Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP VŨNG TÀU

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 171/2025/HS-ST

Ngày 10/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU,

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Ngô Thị Phượng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Văn Chương; Ông Nguyễn Văn Hải.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Ngà – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 150/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 187/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2025, đối với bị cáo:

Phạm Đức Q (Tên gọi khác: Không), sinh năm 1983 tại Thành phố Hải Phòng; Giới tính: Nam; Nơi thường trú: phường H, quận T, thành phố Hải Phòng; Chỗ ở: Số C Ngõ A, Hồ T, phường P, quận B, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn M, sinh năm: 1945 và con bà Nguyễn Thị P (đã chết); Bị cáo là con thứ hai trong gia đình có hai chị em; Vợ Nguyễn Thị Hiền L, sinh năm: 1985, có 03 người con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2021.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giam từ ngày 20/01/2025, đến ngày 14/3/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn thành Bảo lĩnh. (Có mặt)

Bị hại: Chị Phạm Thị T, sinh năm: 1997.

Địa chỉ: Số B đường N, Phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 02/2023, Phạm Đức Q và chị Phạm Thị T (sinh năm 1997) quen biết và nảy sinh tình cảm yêu đương. Đến cuối tháng 4/2024, chị T phát hiện Q đã lập gia đình và có 03 người con nên quyết định chấm dứt mối quan hệ với Q. Để tránh việc bị Q làm phiền và níu kéo tình cảm, chị T đã chuyển vào thành phố V sinh sống cùng với chị gái là Phạm Thị M1, tại địa chỉ số B N, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Đến ngày 16/8/2024, Q đi từ Thành phố Hà Nội vào thành phố V để tìm gặp chị T hàn gắn tình cảm. Tại thành phố V, Quyền thuê khách sạn để nghỉ ngơi và thuê một chiếc xe ô tô (không rõ biển kiểm soát) làm phương tiện đi lại. Khoảng 16 giờ cùng ngày, Q điều khiển xe ô tô và mua 01 bó hoa đến nhà gặp tặng chị T, tuy nhiên chị T từ chối nhận và không muốn gặp mặt Quyền. Sau đó, Quyền liên hệ với chị M1 và được chị M1 cho biết T đã đi tu ở chùa không có ở nhà. Nghi ngờ chị T đã có bạn trai mới nên tránh mặt, Quyền quyết định ở lại thành phố V theo dõi. Đến khoảng 21 giờ ngày 20/8/2024, Q điều khiển xe ô tô đến trước nhà chị T để theo dõi, khi thấy T cùng chị M1 và cháu Đinh Hồng Á (sinh năm: 2019, là con chị M1) đi bộ ra khỏi nhà đến tiệm tạp hóa gần nhà mua sắm, Q điều khiển xe ô tô đi theo phía sau. Khoảng 15 phút sau, chị M1 xách đồ đi về trước, chị T và cháu Á ở lại tính tiền khoảng 05 phút sau thì ra về. Quyền tiếp tục điều khiển xe ô tô đi phía sau theo dõi, khi đến khúc cua hẻm B đường N, Quyền dừng xe đi bộ, thấy chị T tay trái dắt cháu Á, tay phải đang cầm điện thoại gọi Video Call cho bạn nói chuyện tại khu vực trước cổng trường mầm non M2, địa chỉ số B N, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Quyền từ phía sau chạy lên, dùng tay trái ôm lấy người chị T, tay phải giật lấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Z Fip 5 trên tay phải chị T, chị T liền giằng lại chiếc điện thoại, trong lúc giằng co chị T chụp lấy được chiếc mũ lưỡi chai Quyền đang đội trên đầu và bị té ngã xuống đường. Lúc này, Q cầm chiếc điện thoại nhanh chóng chạy về phía xe ô tô đang đậu và điều khiển chạy hướng ra đường N Khoảng 02 phút sau, Quyền gặp lại chị T trên đường N liền hạ kính xe bên trái xuống và nói “kết thúc thật rồi, đồ phản bội”, chị T liền chạy theo thò tay vào trong xe giằng lấy lại chiếc điện thoại, Quyền tăng ga bỏ chạy làm chị T té ngã xuống đường. Sau khi chiếm đoạt được chiếc điện thoại, Quyền mang về nhà tại địa chỉ số C Ngõ A đường H, phường P, quận B, Thành phố Hà Nội cất giấu. Sau khi vụ việc xảy ra, chị T đến Công an phường T trình báo vụ việc.

Tại kết luận định giá tài sản số 131/KL-HĐĐG-TTHS ngày 16/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, UBND thành phố V kết luận: “01 chiếc điện thoại di động hiệu S 5 trị giá 12.500.000 đồng; 01 chiếc kính cận màu đen nhãn hiệu GM Surne trị giá 500.000 đồng”.

Quá trình điều tra, truy tố vụ án, Phạm Đức Q đã khai nhận hành vi chiếm đoạt chiếc điện thoại Samsung Galaxy Z Flip 5 của chị Phạm Thị T, công nhận kết quả định giá tài sản bị chiếm đoạt. Lời khai của Q phù hợp với lời khai của người bị hại, phù hợp với vật chứng thu giữ, phù hợp với diễn biến vụ việc và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án (Bút lục điều tra số 90 - 110).

Việc thu giữ, xử lý vật chứng, đồ vật, tài liệu thu giữ: 01 chiếc điện thoại S 5, sau khi chiếm đoạt của chị T, Q đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Công an, đến ngày 21/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố V đã trả lại cho bị hại chị T. 01 chiếc mắt kính cận màu đen, gọng kính ghi chữ G.M.Sure; 01 chiếc mũ lưỡi chai màu xanh, ghi chữ Your, chuyển từ Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu tiếp tục bảo quản chờ xử lý.

2

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa chị T yêu cầu bị cáo Q bồi thường kính mắt cho chị T số tiền là 1.588.000đ (Một triệu năm trăm tám mươi tám ngàn đồng), kính mắt chị T mua ngày 24/7/2024.

Tại Bản cáo trạng số 142/CT-VKS ngày 14/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố bị cáo Phạm Đức Q về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Phạm Đức Q, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Q phạm tội “Cướp giật tài sản”; Áp dụng khoản 1 Điều 171, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Đức Q từ 18 (Mười tám) tháng đến 20 (Hai mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng đến 40 (Bốn mươi) tháng về tội “Cướp giật tài sản”; Về xử lý tài sản, đồ vật, vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 chiếc mắt kính cận màu đen, gọng kính ghi chữ G.M.Sure; Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc mũ lưỡi chai màu xanh, ghi chữ Your; Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Q khắc phục thiệt hại giá trị kính mắt là 1.588.000đ cho chị T.

Tại phiên tòa bị cáo Q thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, lời nói sau cùng bị cáo Q xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo được xác định như sau:

Căn cứ lời khai nhận hành vi của bị cáo tại phiên tòa, đối chiếu lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 20/8/2024, tại khu vực trước cổng trường mầm non M2, địa chỉ số B N, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Phạm Đức Q đã có hành vi cướp giật 01 chiếc điện thoại di động hiệu S 5 trị giá 12.500.000 đồng của chị Phạm Thị Tuyết . Sau khi chiếm đoạt được chiếc điện thoại, Quyền mang về nhà tại địa chỉ số C Ngõ A đường H, phường P, quận B, Thành phố Hà Nội cất giấu. Như vậy, hành vi của bị cáo Phạm Đức Q đã thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

3

[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo Q gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Chỉ vì mâu thuẫn trong quan hệ tình cảm, ghen tuông, bị cáo không kiểm soát cảm xúc, hành vi của mình nên đã thực hiện hành vi phạm tội cướp giật tài sản. Do đó, cần tuyên một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội để răn đe, giáo dục bị cáo, đồng thời bảo đảm phòng ngừa tội phạm chung.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1] Về tình tiết tăng nặng: Không có.

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là lao động chính, nuôi con nhỏ, bố già yếu, nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Q.

[5] Về hình phạt: Bị cáo Q có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo Q có nhân thân tốt, trong vụ án này chỉ vì ghen tuông, không kiểm soát được cảm xúc, hành vi dẫn đến bị cáo thực hiện hành vi vi phạm pháp luật đây cũng là sự khác biệt so với các vụ cướp giật khác, bị cáo cũng đã bị tạm giam một thời gian cũng đủ răn đe bị cáo. Căn cứ Điều 65 BLHS và điểm b khoản Điều 1 Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15-4-2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, có đủ căn cứ cho bị cáo Q hưởng án treo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật

[6] Về xử lý vật chứng, tài sản:

Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc mắt kính cận màu đen, gọng kính ghi chữ G.M.Sure do không còn giá trị sử dụng.

Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc mũ lưỡi chai màu xanh, ghi chữ Your của bị cáo Q do không còn giá trị sử dụng.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Chị T yêu cầu bị cáo Q khắc phục thiệt hại giá trị kính mắt là 1.588.000đ (Một triệu năm trăm tám mươi tám ngàn đồng) cho chị T. Xét thấy, khi thực hiện hành vi giật điện thoại của chị T thì mắt kính của chị T rơi hỏng. Vì vậy, buộc bị cáo Q khắc phục thiệt hại giá trị kính mắt là 1.588.000đ (Một triệu năm trăm tám mươi tám ngàn đồng) cho chị T.

[8] Các vấn đề khác: Đối với việc bị hại là chị Phạm Thị T khai nhận quá trình giật lấy chiếc điện thoại, chị T bị Q dùng tay đánh vào mặt. Tuy nhiên, qua kết quả điều tra Quyền phủ nhận. Ngoài ra, cũng không thu thập được tài liệu chứng cứ nào khác chứng minh. Do đó, không đủ căn cứ để xác định quá trình giật chiếc điện thoại, Q đã sử dụng vũ lực đối với chị T.

Đối với việc bị hại là chị Phạm Thị T khai nhận Phạm Đức Q sử dụng các hình ảnh, video clip nhạy cảm của chị T đưa lên mạng xã hội để xúc phạm nhân phẩm, danh dự của chị T. Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an tỉnh B đã thụ lý giải quyết theo nguồn tin về tội phạm. Ngày 25/4/2025 Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự số 3642/QĐ-VPCQCSĐT.

4

[9] Về án phí: Bị cáo Quyền phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000₫ (hai trăm ngàn đồng) và 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự;

    Xử phạt bị cáo Phạm Đức Q 20 (Hai mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 40 (Bốn mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 10/6/2025) về tội “Cướp giật tài sản”.

    Giao bị cáo Phạm Đức Q cho Ủy ban nhân dân Phường P, quận B, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo; Nếu phạm tội mới trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng án treo và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Bộ luật hình sự.

  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

    Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc mắt kính cận màu đen, gọng kính ghi chữ G.M.Sure.

    Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc mũ lưỡi chai màu xanh, ghi chữ Your của bị cáo Q.

    Vật chứng, tài sản nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 196/BB.CCTHADS ngày 21/5/2025.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 585, 589 Bộ luật dân sự.

    Buộc bị cáo Q phải khắc phục thiệt hại giá trị kính mắt là 1.588.000đ (Một triệu năm trăm tám mươi tám ngàn đồng) cho chị T.

  4. Về án phí: Áp dụng Điều 23, 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội:

    Bị cáo Phạm Đức Q phải nộp 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

    Bị cáo Phạm Đức Q phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo Q, bị hại T có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

5

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa

Ngô Thị Phượng

6

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - VKSND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (PV06; PV10);
  • - VKSND thành phố Vũng Tàu;
  • - Chi cục THADS thành phố Vũng Tàu;
  • - UBND Phường Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Văn thư, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Phượng

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 171/2025/HS-ST ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về cướp giật tài sản

  • Số bản án: 171/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Đức Quyền - Cướp giật
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger