Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 171/2024/HS-ST

Ngày 12 tháng 11 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đức Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lý Tuấn Phong – Phó Bí thư Thành đoàn Long Xuyên
  2. Nguyễn Thị Tuyết Hồng – Phó Chánh Thanh tra thành phố Long Xuyên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Phan Ý Vy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Xuân Thọ - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 166/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 170/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Văn P, sinh ngày 24 tháng 11 năm 1996 tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Số D, tổ F, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hoàng R (chết) và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1968; có 02 chị em, bị cáo thứ hai; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 30 tháng 5 năm 2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L. (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Hồ Anh K, sinh năm 1985. Địa chỉ: Số B, Khóm E, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
  2. Nguyễn Ngọc K1, sinh năm 2007. Địa chỉ: Số C, Khóm M, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
  3. - Người đại diện theo pháp luật của K1: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1976. Địa chỉ: Số C, Khóm M, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

  4. Nguyễn Thị Mỹ K2, sinh năm 2008. Địa chỉ: Số A, khóm H, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
  5. Người đại diện theo pháp luật của K2: Bà Nguyễn Thị Kim T1, sinh năm 1990. Địa chỉ: Số A, khóm H, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

  6. Nguyễn Minh C, sinh năm 1981. Địa chỉ: Số F, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
  7. Lê Thị Tuyết N1, sinh năm 1995. Địa chỉ: Số A, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
  8. Nguyễn Thị N, sinh năm 1968. Địa chỉ: Số C, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
  9. Huỳnh Thái T2, sinh năm 1999; (đang chấp hành án)
  10. Nguyễn Thế H, sinh năm 1998; (đang chấp hành án)
  11. Võ Minh S, sinh năm 2000. (đang chấp hành án)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 03 tháng 6 năm 2023 nhận được tố giác về tội phạm của quần chúng nhân dân, Công an phường M, thành phố L kiểm tra hành chính nhà của bà Nguyễn Thị N tại tổ A, khóm T, phường M, thành phố L. Tại thời điểm kiểm tra trong nhà có bà Nguyễn Thị N, Huỳnh Thái T2, Nguyễn Thế H, Võ Minh S, Nguyễn Ngọc K1, Nguyễn Thị Mỹ K2, Nguyễn Minh C, Hồ Anh K, Lê Thị Kiều N2.

Quá trình điều tra xác định: Từ ngày 02 tháng 6 đến ngày 03 tháng 6 năm 2023, Huỳnh Thái T2 đã 03 lần mua ma túy đá (Methamphetamine) của Nguyễn Văn T3 tại khu vực cầu S, rạch C, phường M, thành phố L mỗi lần mua 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng để chia lại một phần sử dụng, phần còn lại bán cho Lê Văn P, Nguyễn Thế H, Võ Minh S với giá 200.000 đồng/gói.

Lần thứ nhất: Ngày 02 tháng 6 năm 2023, Nguyễn Thế H đến nhà của Lê Văn P tại khóm T, phường M, thành phố L, H rủ P hùn tiền mua ma túy để sử dụng thì P đồng ý. P gọi điện thoại kêu Tâm giao 200.000 đồng ma túy, khi Tâm giao đến Phước không đưa tiền mà đưa điện thoại của P để lấy ma túy. Sau đó H, P thay phiên nhau đốt ma túy để sử dụng tại nhà P, bình hút của P.

Lần thứ hai: Khoảng 16 giờ ngày 03 tháng 6 năm 2023, H đến nhà của P gặp Nguyễn Minh C, Nguyễn Thị Mỹ K2 (sinh ngày 09/8/2008), Nguyễn Ngọc K1 (sinh ngày 07/8/2007) và một người bạn nam không rõ họ tên, địa chỉ đi chung với K2. Người nam đi cùng K2 đến đưa cho H 200.000 đồng kêu H mua ma túy để cùng sử dụng, H kêu P điện thoại cho T2 để H giao dịch mua ma túy của T2 số tiền 200.000 đồng. Khi Tâm giao ma túy đến nhà P, H ra trả T2 400.000 đồng gồm 200.000 đồng tiền mua ma túy và 200.000 đồng tiền P đưa để lấy lại điện thoại. Sau đó, P cắt ma túy ra và đổ vào bình hút của P để P, H, C, K1, K2 và bạn của K2 cùng sử dụng.

Lần thứ ba: Khoảng 19 giờ ngày 03 tháng 6 năm 2023, H và P về nhà P gặp Võ Minh S, Lê Thị Kiều N2, K2, K1, C, Hồ Anh K. Lúc này, P rủ sử dụng ma túy thì tất cả đồng ý, S kêu H mua 200.000 đồng ma túy về sử dụng, thì H dùng điện thoại của P gọi cho T2 mua 200.000 đồng ma túy và kêu giao ma túy tại nhà P. Khoảng 10 phút sau, T2 đến nhà P giao cho H 01 bọc ma túy, thì S mượn điện thoại của K1 để lắp sim số đăng nhập vào tài khoản Momo của S để chuyển trả cho T2 200.000 đồng mua ma túy. Ma túy mua được P đổ vào bình hút cho P, H, S, K1, C, K2, N2, K cùng sử dụng. Sau khi tất cả cùng sử dụng ma túy, đến khoảng 22 giờ cùng ngày, Công an đến kiểm tra, lập biên bản phạm tội quả tang đối với T2, S, H, K1, K2, C, K, riêng P bỏ trốn.

* Vật chứng thu giữ tại phòng khách gồm: Chất tinh thể màu trắng trong đoạn ống thủy tinh có đầu gù tròn được lấy ra để vào bọc nylon trong suốt có rãnh kẹp viền màu đỏ được niêm phong; 01 chai nhựa trong suốt có nắp chai màu đỏ gắn đoạn ống thủy tinh có đầu gù tròn và đoạn ống hút nhựa màu sọc vàng trắng, đã qua sử dụng; 01 quẹt gas màu xanh đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng vàng màn hình cảm ứng bị nứt gắn ốp lưng màu vàng sim số chưa xác định thu giữ của Nguyễn Minh C; 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu đen xám, sim số chưa xác định thu giữ của Hồ Anh K; 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng vàng màn hình cảm ứng bị nứt, sim số chưa xác định thu giữ của Nguyễn Thế H; 01 điện thoại di động hiệu Huawei màu xanh đen màn hình cảm ứng bị nứt, sim số chưa xác định thu giữ của Huỳnh Thái T2; 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu đen màn hình cảm ứng bị nứt, sim số chưa xác định thu giữ của Nguyễn Ngọc K1; 01 sim số điện thoại di động Vinaphone, có dãy số 11455915353 chưa xác định sim số thu giữ của Võ Minh S.

Ngày 11 tháng 12 năm 2023, Lê Văn P bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L khởi tố bị can và ra Lệnh bắt bị can để tạm giam nhưng P bỏ trốn. Đến ngày 30 tháng 5 năm 2024, P bị bắt truy nã tại thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

* Vật chứng thu giữ tại nhà trọ: 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đỏ; 01 bóp da màu nâu bên trong có 01 bản sao trích lục khai sinh Lê Văn P; 01 bình hút tự chế bằng chai nhựa có chữ Sting trên nắp có gắn một đoạn ống thủy tinh và một ống nhựa màu trắng.

* Kết luận giám định số 99/KL-KTHS ngày 09 tháng 6 năm 2023 của Phòng K3 Công an tỉnh A, xác định:

01 phong bì niêm phong có đóng dấu tròn màu đỏ của Công an phường M, Công an thành phố L và các chữ ký ghi tên Lê Hoàng T4, Nguyễn Thị N, Nguyễn Thế H, Nguyễn Ngọc K1, Nguyễn Thị Mỹ K2, Huỳnh Thái T2, Võ Minh S, Nguyễn Minh C, Hồ Anh K. Bên trong có 01 bọc nilon trong suốt có rãnh khóa viền đỏ chứa tinh thể màu trắng, có khối lượng 0,0427 g (kí hiệu M).

Mẫu M gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,0427g.

* Các biên bản xét nghiệm tìm chất ma túy ngày 03 tháng 6 năm 2023 của Công an phường M, thành phố L, xác định: T2, H, S, K, K1, K2, C, N2: Dương tính với Methamphetamine.

Tại cáo trạng số 171/CT-VKSLX-HS ngày 30/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên đã truy tố bị cáo Lê Văn P về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên vẫn giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị:

+ Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm a, b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Lê Văn P từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

+ Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, đề nghị:

  • Trả lại cho bị cáo P: 01 điện thoại di động hiệu; 01 bóp da màu nâu bên trong có 01 bản sao trích lục khai sinh Lê Văn P;
  • Tịch thu tiêu hủy dụng cụ sử dụng ma túy: 01 bình hút tự chế bằng chai nhựa có chữ Sting trên nắp có gắn một đoạn ống thủy tinh và một ống nhựa màu trắng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Lê Văn P khai nhận từ ngày 02 đến ngày 03 tháng 6 năm 2023 đã nhiều lần thực hiện hành vi tổ chức cho Võ Minh S, Lê Thị Kiều N2, K2, K1, C, Hồ Anh K sử dụng trái phép chất ma túy như nội dung Cáo trạng truy tố. Đối với phần luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, khung hình phạt bị cáo thống nhất, không có ý kiến tranh luận. Bị cáo ăn năn về hành vi vi phạm pháp luật, xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không kêu oan, không khiếu nại cũng không có ý kiến về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Xét thấy, trong quá trình điều tra người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã cung cấp lời khai phù hợp với nội dung vụ án, nên việc vắng mặt của những người này tại phiên tòa không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là những người sử dụng ma túy về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đủ căn cứ để kết luận:

Bị cáo Lê Văn P là người nghiện ma túy, từ ngày 02/6/2023 đến 03/6/2023 đã thực hiện hành vi 03 lần mua ma túy của T3 (không rõ địa chỉ) và của T2, mỗi lần mua 01 gói với giá 200.000 đồng, P đã rủ Võ Minh S, Lê Thị Kiều N2, K2, K1, C, Hồ Anh K cùng sử dụng ma túy tại nhà của P, trong đó có Nguyễn Ngọc K1, sinh năm 2007 và Nguyễn Thị Mỹ K2, sinh năm 2008. Như vậy, P đã thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy 02 lần trở lên, đối với 02 người trở lên, trong đó có K2, K1 trong độ tuổi 13 đến dưới 18 tuổi. Hành vi nêu trên của bị cáo P đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[4] Xét về tính chất vụ án và hành vi của bị cáo thì thấy: Bị cáo là người đã trưởng thành có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của ma túy là gây tổn hại đến sức khỏe, sức lao động và biết việc sử dụng, tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật và bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng bị cáo vẫn bất chấp và cố ý thực hiện. Bị cáo đã chủ động tìm nguồn ma túy, cung cấp dụng cụ và sử dụng địa điểm là nhà của bị cáo cùng với Võ Minh S, Lê Thị Kiều N2, K2, K1, C, Hồ Anh K sử dụng nhiều lần cho đến khi bị cơ quan chức năng phát hiện và bắt giữ.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, làm cho tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, đã phạm vào 03 tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm a; b; c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Do đó, cần có một mức án nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo răn đe và phòng ngừa chung.

Đối với,

Huỳnh Thái T2, Nguyễn Thế H, Võ Minh S đã bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử T2 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, H, S về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” vào ngày 23 tháng 4 năm 2024.

T2 khai mua ma túy của Nguyễn Văn T3, nhưng hiện không rõ T3 đang ở đâu, ngoài lời khai của T2 không còn chứng cứ khác nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L tiếp tục làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Nguyễn Ngọc K1, Nguyễn Thị Mỹ K2, Nguyễn Minh C, Hồ Anh K, Lê Thị Kiều N2 sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành chính theo quy định pháp luật.

Người nam là bạn của K2 hùn tiền mua ma túy để P, H, C, K2, K1 cùng sử dụng, nhưng không rõ nhân thân, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L tiếp tục làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Nguyễn Thị N quản lý căn nhà thuộc tổ A, khóm T, phường M, thành phố L, nhưng không biết việc P, H, S tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà này, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với N là đúng quy định pháp luật.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

+ Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê Văn P đã tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên Hội đồng xét xử có xem xét cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

+ Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Văn P không có tình tiết tăng nặng.

[5] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 bình hút tự chế bằng chai nhựa có chữ Sting trên nắp có gắn một đoạn ống thủy tinh và một ống nhựa màu trắng là công cụ sử dụng ma túy, không còn giá trị sử dụng; Trả cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đỏ của bị cáo thu giữ tại nhà trọ không liên quan đến hành vi phạm tội của của bị cáo, 01 bóp da màu nâu bên trong có 01 bản sao trích lục khai sinh Lê Văn P là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Tất cả các vật chứng trên đang được Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/10/2024.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lê Văn P phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm a, b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Lê Văn P 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày từ ngày 30 tháng 5 năm 2024.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 bình hút tự chế bằng chai nhựa có chữ Sting trên nắp có gắn một đoạn ống thủy tinh và một ống nhựa màu trắng; Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đỏ và 01 bóp da màu nâu bên trong có 01 bản sao trích lục khai sinh Lê Văn P. Tất cả các vật chứng trên đang được Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/10/2024.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Lê Văn P phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Đương sự;
  • - Chi cục T.H.A TPLX;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - Phòng KTNV - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKS ND tỉnh An Giang;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng./.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Đức Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 171/2024/HS-ST ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 171/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn Phước tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger