Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẠC LIÊU

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Bản án số: 171/2023/HS-ST

Ngày 02-11 -2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Từ Văn Nhứt

- Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Khưu Liên Dung;
  2. Bà Dư Thị Út .

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Kép – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Hồ Hải Đăng - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 11 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 137/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 133/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Trương Duy N, sinh ngày 15 tháng 02 năm 1992, tại Bạc Liêu; Nơi cư trú: Ấp B, xã L, huyện V, tỉnh Bạc Liêu; Nghề nghiệp: Làm Thuê; Trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Phước V, sinh năm 1962 và bà Trần Thị L, sinh năm 1965; Có vợ tên Huỳnh Thị M (đã ly hôn); Có 02 người con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2018; Anh, chị em ruột 03 người, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 1994; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 28/02/2023 bị Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng, chưa chấp hành; Bị cáo bị khởi tố bị can ngày 24/02/2023 và được tại ngoại điều tra đến ngày 27/4/2023 bị bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B cho đến nay (có mặt).

2. Họ và tên: Hữu V1, sinh ngày 26 tháng 10 năm 1993, tại Bạc Liêu; Nơi cư trú: Số E, Khóm G, Phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hữu G, sinh năm 1961 và bà Nguyễn Thị Ngọc X (không xác định được năm sinh); A, chị, em ruột: 03 người, lớn nhất sinh năm 1991, nhỏ nhất sinh năm 1997; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 28/02/2023 bị Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu ra Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 14 tháng; Bị cáo Hữu V1 bị khởi tố bị can ngày 15/8/2023 và đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bạc Liêu (có mặt).

* Bị hại: Anh Tạ Thanh S, sinh ngày 27/4/2003; Địa chỉ: ấp V, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ, ngày 23/12/2022 các bị cáo Trương Duy N và Hữu V1 chơi game bắn cá tại tiệm G1, thuộc Phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Sau đó, bị cáo V1 điều khiển xe mô tô màu xanh, loại Wave (không rõ biển kiểm soát) chở bị cáo N đi mua ma túy nhưng không mua được. Trên đường về, khi đi ngang siêu thị C.opmart, đường T, Khóm B, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, bị cáo N thấy trước siêu thị có nhiều xe mô tô mà không có người trông coi nên nảy sinh ý định lấy trộm để làm phương tiện đi lại. Bị cáo N nói với bị cáo V1 “Bạn chở tôi quay lại dùm cái”, bị cáo V1 điều khiển xe quay lại siêu thị Co.opmart thì bị cáo N kêu bị cáo V1 dừng xe lại và nói “Bạn đợi tôi một cái, tôi vào dắt xe ra, bạn kè qua đường bên đây một cái”, bị cáo V1 đồng ý và đứng chờ ngay sát cổng bên phải của siêu thị quan sát theo bị cáo N. Bị cáo N đi bộ đến bãi đậu xe, dùng tay quay xe, đá chân chống và dẫn xe mô tô màu đen, kiểu dáng Wave, biển kiểm soát 94AB-101.79 của anh Tạ Thanh S ra bên ngoài. Trước đó, khi thấy bị cáo N có hành vi đá chân chống để quay đầu xe, không hỏi ai thì bị cáo V1 biết bị cáo N đang lấy trộm xe và đã đồng ý điều khiển xe của mình, dùng chân đẩy xe mô tô biển kiểm soát 94AB-101.79 mà bị cáo N lấy trộm được ra đường N. Khi đến trước Trường Mầm non H, thuộc Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, bị cáo N kêu bị cáo V1 dừng xe lại, nói “Đi đâu thì đi đi”, rồi dùng tay bứt dây mát xe mô tô biển kiểm soát 94AB-101.79. Lúc này, bị cáo V1 đòi chia tiền nên hỏi “xe này mày lấy của người ta hay gì”, bị cáo N trả lời “Tôi lấy xài, bữa nào có tiền tôi cho bạn tiền uống cà phê ”. Sau khi V1 bỏ đi, bị cáo N điều kiển xe mô tô biển kiểm soát 94AB-101.79 đến khu N, thuộc Phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu để cất giấu, rồi đi bộ về tiệm game 767 mượn cây cờ lê số 10, đồng thời nhặt biển kiểm soát 51P7-1955 ở bãi đất trống để tháo biển kiểm soát 94AB-101.79 ra, gắn biển biển kiểm soát này vào. Đến khoảng 01 giờ ngày 24/12/2022, bị cáo N điều khiển xe mô tô trộm được đến tiệm game 767 và tháo biển kiểm soát 51P7-1955 vứt bỏ. Cùng ngày, anh S phát hiện mất trộm xe nên đến Công an P, thành phố B trình báo. Qua xác minh, lực lượng Công an thu giữ tại siêu thị C1 ghi lại hình ảnh lấy trộm xe của bị cáo Trương Duy N và bị cáo Hữu V1.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 61/KL-HĐĐGTS ngày 21 tháng 4 năm 2023, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng thành phố B kết luận: “01 (một) xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, màu sơn: Đen, dung tích: 49cc, biển kiểm soát 94AB-101.79, số máy: 39FB3458385, số khung: B5PEKA458385, đăng ký lần đầu ngày 07/08/2019, đã qua sử dụng. Mua tháng 08/2019, trị giá lúc mua 14.500.000 đồng. Tính đến ngày 23/12/2022 có giá trị thành tiền còn lại là 8.700.000 đồng (Tám triệu bảy trăm nghìn đồng).

