Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 171/2024/HS-PT

Ngày: 19/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hà.

Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Quyết.

Bà Phạm Thị Chuyền.

- Thư ký phiên toà: Bà Lương Mỹ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị T- Kiểm sát viên.

Trong ngày 19/9/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 171/2024/TLPT-HS ngày 25/6/2024 đối với Đào Đức H do có kháng cáo của bị cáo Đào Đức H đối với bản án hình sự sơ thẩm số 57/2023/HS-ST ngày 01/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

* Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Đào Đức H, sinh năm: 1979; giới tính: nam; tên gọi khác: không; nơi cư trú: thôn N, xã N, huyện H, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn phổ thông: 12/12; nghề nghiệp: tự do; họ tên bố: Đào Quang Đ, sinh năm 1944; họ tên mẹ: Vũ Thị T1 (Đã chết); họ tên vợ: Nguyễn Thị C, sinh năm 1983; bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2010; anh chị em ruột: gia đình có 4 anh chị em, bị cáo là con út.

Tiền án, tiền sự, nhân thân: không.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, tại ngoại. (có mặt tại phiên tòa).

* Người bào chữa cho bị cáo H: Luật sư Nguyễn Văn B- Văn phòng L- Đoàn luật sư thành phố H.

Địa chỉ: số D, phố N, phường T, quận L, thành phố Hà Nội. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2018, anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1991, trú tại thôn N, xã N, huyện H, tỉnh Bắc Giang có vay của vợ chồng Đào Đức H, sinh năm 1979 ở cùng thôn (vợ H là chị Nguyễn Thị C) số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) và hẹn hai đến ba ngày sau sẽ trả ngay. Tuy nhiên, từ khi vay tiền anh K vẫn không trả tiền cho vợ chồng H mặc dù vợ chồng H đã đòi nhiều lần. Đến tháng 9/2022, H tìm gặp anh K và bảo anh K viết giấy có nội dung nợ tiền H, anh K đồng ý và viết giấy nợ tiền đồng thời hẹn tới ngày 15/01/2023 sẽ trả tiền cho H.

Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 03/01/2023, anh K vào quán Bi-A của anh Hoàng Trí T2, sinh năm 1996 ở cùng thôn nhằm mục đích mượn điện thoại gọi vào số điện thoại của mình để tìm điện thoại. Khi vào quán, anh K gặp anh T2 cùng H và anh Đào Văn H1, sinh năm 1978 ở cùng thôn đang chơi B-A. Khi nhìn thấy anh K đi vào quán, do không nhớ việc anh K hẹn đến ngày 15/01/2023 mới trả nợ nên H đã đòi tiền anh K. H hỏi anh K: “mày không trả tiền tao à?” thì anh K nói lại là chưa đến ngày hẹn trả tiền nên chưa trả. Sau đó, hai bên xảy ra cãi chửi nhau. Sau khi cãi nhau, anh K quay lưng bỏ đi được khoảng 01 mét thì H sử dụng chiếc gậy Bi-a bằng gỗ đang cầm trên tay phải vụt 01 phát theo hướng từ phải sang trái, từ trên xuống dưới trúng vào vùng lưng trái của anh K. Bị H vụt, anh K dơ hai tay lên ôm đầu, H tiếp tục vụt 01 phát theo hướng từ phải sang trái trúng vào vùng vai trái của anh K khiến anh K choáng váng ôm đầu bỏ về. Thấy vậy, H chạy vòng qua bàn B1-a để chắn đầu anh K. Lúc này, anh K quỳ gối dùng hai tay ôm đầu và sau gáy, H đứng đối diện, cách khoảng 01 mét dùng chân phải đá 01 phát theo hướng từ dưới lên trên trúng vào vùng cằm của anh K làm anh K bị chảy máu ở miệng. Thấy anh K bị chảy máu ở miệng nên H không đánh anh K nữa. Sau đó, anh K đi về nhà rồi làm đơn trình báo đến Công an xã N để giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật. Đến rạng sáng ngày 04/01/2023, anh K đến Trung tâm y tế huyện H khám và điều trị đến ngày 16/01/2023 thì ra viện.

