TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU THÀNH PHỐ CẦN THƠ Bản án số: 171/2024/HSST Ngày: 30/9/2024. | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- + Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Yến Nhi
- + Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Hồ Thị Kim Luyến
- Bà Nguyễn Thị Hồng Liên
- + Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Diệp -Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều.
- + Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Duyên – Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 160/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 823/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:
Lê Kim Đ
(Tên gọi khác: Không); Giới tính: N; Sinh năm: 1985; Nơi sinh: Cần Thơ; Nơi cư trú: Số A đường L, P. A, Q. N, TP .; Chỗ ở: Số A đường L, P. A, Q. N, thành phố Cần Thơ; Quê quán: Cần Thơ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Kinh doanh, chức vụ: Giám đốc Công ty N3; Họ tên cha: Lê Văn T, sinh năm 1949 (Chết); Họ tên mẹ: Tôn Nữ Phương K, sinh năm: 1954; A, chị, em ruột: 02 người, lớn sinh năm 1979, nhỏ sinh năm 1981; Vợ: Nguyễn Hoàng Bảo N1, sinh năm: 1997; Con: Có 02 người, lớn nhất sinh năm 2020, nhỏ nhất sinh năm 2023.
- - Tiền án, tiền sự: Chưa.
- - Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 25/4/2024 đến ngày 05/7/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp Bảo lĩnh – có mặt.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lê Trung Đ1 sinh năm: 1979 - có mặt.
- Bà Hồ Thị L- vắng mặt.
Địa chỉ: G, đường số A, KDC E, KV. Thạnh Thuận, P. P, quận C, TP ..
Địa chỉ: Số A H, P. T, Q. N, TP ..
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 09/3/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị cáo đối với Ngô Văn V, Ngô Gia C, Nguyễn Thị Quỳnh N2 về tội “Mua bán trái phép hoá đơn”, vụ án xảy ra ngày 27/02/2021 tại địa chỉ: số A đường N, khu phố B, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Qua điều tra, các bị cáo này xác định có bán hóa đơn trái phép cho Công ty TNHH N3, địa chỉ: số A, Tầng A, L, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. Cơ quan CSĐT Công an T ban hành công văn số 1829/ĐCSKT&MT ngày 10/9/2021 đến Chi cục T4 về việc phối hợp xử lý hành vi vi phạm về lĩnh vực thuế liên quan đến Công ty N3 đã sử dụng bất hợp pháp hoá đơn.
Ngày 27/12/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận N nhận được Công văn số 3849/CCT-KTr1 của Chi cục Thuế quận T4 về việc điều tra xử lý doanh nghiệp có hành vi sử dụng hoá đơn bất hợp pháp đối với Công ty N3, địa chỉ: số A, Tầng A, L, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ do bị cáo Lê Kim Đ làm Giám đốc nhằm mục đích “trốn thuế”.
Kết quả điều tra xác định: Công ty TNHH N3 (viết tắt là Công ty N3), địa chỉ trụ sở chính: 131 Tầng A, đường L, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ, người đại diện theo pháp luật là bị cáo Lê Kim Đ được thành lập theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 1801458185, đăng ký lần đầu ngày 27/04/2016 do Sở K1 cấp; thành viên góp vốn bị cáo Lê Kim Đ (giá trị phần vốn góp 3.000.000.000 đồng) và ông Lê Trung Đ1 (giá trị phần vốn góp 2.000.000.000 đồng); Đăng ký thay đổi lần thứ 1 ngày 28/08/2020, nội dung thay đổi: thành viên góp vốn bị cáo Lê Kim Đ (giá trị phần vốn góp 4.000.000.000 đồng) và bà Hồ Thị L (giá trị phần vốn góp 1.000.000.000 đồng); Đăng ký thay đổi lần thứ 2 ngày 13/01/2023, nội dung thay đổi: địa chỉ trụ sở chính công ty: 7 hẻm L, đường T, P. C. Q. N, TP .; Đăng ký thay đổi lần thứ 3 ngày 02/10/2023, nội dung thay đổi: thành viên góp vốn Lê Kim Đ (giá trị phần vốn góp 3.500.000.000 đồng) và Hồ Thị L (giá trị phần vốn góp 1.500.000.000 đồng), tuy nhiên mọi hoạt động điều hành kinh doanh tại Công ty N3 đều do bị cáo Đ trực tiếp quản lý, điều hành và chịu trách nhiệm, các thành viên góp vốn (ông Lê Trung Đ1, bà Hồ Thị L) cho bị cáo Đ mượn tiền theo phần trăm góp vốn để bị cáo Đ có vốn hoạt động Công ty, các thành viên góp vốn không được bàn bạc, không tham gia vào quản lý, điều hành của Công ty N3.