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, tỉnh Bạc Liêu các bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội.

Tại Cáo trạng số 137/CT-VKS-HS ngày 03/10/2023 truy tố các bị cáo Trương Duy N và Hữu V1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

* Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Tuyên bố bị cáo Trương Duy N và bị cáo Hữu V1 phạm tội “Trộm cắp tài sản".
    1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 17; khoản 1 Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Trương Duy N mức án từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù;
    2. Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 17; khoản 1 Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Hữu V1 mức án từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù.
  2. Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) quần Jean nam, màu xanh dương, nhãn hiệu KaKa; 01 (một) áo sơ-mi nam, loại ngăn tay, màu: xanh dương-đen bóng, nhãn hiệu STCO MAN; 01 (một) mũ bảo hiểm màu cam, sọc đen (giữa nón), có kính trong bảo vệ mắt, dán tem của Công ty C2 (đã qua sử dụng).

* Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Bị hại anh Tạ Thanh S vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử, xét thấy: Việc vắng mặt của các bị hại không gây trở ngại cho việc xét xử, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự xét xử vắng mặt bị hại anh Tạ Thanh S.

[3] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của chính các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác được lưu trong hồ sơ vụ án, nên có căn cứ xác định: Vì động cơ vụ lợi bất chính, khoảng 20 giờ, ngày 23 tháng 12 năm 2022, tại Khóm B, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, các bị cáo Trương Duy N và Hữu V1 có hành vi lấy trộm 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, màu sơn: Đen, số máy: 39FB3458385, số khung: B5PEKA458385, biển kiểm soát 94AB-101.79 của anh Tạ Thanh S với giá trị tài sản là 8.700.000 đồng (Tám triệu, bảy trăm nghìn đồng).

[4] Khi thực hiện hành vi nêu trên các bị cáo Trương Duy N và Hữu V1 có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, giá trị tài sản mà các bị cáo chiếm đoạt là 8.700.000 đồng nên hành vi nêu trên của các bị cáo đã đủ yếu tố, dấu hiệu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[5] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của bị hại mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương, Hội đồng xét xử, xét thấy: Cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, xử phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định đủ để răn đe, giáo dục, đồng thời mang tính phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

[6] Bên cạnh đó, Hội đồng xét xử, xem xét các tình tiết sau:

  • Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Trương Duy N và Hữu V1 không có tình tiết tăng nặng.
  • Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Trương Duy N và bị cáo Hữu V1 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Anh Tạ Thanh S đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[8] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) quần Jean nam, màu xanh dương, nhãn hiệu KaKa; 01 (một) áo sơ-mi nam, loại ngắn tay, màu: xanh dương-đen bóng, nhãn hiệu STCO MAN; 01 (một) mũ bảo hiểm màu cam, sọc đen (giữa nón), có kính trong bảo vệ mắt, dán tem của Công ty C2 của bị cáo Trương Duy N, tại phiên tòa bị cáo không nhận lại đề tiêu hủy nên Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy.

[9] Đối với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ.

[10] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trương Duy N và bị cáo Hữu V1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1.1 Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 17; khoản 1 Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trương Duy N 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù được tính kể từ ngày 27 tháng 4 năm 2023.

1.2 Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 17; khoản 1 Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Hữu V1 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) quần Jean nam, màu xanh dương, nhãn hiệu KaKa; 01 (một) áo sơ-mi nam, loại ngăn tay, màu: xanh dương-đen bóng, nhãn hiệu STCO MAN; 01 (một) mũ bảo hiểm màu cam, sọc đen (giữa nón), có kính trong bảo vệ mắt, dán tem của Công ty C2 (đã qua sử dụng).

Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17 tháng 5 năm 2023.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc mỗi bị cáo phải nộp số tiền 200.000 đồng.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bạc Liêu;
  • - VKSND tỉnh Bạc Liêu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bạc Liêu;
  • - VKSND TP. Bạc Liêu;
  • - Công an TP. Bạc Liêu;
  • - Chi cục THADS TP. Bạc Liêu;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Từ Văn Nhứt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 171/2023/HS-ST ngày 02/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 171/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trương Duy N phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger