TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 179/2024/DS-ST
Ngày: 03/7/2024
V/v Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán, Chủ toạ phiên toà: Bà Huỳnh Thị Kim Thương.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà: Phan Thị Mai Khanh.
- Bà: Phạm Thị Kim Hoàng.
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Thùy Vân – Thư ký Toà án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hà - Kiểm sát viên.
Trong ngày 03/7/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 6 xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 249/2023/TLST-DS ngày 06 tháng 12 năm 2023 về việc: “Tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 210/2024/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 5 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 70/2024/QĐST-DS ngày 05/6/2024 các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S; Địa chỉ trụ sở: 2 N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Gia T, sinh năm 1971; Địa chỉ liên lạc: 2 N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. (có đơn xin vắng mặt). (Giấy ủy quyền số 3186/2023/UQ-TGĐ ngày 26/9/2023).
- - Bị đơn: Ông Trương Thanh T1, sinh năm 1981; Địa chỉ: 1 T, Phường A, Quận F, TP .. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, phía nguyên đơn doông Trần Gia T – đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng Thương mại cổ phần S trình bày:
Ngày 24/08/2018 ông Trương Thanh T1 có ký với Ngân hàng Thương mại cổ phần S hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng bao gồm: giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, vào mục đích tiêu dùng cá nhân. Căn cứ thu nhập của ông Trương Thanh T1, Ngân hàng đồng ý cấp thẻ tín dụng Mastersố526830 – 2433với hạn mức tín dụng là 50.000.000 đồng. Theo bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, hai bên thỏa thuận tiền lãi phải trả theo lãi suất do Ngân hàng quyết định là 2,4%/tháng. Ngân hàng đã phát hành và gửi cho ông Trương Thanh T1 thẻ tín dụng số526830 - 2433.
Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông Trương Thanh T1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền gốc là 67.615.000 đồng và đã thanh toán 73.636.846 đồng. Từ ngày 23/08/2022 ông T1 ngưng thanh toán cho đến nay. Do ông T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nên Ngân hàng đã nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông Trương Thanh T1 không có thiện chí trả nợ. Ngày 23/08/2022 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông Trương Thanh T1, chuyển toàn bộ nợ dư còn thiếu là 58.652.406đồng sang nợ quá hạn.
Sau đó, từ tháng 9/2022 đến nay ông T1 đã thanh toán thêm cho Ngân hàng S1 tổng số tiền là 50.300.000đồng. Nợ gốc ông T1 còn nợ tính đến nay là 8.342.406 đồng.
Nay, Ngân hàng Thương mại cổ phần S yêu cầu ông Trương Thanh T1 thanh toán tổng số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 03/7/2024: 29.062.328 đồng; Trong đó, nợ gốc là 8.342.406 đồng, lãi quá hạn là 20.719.922 đồngvà tiền lãi phát sinh kể từ ngày 04/7/2024cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ, trả một lần toàn bộ ngay khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Bị đơn ông Trương Thanh T1 vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết tại Tòa án mặc dù đã được Tòa án tống đạt, triệu tập hợp lệ, ông cũng không có văn bản ý kiến phản hồi về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện
Bị đơn - ông Trương Thanh T1 vắng mặt không có lý do đến lần thứ hai mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và của Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã đảm bảo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, tại phiên tòa bị đơn ông Trương Thanh T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt lần thứ 2 nên Tòa án xét xử vắng mặt là đúng theo quy định pháp luật. Qua kiểm sát vụ án tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Toà và kết luận của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 về việc chấp hành pháp luật tố tụng và nội dung của vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng và thẩm quyền giải quyết:
Ngân hàng TMCP S khởi kiện ông Trương Thanh T1 yêu cầu thanh toán tiền vay. Do đó, căn cứ vào khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc tranh chấp dân sự: “Hợp đồng dân sự vay tài sản”.
Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S có đơn khởi kiện ông Trương Thanh T1 có hộ khẩu thường trú tại số A T, Phường A, Quận F, TP .. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 6.
[2]Thời hiệu khởi kiện vụ án:
Căn cứ vào thời điểm ông Trương Thanh T1 ngừng thanh toán các khoản theo thỏa thuận cho Ngân hàng TMCP S bắt đầu vào ngày 23/08/2022. Ngày 02/10/2023 Ngân hàng TMCP S nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân Quận 6. Thời hiệu khởi kiện đối với hợp đồng dân sự được xác định là 03 năm kể từ ngày quyền và lợi ích bị xâm phạm theo quy định tại Điều 429, 688 Bộ luật dân sự 2015 nên việc khởi kiện vẫn còn trong thời hiệu khởi kiện.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[3.1] Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ký ngày 22/08/2018 thể hiện ông Trương Thanh T1 và Ngân hàng TMCP S có ký hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, theo đó Ngân hàng cấp tín chấp 01 thẻ tín dụng Mastersố526830 – 2433 hạn mức 50.000.000đồng cho ông Trương Thanh T1, lãi suất và phí theo ấn định của Ngân hàng trong từng thời kỳ được đăng tải công khai. Do đó, đủ cơ sở xác định hai bên đã xác lập giao dịch về hợp đồng dân sự vay tài sản; bên cho vay là Ngân hàng TMCP S và bên vay là ông Trương Thanh T1.
[3.2] Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và sự thừa nhận của Ngân hàng, thể hiện từ sau ngày 23/08/2022 ông T1 đã vi phạm thời hạn thanh toán theo cam kết tronghợp đồng sử dụng thẻ tín dụng. Tạm tính đến ngày 03/7/2024, ông T1 còn nợ Ngân hàng TMCP S số tiền 29.062.328 đồng; Trong đó, nợ gốc là 8.342.406 đồng, lãi quá hạn là 20.719.922 đồng. Do ông T1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng yêu cầu ông T1 có trách nhiệm thanh toán toàn bộ số tiền nợ là 29.062.328đồng là phù hợp theo quy định tại Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng.
[3.3] Về thời hạn thanh toán:
Hội đồng xét xử xét, căn cứ vào quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay thì bên vay tiền phải trả đủ tiền khi đến hạn. Mặt khác, số tiền thiếu nợ nêu trên đã kéo dài, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trong việc thu hồi nợ. Do đó, buộc ông T1 phải trả một lần, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, thực hiện tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, ông Trương Thanh T1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà ông Trương Thanh T1 phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nên nguyên đơn không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho nguyên đơn tiền tạm ứng án phí đã nộp; Bị đơn ông Trương Thanh T1 phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 184, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 90, Điều 91, Điều 95 và Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ vào Điều 385, Điều 429, Điều 463, Điều 465, Điều 466, Điều 688 Bộ luật Dân sự 2015.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
Buộc ông Trương Thanh T1 có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền là 29.062.328 đồng (Hai mươi chín triệu không trăm sáu mươi hai nghìn ba trăm hai mươi tám đồng); Trong đó, nợ gốc là 8.342.406 đồng, lãi quá hạn là 20.719.922 đồng. Trả một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, ông Trương Thanh T1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà ông Trương Thanh T1 phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Ngân hàng TMCP S và ông Trương Thanh T1 thực hiện việc giao và nhận tiền tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Trương Thanh T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.453.116 đồng (Một triệu bốn trăm năm mươi ba nghìn một trăm mười sáu đồng).
- Ngân hàng TMCP S2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. H lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí 866.799 đồng (T2 trăm sáu mươi sáu nghìn bảy trăm chín mươi chín đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0038662 ngày 06/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6.
- Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án. Viện kiểm sát được quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Kim Thương |
Bản án số 179/2024/DS-ST ngày 03/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 179/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chap nhan yeu cau