Để kê khai thuế làm giảm số thuế phải nộp, tăng số tiền thuế được khấu trừ của Công ty N3, bị cáo Lê Kim Đ đã thực hiện hành vi như sau: bị cáo truy cập lên mạng xã hội tìm người bán hoá đơn bất hợp pháp, sau khi thương lượng giá mua bán hoá đơn bất hợp pháp. Bị cáo Đ cung cấp thông tin cho bên bán hoá đơn gửi kèm ủy nhiệm chi ký sẵn chữ ký của kế toán và giám đốc (chưa ghi nội dung) cho bên bán, bên bán sẽ chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng của Công ty N3 rồi dùng ủy nhiệm chi chuyển tiền vào công ty “ma” để hợp thức hoá chứng từ, sau đó bên bán hoá đơn sẽ rút tiền mặt ra. Sau đó cò mua bán hoá đơn sẽ đem hoá đơn GTGT khống, kèm hợp đồng mua bán hàng hoá, phiếu xuất kho, biên bản nghiệm thu, biên bản thanh lý hợp đồng cho bị cáo Đ.
Quá trình kinh doanh, bị cáo Đ đã truy cập lên mạng xã hội tìm nguồn hoá đơn để mua, sau đó bị cáo đã làm quen và liên hệ được với người tên T1 (không biết rõ họ tên và sinh sống tại đâu) thoả thuận giá mua hoá đơn là 3% giá trị tiền ghi trên hoá đơn. Bị cáo Đ gửi thông tin gồm (tên Công ty N3, MST: 1801458185, địa chỉ công ty: 131, Tầng A, Lý Tự T2, P. A, Q. N, TP .) cho bà T1, bà T1 sẽ gửi lại bản thảo các hợp đồng mua bán hàng hoá, biên bản nghiệm thu, biên bản giao nhận hàng hoá và nội dung hoá đơn cho bị cáo Đ xem trước, xác nhận đúng nội dung bị cáo Đ sẽ ký gửi các uỷ nhiệm chi đã ký sẵn (chưa ghi nội dung) cho bà T1 để bên bán nộp tiền mặt vào tài khoản Công ty N3 rồi bên bán tự rút lại tiền để hợp thức hoá các giao dịch mua bán hoá đơn bất hợp pháp. Bà T1 sẽ đem hoá đơn, hợp đồng và biên bản giao cho bị cáo Đ, bị cáo Đ thanh toán tiền mua hoá đơn cho bà T1 bằng tiền mặt.
Với thủ đoạn như trên bị cáo Đ đã mua từ bà T1 09 hoá đơn bất hợp pháp gồm: 03 số hoá đơn GTGT của Công ty TNHH T5 cùng ký hiệu hoá đơn: TN/19P; số hoá đơn: 0000550, 0000622, 0000632; 01 số hóa đơn của Công ty TNHH T6, ký hiệu hoá đơn TK/19P; số hoá đơn: 0000676; 01 số hoá đơn của Công ty TNHH T7, ký hiệu TH/20P; số hoá đơn: 000140;04 số hoá đơn của Công ty TNHH T8 cùng ký hiệu hoá đơn DP/19P; số hoá đơn: 000213, 000296, 000364, 000686. Tổng tiền thanh toán là: 5.189.833.000 đồng (trong đó, tổng số tiền hàng là 4.718.030.000 đồng + tổng tiền thuế GTGT là: 471.803.000 đồng).
Theo Kết luận giám định về giám định tư pháp trong lĩnh vực thuế của Cục thuế thành phố C vào ngày 22 tháng 4 năm 2024, kết luận: Hành vi sử dụng hóa đơn, chứng từ bất hợp pháp để kê khai thuế làm giảm 1 số thuế phải nộp, tăng số tiền thuế được khấu trừ của Công ty TNHH N3 có sử dụng 09 số hóa đơn bất hợp pháp để kê khai quyết toán thuế TNDN năm 2019, năm 2020, kê khai hóa đơn GTGT đầu vào là hành vi trốn thuế.
Số thuế trốn của Công ty N3 đối với Ngân sách nhà nước 1.399.469.401 đồng. Trong đó:
Thuế GTGT là 455.863.401 đồng (471.803.000 đồng - 15.939.599 đồng)
Thuế TNDN năm 2019, năm 2020 là 943.606.000 đồng (4.718.030.000 đồng x 20%).
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận N đã tiến hành khám xét nơi ở (tại số: 1 đường L, phường A, quận N, TP .) và nơi làm việc (tại số: 7 Hẻm L, đường T, phường C, Q. N, thành phố Cần Thơ) của bị cáo Lê Kim Đ, qua khám xét thu giữ các tài liệu và tài liệu đồ vật có liên quan được thống kê tại các bút lục 3531 - 3538.
Đối với số tiền trốn thuế của bị cáo Lê Kim Đ qua điều tra xác định là 1.399.469.401 đồng. Quá trình điều tra, Chi cục thuế quận T4 có văn bản xác định trước đó bị cáo đã nộp khắc phục số tiền trốn thuế tại Chi cục T4 như sau: Thuế GTGT là 455.863.401 đồng, đã nộp 538.854.585 đồng, số thuế GTGT nộp thừa là 82.991.184 đồng; Thuế TNDN là 943.606.000 đồng, đã nộp 21.606.000 đồng (theo Công văn số 3862/CCT-KTr1ngày 05/06/2024 của Chi cục Thuế quận T4); đồng thời xác định số tiền bị cáo Đ còn phải nộp là 922.000.000 đồng.
Quá trình điều tra, bị cáo Lê Kim Đ và gia đình đã nộp khắc phục số tiền trốn thuế còn lại 922.000.000 đồng xong tại Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận N (bút lục 3539-3540).
Quá trình điều tra, bị cáo Ngô Gia C khai nhận: bị cáo được Ngô Văn V giao quản lý 05 công ty, trong đó có 04 Công ty (Công ty TNHH T5; Công ty TNHH T6; Công ty TNHH T7, Công ty TNHH T8) để tìm người bán hóa đơn, Chính xác định có bán đơn trái phép cho Công ty TNHH N3; MST: 1801458185; Địa chỉ: A, Tầng A, L, phường A, quận N, TP Cần Thơ do bị cáo Lê Kim Đ làm giám đốc. Chính bán hóa đơn cho Công ty N3 thông qua một người nữ tên T1 (không rõ lai lịch), T1 giới thiệu Công ty N3 cần mua hóa đơn, thỏa thuận giá mua hóa đơn là 1,8% trị giá hàng hóa dịch vụ tiền ghi trên hóa đơn, bị cáo C gửi thông tin qua bị cáo N2 để làm các hợp đồng, biên bản, ghi nội dung hóa đơn rồi chuyển lại bị cáo C, bị cáo C nộp tiền vô tài khoản của Công ty N3, sau đó Công ty N3 chuyển tiền ngược lại vô tài khoản của công ty bán, khi bên bị C nhận lại tiền xong đưa hồ sơ cho bà T1, hoặc gửi xe khách cho Công ty N3 về để tự ký tên bên mua, chỉ thực hiện mua bán hóa đơn, không có hàng hóa gì.
Về vật chứng còn lại trong vụ án, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N đang tạm giữ được thống kê tại các bút lục số 3865-3868.
Đối với Ngô Văn V, Ngô Gia C, Nguyễn Thị Quỳnh N2 đã bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương xử lý trong vụ án “mua bán trái phép hoá đơn” nên không xem xét xử lý trong vụ án này.
Đối với người tên T1 do bị cáo khai không biết họ tên đầu đủ, thông tin địa chỉ cư trú, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N tiếp tục xác minh, để xử lý sau.
Đối với những người có liên quan như ông Lê Trung Đ1, Hồ Thị L tham gia góp vốn vào Công ty N3, tuy nhiên những người này không biết và không tham gia vào việc bị cáo mua và sử dụng trái phép hóa đơn, nên chưa đủ căn cứ xử lý vai trò đồng phạm với bị cáo Lê Kim Đ về hành vi Trốn thuế.
Quá trình điều tra, bị cáo Lê Kim Đ thừa nhận hành vi phạm tội, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo và gia đình bị cáo đã tự nguyện khắc phục toàn bộ số tiền trốn thuế là 1.399.469.401 đồng. Về nhân thân: bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
Tại bản Cáo trạng số: 172/CT - VKSNK ngày 16/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều truy tố bị cáo Lê Kim Đ về tội “Trốn thuế”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 3 Điều 200 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo ăn năn, hối cải thành khẩn khai báo, đã tự nguyện khắc phục hậu quả, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo có cơ hội sửa sai, lo cho gia đình.
- Ông Lê Trung Đ1 trình bày: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Đ, để bị cáo có cơ hội sửa sai, lo cho gia đình, ông không biết bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, khi sự việc xảy ra bị cáo Đ bị khởi tố, ông mới biết.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều phát biểu quan điểm: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Lê Kim Đ thừa nhận hành vi trốn thuế là phù hợp với các chứng cứ đã được thu thập hợp pháp trong quá trình điều tra. Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Đ về tội “Trốn thuế” theo quy định tại khoản 3 Điều 200 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Về nhân thân: Bị cáo có nhân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, là lao động chính trong gia đình, có con nhỏ. Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thừa nhận hành vi phạm tội, bị cáo và gia đình bị cáo đã tự nguyện khắc phục toàn bộ tiền trốn thuế là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tình tiết tăng nặng: Không. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 3 Điều 200, Điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo số tiền từ 2.000.000.000 đồng đến 2.200.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Ghi nhận việc Cơ quan điều tra đã trả các đồ vật, tài tiệu theo các Quyết định gồm:
- + Quyết định xử lý vật chứng số 1391/QĐ-ĐCSKT ngày 24/05/2024 của Cơ quan CSĐT Công an Q trao trả lại các đồ vật, tài liệu không có liên quan đến vụ án cho ông Lê Trung Đ1 (số lượng, chủng loại, đặc điểm theo biên bản trả lại, đồ vật, tài liệu);
- + Quyết định xử lý vật chứng số 2248/QĐ-ĐCSKT ngày 05/9//2024 của Cơ quan CSĐT Công an Q trao trả lại các đồ vật, tài liệu không có liên quan đến vụ án cho bà Lê Phương U (số lượng, chủng loại, đặc điểm theo biên bản trả lại, đồ vật, tài liệu);
- + Quyết định xử lý vật chứng số 2249/QĐ-ĐCSKT ngày 05/9/2024 của Cơ quan CSĐT Công an Q trao trả lại các đồ vật, tài liệu không có liên quan đến vụ án cho bà Nguyễn Hoàng Bảo N1 (số lượng, chủng loại, đặc điểm theo biên bản trả lại, đồ vật, tài liệu);
- + Quyết định xử lý vật chứng số 2250/QĐ-DCSKT ngày 05/9/2024 của Cơ quan CSĐT Công an Q trao trả lại các đồ vật, tài liệu không có liên quan đến vụ án cho ông Tăng Hải Đ2 (số lượng, chủng loại, đặc điểm theo biên bản trả lại, đồ vật, tài liệu);
- + Quyết định xử lý vật chứng số 2251/QĐ-ĐCSKT ngày 05/9/2024 của Cơ quan CSĐT Công an Q trao trả lại các đồ vật, tài liệu không có liên quan đến vụ án cho bả Nguyễn Thị Thanh T3 (số lượng, chủng loại, đặc điểm theo biên bản trả lại, đồ vật, tài liệu).
- - Đối với số tiền: 922.000.000 đồng, bị cáo đã nộp tại Chi Cục Thi hành án dân sự quận Ninh KiềT4, đề nghị chuyển nộp Ngân sách Nhà nước.
- - Đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động S, IMEI: 353748822258734 (đã qua sử dụng); 01 (một) Máy tính xách tay hiệu ACER.
- - Đề nghị tịch thu tiêu huỷ: 02 (hai ) sim điện thoại di động đã qua sử dụng (sim 1: 0906809879; sim 2: 01699441970); 01 (một) con dấu vuông hộ kinh doanh Trang trí nội thất K2; 01 (một) con dấu vuông hộ kinh doanh Cơ sở H; 01 (một) Con dấu tên Lê Kim Đ.
- - Đề nghị trả lại cho bị cáo: 01 (một) USB VIETTEL TOKEN, 5405220416051237, quản lý chứng thư số của Công ty TNHH N3; 01 (một) dấu tròn Công ty TNHH N3, MSDN: 1801458185.
- - Các vật chứng còn lại lưu hồ sơ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
[2] Về trách nhiệm hình sự: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai người làm chứng và các chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp trong quá trình điều tra vụ án. Điều này cho thấy: Trong thời gian quý 4/2019 và quý 2/2020, bị cáo Lê Kim Đ - Chức vụ: Giám đốc Công ty N3, địa chỉ: số A, Tầng A, L, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ, đã thực hiện hành vi mua và sử dụng 09 số hóa đơn bất hợp pháp kê khai quyết toán thuế TNDN năm 2019, năm 2020, kê khai hóa đơn GTGT đầu vào để nhằm mục đích trốn thuế, với tổng số tiền: 1.399.469.401 đồng (Trong đó: thuế GTGT là 455.863.401 đồng; Thuế TNDN năm 2019, 2020 là 943.606.000 đồng).
Theo Kết luận giám định về giám định tư pháp trong lĩnh vực thuế của Cục thuế thành phố C vào ngày 22 tháng 4 năm 2024, kết luận: Hành vi sử dụng hóa đơn, chứng từ bất hợp pháp để kê khai thuế làm giảm 1 số thuế phải nộp, tăng số tiền thuế được khấu trừ của Công ty TNHH N3 có sử dụng 09 số hóa đơn bất hợp pháp để kê khai quyết toán thuế TNDN năm 2019, năm 2020, kê khai hóa đơn GTGT đầu vào là hành vi trốn thuế.
Số thuế trốn của Công ty N3 đối với Ngân sách nhà nước 1.399.469.401 đồng. Trong đó:
Thuế GTGT là 455.863.401 đồng (471.803.000 đồng - 15.939.599 đồng).
Thuế TNDN năm 2019, năm 2020 là 943.606.000 đồng (4.718.030.000 đồng x 20%).
Từ những tình tiết và chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Lê Kim Đ thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội Trốn thuế theo quy định tại khoản 3 Điều 200 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo với lỗi cố ý và là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý thuế của Nhà nước dẫn đến thất thu Ngân sách Nhà nước. Vì vậy, cần phải có một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự, là lao động chính trong gia đình, có con nhỏ.
[3] Về tính tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả nộp toàn bộ số tiền trốn thuế là 1.399.469.401 đồng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 mà bị cáo được hưởng.
[4] Về tình tiết tăng nặng: không.
Căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội cũng như nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
Hội đồng xét xử xét thấy áp dụng hình thức phạt tiền đối với bị cáo vẫn có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo.
Do đó, quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng hình thức phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp nên ghi nhận.
[5] Về xử lý vật chứng:
- - Chuyển nộp Ngân sách Nhà nước số tiền: 922.000.000 đồng, bị cáo đã nộp tại Chi Cục Thi hành án dân sự quận Ninh KiềT4 ngày 24/9/2024.
- - Ghi nhận việc Cơ quan điều tra đã trả các đồ vật, tài tiệu theo các Quyết định gồm:
- + Quyết định xử lý vật chứng số 1391/QĐ-ĐCSKT ngày 24/05/2024 của Cơ quan CSĐT Công an Q trao trả lại các đồ vật, tài liệu không có liên quan đến vụ án cho ông Lê Trung Đ1 (số lượng, chủng loại, đặc điểm theo biên bản trả lại, đồ vật, tài liệu);
- + Quyết định xử lý vật chứng số 2248/QĐ-ĐCSKT ngày 05/9//2024 của Cơ quan CSĐT Công an Q trao trả lại các đồ vật, tài liệu không có liên quan đến vụ án cho bà Lê Phương U (số lượng, chủng loại, đặc điểm theo biên bản trả lại, đồ vật, tài liệu);
- + Quyết định xử lý vật chứng số 2249/QĐ-ĐCSKT ngày 05/9/2024 của Cơ quan CSĐT Công an Q trao trả lại các đồ vật, tài liệu không có liên quan đến vụ án cho bà Nguyễn Hoàng Bảo N1 (số lượng, chủng loại, đặc điểm theo biên bản trả lại, đồ vật, tài liệu);
- + Quyết định xử lý vật chứng số 2250/QĐ-DCSKT ngày 05/9/2024 của Cơ quan CSĐT Công an Q trao trả lại các đồ vật, tài liệu không có liên quan đến vụ án cho ông Tăng Hải Đ2 (số lượng, chủng loại, đặc điểm theo biên bản trả lại, đồ vật, tài liệu);
- + Quyết định xử lý vật chứng số 2251/QĐ-ĐCSKT ngày 05/9/2024 của Cơ quan CSĐT Công an Q trao trả lại các đồ vật, tài liệu không có liên quan đến vụ án cho bả Nguyễn Thị Thanh T3 (số lượng, chủng loại, đặc điểm theo biên bản trả lại, đồ vật, tài liệu).
- - Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động S, IMEI: 353748822258734 (đã qua sử dụng); 01 (một) Máy tính xách tay hiệu ACER.
- - Tịch thu tiêu huỷ: 02 (hai) sim điện thoại di động đã qua sử dụng (sim 1: 0906809879; sim 2: 01699441970); 01 (một) con dấu vuông hộ kinh doanh Trang trí nội thất K2; 01 (một) con dấu vuông hộ kinh doanh Cơ sở H; 01 (một) Con dấu tên Lê Kim Đ.
- - Trả lại cho bị cáo: 01 (một) USB VIETTEL TOKEN, 5405220416051237, quản lý chứng thư số của Công ty TNHH N3; 01 (một) dấu tròn Công ty TNHH N3, MSDN: 1801458185.
- - Các vật chứng còn lại lưu hồ sơ vụ án.
Do đó, quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều truy tố bị cáo Đ về tội danh, điều luật, mức hình phạt và xử lý vật chứng là có căn cứ và phù hợp.
Đối với người tên T1 do bị cáo khai không biết họ tên đầu đủ, thông tin địa chỉ cư trú, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N tiếp tục xác minh, để xử lý sau, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết trong vụ án này.
Đối với những người có liên quan như ông Lê Trung Đ1, Hồ Thị L tham gia góp vốn vào Công ty N3.Tuy nhiên, những người này không biết và không tham gia vào việc bị cáo mua và sử dụng trái phép hóa đơn, nên chưa đủ căn cứ xử lý vai trò đồng phạm với bị cáo Lê Kim Đ về hành vi Trốn thuế.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 200, điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017
- Tuyên bố: Bị cáo Lê Kim Đ phạm tội “Trốn thuế”.
- Về xử lý vật chứng: Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- - Chuyển nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 922.000.000 đồng (Chín trăm hai mươi hai triệu đồng) mà bị cáo đã nộp theo biên lai thu số 0000621 ngày 24/9/2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự quận Ninh KiềT4.
- - Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động S, IMEI: 353748822258734 (đã qua sử dụng); 01 (một) Máy tính xách tay hiệu ACER.
- - Tịch thu tiêu huỷ: 02 (hai) sim điện thoại di động đã qua sử dụng (sim 1: 0906809879; sim 2: 01699441970); 01 (một) con dấu vuông hộ kinh doanh Trang trí nội thất K2; 01 (một) con dấu vuông hộ kinh doanh Cơ sở H và 01 (một) Con dấu tên Lê Kim Đ.
- - Trả lại cho bị cáo: 01 (một) USB VIETTEL TOKEN, 5405220416051237, quản lý chứng thư số của Công ty TNHH N3; 01 (một) dấu tròn Công ty TNHH N3, MSDN: 1801458185.
- - Các vật chứng còn lại lưu hồ sơ vụ án.
- Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lê Kim Đ phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết) để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Xử phạt: Bị cáo Lê Kim Đ số tiền 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa * Nơi nhận:
| Phạm Thị Yến Nhi |
Bản án số 171/2024/HSST ngày 30/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về trốn thuế
- Số bản án: 171/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trốn thuế
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Lê Kim Đ số tiền 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng)