Sau khi sự việc xảy ra, ngày 04/01/2023, Công an xã N, huyện H đã tiến hành kiểm tra, xác định hiện trường. Cùng ngày, anh Hoàng Trí T2 đã tự nguyện giao nộp cho Công an xã N 01 gậy chọc Bi-a bằng gỗ, hình trụ, có chiều dài 1,47m, đường kính đoạn to nhất là 03cm, đường kính đoạn nhỏ nhất là 1,2cm, trên thân gậy có chữ “MAK”. Gậy được tháo lắp bằng vít xoay, từ đầu ốc vít xoay trở xuống được sơn màu đen, tính từ đầu ốc xoáy trở xuống tay cầm có chiều dài 76cm, đoạn từ vị trí ốc xoáy đến đầu gậy có màu vàng nâu, đầu gậy được gắn băng tẩy có vùng nhựa màu trắng, có chiều dài 71 cm. Ngày 10/01/2023, Công an xã N chuyển toàn bộ hồ sơ vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H để giải quyết theo thẩm quyền.

Tại tóm tắt hồ sơ bệnh án và bệnh án ngoại khoa số 58/1 ngày 16/01/2023 của Trung tâm y tế huyện H xác định: anh Nguyễn Văn K vào viện ngày 04/1/2023, ra viện ngày 16/01/2023, bệnh nhân đau vùng đầu, xây xát vùng mặt, chảy máu vùng môi, ấn đau vùng vai, lưng phải, hàm dưới sưng nề, hạn chế vận động hàm dưới, chẩn đoán vỡ xương hàm dưới, vỡ kín.

Ngày 08/02/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H ra Quyết định số 62/QĐ-CSĐT trưng cầu giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể; cơ chế hình thành thương tích đối với anh Nguyễn Văn K.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống 1275/23/KLTTCT-TTPY; Kết luận giám định vật gây thương tích 1275B cùng ngày 13/3/2023 của Trung tâm pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh B đối với thương tích của anh Nguyễn Văn K kết luận: Thương tích chạm thương vùng đỉnh đầu không còn dấu vết: 0%, thương tích chạm thương vùng vai phải không còn dấu vết: 0%. Thương tích vết sẹo mổ niêm mạc ngách lợi hàm dưới + Xquang răng toàn cảnh: Hình ảnh gãy ngành ngang xương hàm dưới trái, gần phía cằm, đã kết hợp xương bằng nẹp vít, hiện có vị trí giải phẫu bình thường, can tốt: 12%. Thương tích chạm thương vùng vai phải không còn dấu vết: 0%. Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn K tại thời điểm giám định là: 12% (Mười hai phần trăm). Các thương tích do vật tày gây nên. Chiếc gậy B1-a gửi giám định là vật gây ra được các thương tích của anh Nguyễn Văn K.”

Ngày 27/03/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H ra Quyết định số 01/QĐ-CSĐT trưng cầu Trung tâm pháp y - Bệnh viện đa khoa tỉnh B, giám định bổ sung, xác định tình huống gây thương tích: Anh Nguyễn Văn K quỳ gối, hai tay ôm đầu và sau gáy; Đào Đức H đứng đối diện, cách anh K khoảng 1m và dùng chân phải đá một phát từ dưới lên trên trúng vào vùng cằm của anh K. Trong trường hợp này, H có gây được thương tích vỡ xương hàm dưới, vỡ kín cho anh K theo hồ sơ bệnh án không?

Tại Bản kết luận giám định qua hồ sơ số: 1313/23/KLBSHS-PY ngày 31/3/2023 của Trung tâm pháp y- Bệnh viện đa khoa tỉnh B, kết luận: Trong trường hợp này gây được thương tích vỡ xương hàm dưới, vỡ kín cho anh K theo hồ sơ bệnh án.

Quá trình giải quyết vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã tiến hành cho Đào Đức H và anh Nguyễn Văn K tiến hành nhận dạng hung khí mà H gây thương tích cho anh K ngày 03/01/2023 đồng thời cho H thực nghiệm lại hành vi gây thương tích cho anh K. Kết quả, H nhận dạng được hung khí là chiếc gậy bi-a mà anh T2 giao nộp cho Công an xã N ngày 04/01/2023 chính là hung khí H gây thương tích cho anh K ngày 03/01/2023, anh K không nhận dạng được hung khí mà H dùng gây thương tích cho anh; H cũng thực hiện thành thục các động tác gây thương tích cho anh K, phù hợp với lời khai của H, lời khai của anh K tại Cơ quan điều tra và vật chứng thu giữ.

Về vật chứng của vụ án: 01 gậy chọc Bi-a bằng gỗ, hình trụ, có chiều dài 1,47m, đường kính đoạn to nhất là 03cm, đường kính đoạn nhỏ nhất là 1,2cm, trên thân gậy có chữ “MAK”; hiện đang tạm giữ chờ xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, Đào Đức H đã bồi thường cho anh Nguyễn Văn K tổng số tiền là 81.475.000 đồng. Đến nay, anh Nguyễn Văn K không đề nghị gì về việc bồi thường dân sự và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với H.

Tại bản cáo trạng số 57/CT-VKS-HH ngày 26/6/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Đào Đức Hạnh ra trước Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang để xét xử về tội “Cố ý gây thương tích”, theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

*Với nội dung trên bản án hình sự sơ thẩm số 57/2023/HS-ST ngày 01/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang đã xét xử và quyết định:

- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 54 của Bộ luật hình sự;

- Xử phạt: Bị cáo Đào Đức H 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù về “tội cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để đi thi hành án.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo, bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Sau khi án sơ thẩm xử xong, ngày 07/8/2023 bị cáo Đào Đức H kháng cáo. Nội dung kháng cáo: không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo 01 năm 04 tháng tù giam vì hiện nay bị cáo đang nuôi con nhỏ, bố mẹ già yếu đang ở cùng với bị cáo, bị cáo là lao động chính trong gia đình. Đề nghị cấp phúc thẩm giảm hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

*Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Đào Đức H giữ nguyên nội dung kháng cáo và trình bày: bị cáo xác định án sơ thẩm xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai. Tuy nhiên, bị cáo được bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xin hưởng án treo, bị cáo có đơn kiến nghị của Hội cựu chiến binh thôn N đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo, bị cáo là lao động chính trong gia đình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã kết luận và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo Đào Đức H. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 57/2023/HS-ST ngày 01/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều

38; Điều 50; Điều 54 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt: bị cáo Đào Đức H 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù về tội “cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để đi thi hành án.

Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

* Luật sư bào chữa cho bị cáo H trình bày tranh luận: Về tội danh nhất trí với bản án sơ thẩm. Tuy nhiên, bản án sơ thẩm nhận định “bị cáo H chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt mà đánh bị hại” và xác định bị cáo phạm tội có tính chất côn đồ, Luật sư không nhất trí với nhận định này vì giữa bị cáo và bị hại có mâu thuẫn từ trước, bị hại nợ tiền bị cáo từ rất lâu, đòi nhiều lần nhưng không trả, khi bị cáo đòi tiền bị hại lại có thái độ thách thức nên không thể truy tố bị cáo phạm tội có tính chất côn đồ.

Bị hại đã có đơn xin rút đơn tố cáo đối với bị cáo chứ không chỉ là đơn xin giảm nhẹ hình phạt, án sơ thẩm chưa nhận định về nội dung này. Việc xin rút đơn tố cáo của bị hại Khoát là hoàn toàn phù hợp với quy định của Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về hoàn cảnh của bị cáo, bị cáo là lao động chính trong gia đình, bố bị cáo ốm đau đang sống cùng bị cáo, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo có ý thức chấp hành pháp luật tốt, thực hiện các nghĩa vụ đối với địa phương, do sơ xuất bị cáo chưa kịp xin xác nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, áp dụng Nghị quyết 01, 02 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao cho bị cáo được hưởng án treo.

Bị cáo không có tranh luận gì.

* Viện kiểm sát tranh luận đối đáp: xác định bị cáo H phạm tội có tính chất côn đồ là có căn cứ. Vì anh K có nợ tiền của bị cáo, nhưng bị cáo đã thoả thuận cho nợ đến 15/01/2023, đến ngày 03/01/2023 bị cáo đã đòi anh K, hai bên xảy ra to tiếng bị cáo lấy gậy bi a đánh anh K, anh K bỏ chay, ôm đầu bị cáo tiếp tục lấy chân đá vào cằm anh K. Do đó, hành vi của bị cáo là có tính chất côn đồ.

Việc bị hại rút đơn khởi tố, đình chỉ vụ án chỉ áp dụng đối với bị cáo thuộc khoản 1 Điều 134, vụ án này bị cáo bị truy tố khoản 2 nên không thể đình chỉ. Bị cáo phạm tội có tính chất côn đồ nên bị cáo không đủ điều kiện được hưởng án treo quy định tại hướng dẫn Nghị quyết số 02/2018 và Nghị quyết 01/2022 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.

Bị cáo Đào Đức H nói lời sau cùng: đề nghị cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về việc vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Bị hại; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa, những người này không có kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo, kháng nghị nên tòa án cấp phúc thẩm không triệu tập.

