|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 171/2024/HS-ST
Ngày 24 - 9 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Hồng Xuyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Sĩ Hùng
- Bà Trương Ánh Hoa
Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thắm – Là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Trương Ngọc Kiển - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 157/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Bị cáo thứ nhất: Họ và tên: Trần Thanh B, tên gọi khác: Không, giới tính: Nam, sinh năm 1994; Nơi cư trú: Số F đường N, khóm C, phường D, thành phố C, tỉnh Cà Mau; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; Con ông: Trần Văn H, con bà: Trần Thị H1; vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;
- Bị cáo thứ hai: Họ và tên: Ngô Thanh T, tên gọi khác: T ma, giới tính: Nữ, sinh năm 2000; Nơi cư trú: Khóm B, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 01/12; Con ông: Ngô Minh T1, con bà: Trương Thị Ái L; Chồng, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/5/2024, tạm giam từ ngày 27/5/2024 cho đến nay, tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C. (Có mặt)
Nhân thân: Ngày 30/11/2018 Toà án nhân dân thành phố Cà Mau ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 15 tháng, chấp hành xong ngày 20/9/2019.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/5/2024, tạm giam từ ngày 27/5/2024 cho đến nay, tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 18/5/2024, Trần Thanh B sinh năm 1994, trú tại khóm C, phường D, thành phố C điều khiển mô tô và Ngô Thanh T sinh năm 2000, trú tại khóm B, phường H, thành phố C đến nhà nghỉ K thuộc khóm F, phường I, thành phố C để thuê phòng nghỉ. Vào phòng được một lúc Thảo ngủ quên, thức dậy thì không thấy B nên T về nhà tại khóm B, phường H, thành phố C. Đến khoảng 06 giờ 23 phút ngày 18/5/2024, B gọi T thì biết T không còn ở nhà nghỉ nên B kêu T quay lại nhà nghỉ K để đi công chuyện với B. T đi xe grab đến thì nghe nói B đã trả phòng (phòng 09) nên T thuê phòng 01. Khoảng 30 phút sau thì B đến nhà nghỉ. Lúc 8 giờ 30 phút, Đội Cảnh sát điều tra thành phố C về ma túy kết hợp với Công an phường I, thành phố C kiểm tra phát hiện bắt quả tang. Tại phòng 01, thu giữ bình thủy binh dùng để sử dụng trái phép chất ma túy, trong ví (bóp) da của Trần Thanh B đang cất giấu 01 bọc nilon bên trong có chứa ma túy nên lực lượng tiến hành thu giữ và niêm phong theo quy định, ký hiệu M.26/2024. Trong quá trình làm việc, T tự lấy trong người ra giao nộp 01 bọc nilon bên trong có chứa ma túy Cơ quan điều tra tiến hành thu giữ và niêm phong theo quy định, ký hiệu M.27/2024.
Tang vật thu giữ gồm:
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu xám, trắng (đã qua sử dụng, bể màn hình, có sim kèm theo);
- 01 ví màu đen và 01 túi xách màu đen, đã qua sử dụng;
- 01 Bình thủy tinh tự chế dùng để sử dụng ma túy, đã qua sử dụng;
- 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh, (đã qua sử dụng, bể màn hình, có sim kèm theo).
Tại biên bản kết quả thử nước tiểu Trần Thanh B và Ngô Thanh T đều có sử dụng trái phép chất ma túy
Tại kết luận giám định số 279/KL-KTHS, ngày 26/5/2024, của Phòng K1 Công an tỉnh C, kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong bọc nilon, được niêm phong kín trong phong bì hình chữ nhật ký hiệu M.26/2024 thu giữ của bị can B ngày 18/5/2024 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,6952 gam, loại Methamphetamine. Và tinh thể màu trắng bên trong bọc nilon, được niêm phong kín trong phong bì hình chữ nhật ký hiệu M.27/2024 thu giữ của bị can T ngày 18/5/2024 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 2,0688 gam, loại Methamphetamine.
Tại Cáo trạng số: 153/CT-VKS ngày 19/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau đã truy tố bị cáo Trần Thanh B và Ngô Thanh T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà:
Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Giữ quan điểm truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo B từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị: Trả lại cho bị cáo B 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu xám, trắng (đã qua sử dụng, bể màn hình, có sim kèm theo); Trả lại cho bị cáo T 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh, (đã qua sử dụng, bể màn hình, có sim kèm theo) và 01 túi xách màu đen, đã qua sử dụng; Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì hình chữ nhật hoàn mẫu số 279/KL-KTHS ngày 26/5/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh C; 01 Bình thủy tinh tự chế dùng để sử dụng ma túy, đã qua sử dụng; 01 ví màu đen, đã qua sử dụng.
- Ý kiến của bị cáo B: Bị cáo thừa nhận lời khai trong quá trình điều tra là do tự nguyện khai, không bị ép buộc hay bị bức cung hoặc dùng nhục hình. Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên. Đồng thời, bị cáo xác định Cáo trạng truy tố không oan sai, đúng với hành vi của bị cáo, bị cáo ăn năn về hành vi của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về với gia đình.
- Ý kiến của bị cáo T: Bị cáo thừa nhận lời khai trong quá trình điều tra là do tự nguyện khai, không bị ép buộc hay bị bức cung hoặc dùng nhục hình. Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên. Đồng thời, bị cáo xác định Cáo trạng truy tố không oan sai, đúng với hành vi của bị cáo, bị cáo ăn năn về hành vi của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Xét thấy lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với kết luận giám định cùng các chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra nên có cơ sở để xác định: Vào ngày 18/5/2024, Trần Thanh B có hành vi cất giấu ma túy trong người có khối lượng 0,6952gam, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang. Cùng ngày Ngô Thanh T có hành vi cất giấu ma túy trong người có khối lượng 2,0688gam, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng, tự giao nộp cho Cơ quan điều tra.
Hành vi nêu trên của các bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức và biết được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật hình sự nhưng các bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau căn cứ vào quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự truy tố bị cáo B và bị cáo T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như Cáo trạng nêu là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi tác hại của ma tuý gây ức chế về thần kinh, tạo ảo giác mạnh cho người sử dụng, làm ảnh hưởng đến sức khỏe, là mầm móng cho việc lây lan bệnh tật truyền nhiễm, gián tiếp gây ra các tệ nạn xã hội khác. Đặc biệt loại tội phạm này hiện ngày càng gia tăng, mức độ thực hiện tinh vi, việc phòng chống gặp rất nhiều khó khăn nên cần xử lý nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm giáo dục các bị cáo trở thành người công dân tốt, sống có ích cho gia đình, cho xã hội và để răn đe, phòng ngừa chung.
Khi lượng hình, Hội đồng xét xử có xem xét: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo chưa thật sự thành khẩn khai báo, còn quanh co và trình bày mâu thuẫn nhau về nguồn gốc ma tuý thu giữ trên người của mỗi bị cáo. Tuy nhiên các bị cáo cũng đã thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân mình nên được Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, gia đình bị cáo B có ông ngoại được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất nên được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về nhân thân: Bị cáo B có nhân thân tốt; bị cáo T có nhân thân xấu, đã bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng vẫn tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.
Với đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là có cơ sở nên được chấp nhận.
[4] Về vật chứng của vụ án:
Đối với các vật chứng gồm: 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu xám-trắng (đã qua sử dụng, bể màn hình, có gắn sim kèm theo) là tài sản cá nhân của bị cáo B; 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh, (đã qua sử dụng, bể màn hình, có gắn sim kèm theo) và 01 túi xách màu nâu, đã qua sử dụng của bị cáo T, các đồ vật trên không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho các bị cáo.
Đối với 01 phong bì hình chữ nhật hoàn mẫu số 279/KL-KTHS ngày 26/5/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh C; 01 Bình thủy tinh tự chế dùng để sử dụng ma túy, đã qua sử dụng và 01 ví da màu đen, đã qua sử dụng của bị cáo B, cần tịch thu tiêu huỷ như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở.
[5] Về án phí hình sự sơ thẩm, các bị cáo phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Trần Thanh B và Ngô Thanh T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Thanh B. Xử phạt bị cáo Trần Thanh B 01 (Một) năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/5/2024.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Ngô Thanh T. Xử phạt bị cáo Ngô Thanh T 02 (Hai) năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/5/2024.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a và b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Trả lại cho bị cáo B 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu xám- trắng (đã qua sử dụng, bể màn hình, có gắn sim kèm theo);
Trả lại cho bị cáo T 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh, (đã qua sử dụng, bể màn hình, có gắn sim kèm theo) và 01 túi xách màu nâu, đã qua sử dụng;
Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì hình chữ nhật hoàn mẫu số 279/KL-KTHS ngày 26/5/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh C; 01 Bình thủy tinh tự chế dùng để sử dụng ma túy, đã qua sử dụng; 01 ví màu đen, đã qua sử dụng;
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/8/2024 giữa Cơ quan điều tra Công an thành phố C và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau).
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (chưa nộp).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phạm Hồng Xuyên |
Bản án số 171/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 171/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép ma túy
