|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, TP.ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 171/2024/HS-ST Ngày 30-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP. ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Hà
Các hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Xoa
Ông Huỳnh Thanh Trà
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Bích Tâm - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 129/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 129/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
VÕ ĐỨC HOÀNG M, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 03/5/2000 tại thành phố Đà Nẵng; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: F H, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Sinh viên; Con ông: Võ Yên S(sinh năm 1970) và bà Nguyễn Thị Thanh T (sinh năm 1975) đều còn sống. Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 23/6/2024; Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận H, thành phố Đà Nẵng; Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Lê Huy V, sinh năm: 2002; HKTT: 228 H, phường H, quận T, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 23.6.2024, Võ Đức Hoàng M nhận tin nhắn của một người tên R, quen biết thông qua ban bè ngoài xã hội (không rõ lai lịch) qua ứng dụng Nicegram với nội dung Rum nhờ M mang 10 viên ma tuý thuốc lắc và 01 gói ma tuý Ketamine từ chân cầu C đến trước số nhà A N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng để giao cho một người người thanh niên (không rõ lai lịch) có số điện thoại 0562.103.xxx, sau khi giao xong Rum trả công 1.000.000 đồng. M đồng ý và điều khiển xe mô tô Air Blade BKS: 43C2-007.65 đi đến chân cầu C thì Rum chụp ảnh vị trí nơi để gói ma tuý. Theo chỉ dẫn, M tìm lấy số ma tuý trên bỏ vào túi quần và đi đến địa điểm giao ma tuý. Khoảng 21 giờ 40 phút, cùng ngày, khi đến địa điểm giao ma tuý, M vứt ma tuý dưới đất để chờ người tới lấy thì bị Cơ quan CSĐT Công an quận H phối hợp với Công an phường H phát hiện bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ:
- Tại vị trí cách vị trí đứng của M 02 mét có 01 gói ni lông kích thước (4x4)cm có chứa 05 viên nén màu xám và 01 gói ni lông kích thước (4x7)cm được chia làm hai ngăn, một ngăn chứa 05 viên nén màu xám và một ngăn chứa tinh thể rắn màu trắng, tiến hành niêm phong, đặt ký hiệu: B.
- 01 xe mô tô hiệu Honda AIRBLADE, màu đen, gắn BKS: 43C2-007.65; số máy: JF94E0238539, số khung RLHJF6332MZ609233. Xe đứng tên chủ sở hữu là Phạm Lê Huy V. Tháng 4.2024, Võ Đức Hoàng M1 đã mua lại xe này, tuy nhiên chưa tiến hành sang tên, đổi chủ và đã sử dụng xe để làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số Imei 1: 359735199368117, số Imei 2: 359735199859883, gắn sim số: 0905.978.583.
Tiến hành khám xét khẩn cấp tại nhà của Võ Đức Hoàng M, số F H, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng: Không thu giữ đồ vật, tài sản gì.
Theo Kết luận giám định số 506/KL-KTHS ngày 02 tháng 7 năm 2024 của Phòng K Công an T1: Mẫu niêm phong ký hiệu B được phân thành: Các viên nén màu xám ký hiệu B1, B2 gửi giám định là ma tuý, loại MDMA; khối lượng mẫu B1: 2,736 gam; mẫu B2: 2,710 gam. Tinh thể rắn màu trắng ký hiệu B3 gửi giám định là ma tuý, loại Ketamine, khối lượng mẫu B3: 3,157 gam.
Căn cứ Điều 4, khoản 2 Điều 5 Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng chất ma túy trong trường hợp các chất ma túy không được quy định trong cùng một điểm thuộc các khoản của Điều 250 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì: Tổng khối lượng ma tuý MDMA và Ketamine mà M vận chuyển trái phép được tính như sau: (2,736 +2,710): 30 x 100% + 3,157: 100 x 100% = 21,357% <100%, thuộc trường hợp quy định tại điểm o khoản 2 Điều 250 Bộ luật Hình sự.
Biên bản kiểm tra điện thoại hiệu Iphone 12 promax, gắn sim số: 0905.978.583: Có số điện thoại 0932.496.xxx của R và tin nhắn điện thoại với số 0562.103.xxx, nội dung “Nhah nhah b lau qa r”, là tin nhắn của người sẽ nhận ma tuý từ M.
Qua xét nghiệm, Võ Đức Hoàng M dương tính với ma tuý Ketamine và thuốc lắc.
Quá trình điều tra, Võ Đức Hoàng M khai nhận hành vi phạm tội như trên. Lời khai của bị can phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Xử lý vật chứng: 01 bì niêm phong chứa 2,047 gam mẫu ký hiệu B1; 2,180 gam mẫu ký hiệu B2; 2,002 gam mẫu ký hiệu B3 và toàn bộ vỏ bao gói mẫu hoàn trả sau giám định theo Kết luận giám định số 506/KL-KTHS ngày 02.7.2024 của Phòng K Công an thành phố T1 và các vật chứng còn lại nêu trên được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu để bảo quản trong giai đoạn xét xử và thi hành án.
Quá trình điều tra, Võ Đức Hoàng M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.
Tại phiên toà hôm nay, vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Võ Đức Hoàng M phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”; Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 250 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, xử phạt bị cáo từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù;
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong chứa 2,047 gam mẫu ký hiệu B1; 2,180 gam mẫu ký hiệu B2; 2,002 gam mẫu ký hiệu B3 và toàn bộ vỏ bao gói mẫu hoàn trả sau giám định theo Kết luận giám định số 506/KL-KTHS ngày 02.7.2024 của Phòng K Công an thành phố T1.
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 xe mô tô hiệu Honda AIRBLADE, màu đen, gắn BKS: 43C2-007.65; số máy: JF94E0238539, số khung RLHJF6332MZ609233 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số Imei 1: 359735199368117, số Imei 2: 359735199859883, gắn sim số: 0905.978.583.
Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra cũng như tranh tụng tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận: Khoảng 21 giờ 40 phút, ngày 23.6.2024, Võ Đức Hoàng M có hành vi vận chuyển 5,446 gam ma túy MDMA và 3,157 gam ma túy Ketamine từ chân cầu C đến tại trước số nhà A N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng giúp R (không rõ lai lịch) để hưởng lợi tiền công 1.000.000 đồng thì bị Cơ quan CSDDT Công an quận H bắt quả tang. Hành vi của Võ Đức Hoàng M đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy. Bị cáo dù biết hàng hóa bị cáo vận chuyện là ma túy nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi vận chuyển ma túy đến cho người khác. Tổng khối lượng ma túy bị cáo vận chuyển có 02 chất ma túy MDMA và Ketamine với tổng khối lượng tương đương với khối lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm g đến điểm n khoản 2 Điều 250 Bộ luật hình sự nên bị cáo bị tuy tố về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” quy định tại điểm o khoản 2 Điều 250 Bộ luật hình sự. Do vậy, Cáo trạng số 125/CT-VKS ngày 08/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu truy tố đối với bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Bị cáo là người trưởng thành, là thanh niên có sức khỏe, đang trong độ tuổi lao động, đáng lẽ ra bị cáo phải ý thức được mình nên làm những gì để có ích cho gia đình. Bản thân bị cáo là người có nhân thân tốt nhưng không lấy đó để tiếp tục làm công dân tốt mà đi vào con đường phạm tội, thực hiện việc vận chuyển ma túy cho người khác sử dụng để thu lợi bất chính. Riêng về ma túy Nhà nước đã có chính sách quản lý độc quyền nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo phải bị xử phạt, cần cách ly ra khỏi xã hội một thời gian nhằm mục đích giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo có bà nội có công với Nhà nước nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
[5] Về xử lý vật chứng:
- Đối với các vật chứng là 01 bì niêm phong chứa 2,047 gam mẫu ký hiệu B1; 2,180 gam mẫu ký hiệu B2; 2,002 gam mẫu ký hiệu B3 và toàn bộ vỏ bao gói mẫu hoàn trả sau giám định theo Kết luận giám định số 506/KL-KTHS ngày 02.7.2024 của Phòng K Công an thành phố T1 là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a khoản 2 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda AIRBLADE, màu đen, gắn BKS: 43C2-007.65; số máy: JF94E0238539, số khung RLHJF6332MZ609233 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số Imei 1: 359735199368117, số Imei 2: 359735199859883, gắn sim số: 0905.978.583của bị cáo M làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước theo điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[6] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
[7] Xét các đề nghị của vị đại diện Viện Kiểm Sát tại phiên tòa hôm nay là phù hợp pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
I. Tuyên bố bị cáo Võ Đức Hoàng M phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”
Áp dụng: điểm o khoản 2 Điều 250; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Võ Đức Hoàng M 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt ngày 23/6/2024.
IV. Xử lý vật chứng:
- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy Toàn bộ mẫu vật (ma túy) 2,047 gam mẫu ký hiệu B1; 2,180 gam mẫu ký hiệu B2; 2,002 gam mẫu ký hiệu B3 và vỏ bao gói được hoàn lại sau giám định theo Kết luận giám định số 506/KL-KTHS ngày 02.7.2024 của Phòng K Công an thành phố T1.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 xe mô tô hiệu Honda AIRBLADE, màu đen, gắn BKS: 43C2-007.65; số máy: JF94E0238539, số khung RLHJF6332MZ609233 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số Imei 1: 359735199368117, số Imei 2: 359735199859883, gắn sim số: 0905.978.583 của bị cáo M.
Các vật chứng nói trên Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, TP Đà Nẵng hiện đang tạm giữ theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 29 tháng 10 năm 2024.
V. Án phí hình sự sơ thẩm:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Võ Đức Hoàng M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).
VI. Người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các điều 6,7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi Hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Ngọc Hà |
Bản án số 171/2024/HS-ST ngày 30/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, TP.ĐÀ NẴNG về vận chuyển trái phép chất ma túy
- Số bản án: 171/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vận chuyển trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, TP.ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vận chuyển trái phép chất ma túy