[2]. Xét hành vi của bị cáo Đào Đức H, Hội đồng xét xử xét thấy: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo khác tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ tại cơ quan điều tra và đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét khách quan, đầy đủ, toàn diện nội dung vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 03/01/2023, tại quán Q-A của anh Hoàng Trí T2, sinh năm 1996 ở thôn N, xã N, huyện H, tỉnh Bắc Giang, do mâu thuẫn từ việc anh K vay tiền chưa trả, Đào Đức H đã có hành vi dùng gậy B1-a vụt 02 phát trúng vào lưng trái và vai trái của anh Nguyễn Văn K. Sau đó, anh K choáng váng ôm đầu bỏ về thì bị H đuổi theo chặn đầu. Anh K quỳ gối ôm đầu và sau gáy thì bị H đứng đối diện, cách khoảng 01 mét dùng chân phải đá 01 phát trúng vào vùng cằm làm anh K bị vỡ xương hàm dưới, bị thương tích 12% (Mười hai phần trăm) sức khỏe. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt, chưa đến thời hạn trả nợ tiền vay nhưng bị cáo đã đánh bị hại, khi bị hại bỏ chạy, bị cáo tiếp tục đuổi theo đánh nên bị cáo phải chịu tình tiết có tính chất côn đồ. Bị cáo dùng gậy bi – a đánh bị hại mặc dù không gây ra thương tích nhưng hành vì này với hành vi đá vào cằm bị hại đi liền với nhau. Do đó, bản án hình sự sơ thẩm số 57/2023/HS-ST ngày 01/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang xét xử bị cáo Đào Đức H tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng quy định pháp luật, không oan sai.

[3]. Xét kháng cáo xin gảim nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo:

[3.1]. Về tính chất hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến đến sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ, bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, thể hiện sự liều lĩnh, manh động, xem thường pháp luật và gây mất trật tự trị an tại địa phương và ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội. Do vậy, cần phải xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự, áp dụng hình phạt tù giam, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội này.

[3.2]. Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường cho bị hại, bị hại không có yêu cầu gì thêm, bị hại có đơn rút yêu cầu khởi tố, xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bố bị cáo là người được tặng thưởng huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhì nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Án sơ thẩm căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự xét xử bị cáo Đào Đức H 01 (Một) năm 04 (B2) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật và không nặng.

Quá trình xét xử tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm tài liệu về việc bị hại tiếp tục có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, Hội cựu chiên binh thôn xin giảm nhẹ và xin hưởng án treo cho bị cáo, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới ở cấp phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên cần xem xét chấp nhận giảm một phần hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp côn đồ nên bị cáo không đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Nghị quyết 02/2018 và Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

[3.3 ].Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b, khoản 1, Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo. Sửa bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện Hiệp Hoà.

[4]. Về việc chuyển hồ sơ kháng cáo muộn: bị cáo Đào Đức H có đơn kháng cáo từ ngày 07/8/2023 ngay sau khi kết thúc phiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm, xét thấy nội dung kháng cáo là hợp lệ và thời hạn kháng cáo đúng theo luật định. Tuy nhiên, do lỗi của cấp sơ thẩm Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa đã chậm trễ và giao hồ sơ kháng cáo muộn cho cấp phúc thẩm. Ngày 21/6/2024, thẩm Thẩm phán xét xử sơ thẩm Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa đã có bản giải trình về việc chậm chuyển hồ sơ kháng cáo. Xét thấy đây là lỗi vi phạm nên thẩm phán, thư ký cần rút kinh nghiệm và lãnh đạo Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa có biện pháp xử lý lỗi vi phạm này.

[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6]. Án phí phúc thẩm: Căn cứ Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo Đào Đức H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo, chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Đào Đức H. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 57/2023/HS-ST ngày 01/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

Xử:

Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:

- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 54 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Đào Đức H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để đi thi hành án.

2. Về án phí: căn cứ Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - CA, VKS, TA huyện Hiệp Hoà;
  • - Chi cục THADS huyện Hiệp Hoà;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - Lưu HS, HCTP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trần Thị Hà

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 171/2024/HS-PT ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về hình sự: cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 171/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Họ và tên: Đào Đức H, sinh năm: 1979; giới tính: nam; tên gọi khác: không; nơi cư trú: thôn N, xã N, huyện H, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn phổ thông: 12/12; nghề nghiệp: tự do; họ tên bố: Đào Quang Đ, sinh năm 1944; họ tên mẹ: Vũ Thị T1 (Đã chết); họ tên vợ: Nguyễn Thị C, sinh năm 1983; bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2010; anh chị em ruột: gia đình có 4 anh chị em, bị cáo là con út. Tiền án, tiền sự, nhân thân: không. Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, tại ngoại. (có mặt tại phiên tòa).
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger