: - Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: T 07 năm 08 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/11/2024.
[3].Căn cứ:- Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với các bị cáo.
- Biện pháp tư pháp:
+Tịch thu tiêu huỷ: 01 bao niêm phong bên trong 01 đĩa sứ màu trắng đường kinh 20cm; 1,025 gam Ketamine; 0,483 gam Methamphetamine, MDMA và ketamine; 01 thẻ nhựa màu đỏ; 01 bao niêm phong bên trong có 01 tẩu hút tự tạo bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng.
+Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 loa màu xanh; 01 đèn màu xanh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax màu xám (đã qua sử dụng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen, số Imei: 350905825062975( đã qua sử dụng);
(Theo biên bản bàn giao vật chứng số: NK2025-0182 ngày 10/06/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận H, H).
+Trả lại cho bị cáo N số tiền 700.000 đồng
( theo Giấy nộp tiền vào tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự quận H ngày 26/12/2024 tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt N).
[4]. Án phí: Bị cáo N, T mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[5].Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. Hội đồng xét xử sơ thẩm Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa H |
Bản án số 171/2025/HS-ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN H, THÀNH PHỐ H về tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 171/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN H, THÀNH PHỐ H
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: XÉT XỬ
