Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 171/2024/HS-ST

Ngày: 19-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Uyên Thy.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Tùng
2. Ông Phạm Văn Hễ

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huyền Trân - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lại Thị Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 4 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 112/2024/HSST ngày 07 tháng 02 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1402/2024/QĐXXST-HS ngày 19/3/2024, đối với bị cáo:

1. Nguyễn Huy H; Sinh năm: 1988 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi HKTT: 20 N, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; ơi ở: căn hộ A chung cư C, đường A, Phường A, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: lớp 12/12; Con ông: Nguyễn Thành L (đã chết) và bà: Lê Thị L1, sinh năm 1955; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Bản án số 23/2020/HSST ngày 03/3/2020, Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù, tội “Tàng trữ trái phép cất ma túy”. Chấp hành xong án phạt tù ngày 19/3/2021, đã nộp án phí HSST ngày 17/8/2020. Tạm giam từ ngày 25/3/2023 (có mặt).

2. Chế Thanh P; Sinh ngày: 05/9/1997 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: 6 Đường số C, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; n tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Con ông: Trần Thanh T (đã chết) và bà Chế Thị Phương T1, sinh năm 1982; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: không.

Tạm giam từ ngày 25/3/2023 (có mặt).

3. Phạm Thị Tuyết N; Sinh ngày: 11/11/2001 tại thành phố C; Nơi đăng ký HKTT: ấp N, xã N, huyện P, thành phố C; Chỗ ở: căn hộ A chung cư C, đường V, Phường A, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông: Phạm Ngọc K, sinh năm 1977 và bà Lý Thị Lệ H1, sinh năm 1983; Chưa có chồng, con; Tiền án, tiền sự: không.

Tạm giam từ ngày 25/3/2023 (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Huy H: Ông Trần Ngọc H2, là Luật sư của công ty L3, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Hoàng K1; sinh năm 1997 (vắng mặt).

HKTT: số M đường L, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bà Võ Thị Ngọc L2; sinh năm 1995 (vắng mặt).

HKTT: số H đường N, Phường B, thành phố T, tỉnh L.

3. Phạm Thị Yến N1, sinh năm 2000 (vắng mặt).

HKTT: xã V, thôn V, tỉnh H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 25/3/2023, Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Quận 8 phối hợp cùng Công an Phường 16, Quận 8 kiểm tra hành chính căn hộ A chung cư C, đường V, Phường A, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại thời điểm kiểm tra, trong căn hộ có 06 đối tượng gồm: Nguyễn Huy H, Phạm Thị Tuyết N, Chế Thanh P, Nguyễn Hoàng K1, Võ Thị Ngọc L2 và Phạm Thị Yến N1. Qua kiểm tra, Tổ công tác phát hiện và thu giữ:

- Trên kệ phòng khách có 01 gói nylon chứa tinh thể màu trắng có khối lượng 70,053 gam loại Ketamine.

- Tại phòng ngủ thứ nhất: 01 đĩa sứ màu xanh có chứa chất bột màu trắng có khối lượng 0,1729 gam loại Ketamine, 01 thẻ nhựa và 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được cuộn tròn.

- Tại phòng ngủ thứ hai: 01 đĩa sứ màu trắng, phía trên có chứa chất bột màu trắng có khối lượng 0,4678 gam loại Ketamine, 01 thẻ nhựa và 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được cuộn tròn; 01 gói nylon chứa chất bột màu trắng có khối lượng 0,0302 gam loại Ketamine; 01 gói nylon chứa 01 viên nén màu xám có khối lượng 0,3975 gam loại MDMA.

- Nền nhà tại phòng ngủ thứ hai: 01 bịch nylon bên trong có: 01 gói nylon chứa tinh thể màu trắng có khối lượng 18,5038 gam loại Ketamine, 01 gói nylon chứa 05 viên nén màu xám có khối lượng 1,9619 gam loại MDMA, 01 gói nylon chứa 04 viên nén màu xám có khối lượng 1,8617 gam loại MDMA cùng 04 viên nén màu vàng có khối lượng 1,6132 gam loại MDMA, 06 gói nylon chứa tinh thể màu trắng, có khối lượng 12,0221 gam loại Ketamine và 01 cân tiểu ly.

Khám xét khẩn cấp căn hộ A chung cư C, số A đường V, Phường A, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh do Nguyễn Huy H đứng tên thuê chung sống cùng Phạm Thị Tuyết N, không phát hiện và thu giữ gì thêm liên quan đến vụ án.

Tổng số ma túy thu giữ là 101,2498 gam Ketamine và 5,8343 gam MDMA, theo Kết luận giám định số 2803/KL-KTHS ngày 31/3/2023 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh .

Quá trình điều tra, xác định: Nguyễn Huy H và Phạm Thị Tuyết N thuê căn hộ A chung cư C để sống chung như vợ chồng từ ngày 10/01/2023. Đến khoảng tháng 02/2023, H và N cho một người phụ nữ tên Diễm M (không rõ lai lịch) thuê phòng ngủ thứ nhất từ ngoài cửa chính vào để ở với giá 4.000.000 đồng/tháng và cho Phạm Thị Yến N1 (là bạn của Tuyết N) thuê phòng ngủ thứ ba từ ngoài cửa chính vào để ở với giá 3.500.000 đồng/tháng, còn H và N ở tại phòng ngủ thứ hai từ ngoài cửa chính vào.

Do cần tiền tiêu xài, H đã liên hệ mua ma túy loại Ketamine và thuốc lắc của các đối tượng không rõ lai lịch để bán cho người khác. Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 24/3/2023, H sử dụng mạng xã hội Telegram liên hệ một người đàn ông sử dụng tài khoản “KP” (không rõ lai lịch) để hỏi mua 100 gam Ketamine với giá 47.000.000 đồng và 15 viên thuốc lắc với giá 180.000 đồng/viên. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, có một người đàn ông mặc áo hãng G (không rõ lai lịch) giao 01 gói ma túy Ketamine và 15 viên ma túy thuốc lắc cho H tại trước sảnh chung cư C, A V, Phường A, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. H cầm toàn bộ số ma túy này mang lên căn hộ A chung cư C rồi phân chia gói Ketamine ra thành 07 gói nhỏ với khối lượng khoảng 2,5 gam, H dự định bán với giá 2.000.000 đồng/gói và 01 gói lớn với khối lượng khoảng 20 gam dự định bán với giá 10.000.000 đồng, sau đó cất giấu 08 gói ma túy loại Ketamine vừa phân chia chung với 15 viên thuốc lắc (dự định bán 210.000 đồng/viên) trong một bịch nylon và đặt dưới nền nhà cạnh bàn trang điểm trong phòng ngủ thứ hai. Đối với gói ma túy loại Ketamine còn lại, H cất giấu trên kệ phòng khách và dự định tiếp tục phân lẻ ra bán cho người nghiện.

Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 24/3/2023, khi H đang ở cùng Tuyết N tại căn hộ trên (D và Yến N1 đã ra ngoài trước đó) thì có Chế Thanh P, Nguyễn Hoàng K1 và Võ Thị Ngọc L2 đến chơi. Lúc cả 05 người đang ngồi trong phòng ngủ của H và Tuyết N, thì H nảy sinh ý định cùng mọi người sử dụng ma túy nên đã hỏi P, K1, L2 có muốn sử dụng ma túy không và chi phí tiền mua ma túy sẽ tính toán sau khi sử dụng thì cả ba đồng ý và Tuyết N cũng không có ý kiến gì. H lấy từ trong bịch nylon đặt dưới nền nhà cạnh bàn trang điểm ra 01 gói ma túy Ketamine, cùng 01 thẻ nhựa và 01 tờ tiền cuộn tròn dùng làm dụng cụ sử dụng ma túy. H đổ ma túy loại Ketamine ra đĩa sứ, dùng thẻ nhựa cà nhuyễn ma túy và đặt đĩa sứ chứa ma túy lên trên bàn trang điểm rồi để cho mọi người dùng tờ tiền cuộn tròn cùng nhau sử dụng.

Đồng thời, do trước đó P có hỏi xin ma túy của H nên trong lúc lấy ma túy thì H có lấy thêm 02 viên ma túy loại thuốc lắc cho P. Sau khi nhận ma túy từ H, P cũng đặt số ma túy này xuống bàn trang điểm để mọi người cùng nhau sử dụng. H, Tuyết N, P, K1 và L2 sử dụng Ketamine.

Ngoài ra, K1 và L2 còn sử dụng 01 viên ma túy thuốc lắc. Đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 25/3/2023, Yến N1 trở về căn hộ, vào phòng ngồi nói chuyện, nhưng không biết cả nhóm H sử dụng ma túy. Sau đó, Công an kiểm tra phát hiện, thu giữ toàn bộ số ma túy. Đối với số ma túy mà Công an thu giữ tại phòng ngủ thứ nhất từ ngoài cửa chính vào là của H cho Diễm M để sử dụng.

Chế Thanh P, Nguyễn Hoàng K1, Võ Thị Ngọc L2, Phạm Thị Yến N1 khai nhận diễn biến vụ án phù hợp với lời khai của Nguyễn Huy H. Phạm Thị Tuyết N khai nhận căn hộ A chung cư C do H và Tuyết N thuê để chung sống với nhau. Khoảng tháng 01/2023, H và N đã cùng nhau sử dụng ma túy tại nơi ở, ma túy do bạn ngoài xã hội cho. Tuyết Nhi không biết, không tham gia mua bán ma túy với H, chỉ đến khi H lấy ma túy ra cho cả nhóm sử dụng vào ngày 24/3/2023 thì Tuyết N mới biết việc H có cất giấu ma túy tại căn hộ.

Quá trình điều tra, xác định Phạm Thị Yến N1 không liên quan đến vụ án, kết quả xét nghiệm chất ma túy của Yến N1 âm tính nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã tiến hành trả tự do cho Yến N1.

Đối với Nguyễn Hoàng K1 và Võ Thị Ngọc L2, kết quả điều tra không đủ căn cứ để xử lý hình sự, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã ra Quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can, trả tự do cho K1 và L2. Kết quả xét nghiệm chất ma túy đối với Nguyễn Hoàng K1, Võ Thị Ngọc L2 dương tính (có sử dụng ma túy), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã chuyển hồ sơ xử lý hành chính đối với K1 và L2 theo quy định.

Tại bản Cáo trạng số 626/CT-VKSTPHCM-P1 ngày 21/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Huy H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 3 Điều 251; tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Bị cáo Chế Thanh P bị truy tố về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Bị cáo Phạm Thị Tuyết N bị truy tố về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa sơ thẩm: Các bị cáo thừa nhận hành vi của mình như Cáo trạng nêu trên và xin được giảm nhẹ hình phạt

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quan điểm truy tố, xét các bị cáo Nguyễn Huy H, Chế Thanh P và Phạm Thị Tuyết N có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải.

Xét bị cáo Nguyễn Huy H phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, có nhân thân xấu, đã bị phạt tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, nay lại tiếp tục phạm tội, nên đề nghị áp dụng điểm h khoản 3, khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo H từ 16 năm đến 17 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo H từ 7 năm 6 tháng đến 8 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo H từ 01 năm đến 1 năm 6 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Nguyễn Huy H phải chấp hành chung hình phạt của 3 tội và phạt bổ sung số tiền là 10.000.000 đồng.

Xét thấy bị cáo Chế Thanh P và Phạm Thị Tuyết N phạm tội lần đầu, các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, các bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, nên đề nghị áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Chế Thanh P từ 7 năm đến 7 năm 6 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo P từ 1 năm đến 1 năm 6 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Chế Thanh P phải chấp hành chung hình phạt của 2 tội.

Đối với bị cáo Phạm Thị Tuyết N đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Thị Tuyết N từ 7 năm đến 7 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về xử lý vật chứng của vụ án, đề nghị tịch thu tiêu hủy ma túy còn lại sau giám định, các vật chứng khác xử lý theo quy định pháp luật.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Huy H trình bày: Đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo, tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ do bị cáo có tham gia nghĩa vụ quân sự, là sĩ quan dự bị, mẹ bị cáo bệnh nặng, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực hợp tác với cơ quan điều tra, số lượng ma túy chưa bị phát tán ra ngoài xã hội, nên đề nghị áp dụng quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, đề nghị xử phạt bị cáo với mức hình phạt nhẹ hơn đề nghị của Viện kiểm sát và giảm 1 phần hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Các bị cáo Chế Thanh P và Phạm Thị Tuyết N không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và trong lời nói sau cùng bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Quá trình điều và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Huy H, Chế Thanh P và Phạm Thị Tuyết N không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Huy H tại phiên tòa cũng như các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định:

Vào khoảng 02 giờ 00 phút ngày 25/3/2023, tại căn hộ A chung cư C, A V, Phường A, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh do Nguyễn Huy H thuê, Công an phát hiện bắt quả tang: Trên kệ phòng khách có 01 gói nylon chứa tinh thể màu trắng có khối lượng 70,053 gam loại Ketamine; Tại phòng ngủ thứ nhất: 01 đĩa sứ màu xanh có chứa chất bột màu trắng có khối lượng 0,1729 gam loại Ketamine; Tại phòng ngủ thứ hai: 01 đĩa sứ màu trắng, phía trên có chứa chất bột màu trắng có khối lượng 0,4678 gam loại Ketamine; 01 gói nylon chứa chất bột màu trắng có khối lượng 0,0302 gam loại Ketamine; 01 gói nylon chứa 01 viên nén màu xám có khối lượng 0,3975 gam loại MDMA.

Tại nền nhà phòng ngủ thứ hai: 01 bịch nylon bên trong có: 01 gói nylon chứa tinh thể màu trắng có khối lượng 18,5038 gam loại Ketamine, 01 gói nylon chứa 05 viên nén màu xám có khối lượng 1,9619 gam loại MDMA, 01 gói nylon chứa 04 viên nén màu xám có khối lượng 1,8617 gam loại MDMA cùng 04 viên nén màu vàng có khối lượng 1,6132 gam loại MDMA, 06 gói nylon chứa tinh thể màu trắng, có khối lượng 12,0221 gam loại Ketamine.

Tổng số ma túy thu giữ của Nguyễn Huy H là 101,2498 gam Ketamine và 5,8343 gam MDMA.

Như vậy, do cần tiền tiêu xài, Nguyễn Huy H đã liên hệ mua 101,2498 gam Ketamine và 5,8343 gam MDMA của đối tượng không rõ lai lịch, đem về căn hộ của H cất giấu rồi bán lại cho khách có nhu cầu mua ma túy để kiếm lời. Sau đó H lấy căn hộ nơi H đang ở làm địa điểm, cung cấp chất ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy để tổ chức cho Chế Thanh P, Phạm Thị Tuyết N, Nguyễn Ngọc K2 và Võ Thị Ngọc L2 cùng sử dụng. Ngoài ra, Nguyễn Huy H còn cho Diễm M 0,1729 gam loại Ketamine và cho Chế Thanh P 0,3975 gam loại MDMA để sử dụng.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Huy H đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự; tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Khi được Nguyễn Huy H rủ cùng sử dụng ma túy thì Chế Thanh P và Phạm Thị Tuyết N đồng ý. Ngoài ra Chế Thanh P còn xin ma túy của Nguyễn Huy H 0,3975 gam loại MDMA để sử dụng và đặt số ma túy này xuống bàn trang điểm để mọi người cùng nhau sử dụng. Do đó hành vi của Chế Thanh P và Phạm Thị Tuyết N đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với vai trò đồng phạm với bị cáo Nguyễn Huy H với tình tiết định khung “đối với 2 người trở lên” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Hành vi của Chế Thanh P cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố các bị cáo Nguyễn Huy H, Chế Thanh P và Phạm Thị Tuyết N theo tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo Nguyễn Huy H là đặc biệt nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác, gây tác hại xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Bị cáo nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình sẽ bị pháp luật trừng phạt, nhưng đã bất chấp hậu quả, nên cần có mức án nghiêm khắc đối với bị cáo nhằm cải tạo giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội. Đồng thời, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, phạt bị cáo Nguyễn Huy H số tiền 5.000.000 đồng;

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Chế Thanh P và Phạm Thị Tuyết N không có. Bị cáo Nguyễn Huy H có nhân thân xấu, từng bị Tòa án nhân dân Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 1 năm 0 tháng tù, tội “Tàng trữ trái phép cất ma túy”.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình khó khăn, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt.

[6] Quá trình điều tra, xác định Phạm Thị Yến N1 không liên quan đến vụ án, kết quả xét nghiệm chất ma túy của Yến N1 âm tính nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã tiến hành trả tự do cho Yến N1.

Đối với Nguyễn Hoàng K1 và Võ Thị Ngọc L2, kết quả điều tra không đủ căn cứ để xử lý hình sự, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã ra Quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can, trả tự do cho K1 và L2. Kết quả xét nghiệm chất ma túy đối với Nguyễn Hoàng K1, Võ Thị Ngọc L2 dương tính (có sử dụng ma túy), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã chuyển hồ sơ xử lý hành chính đối với K1 và L2 theo quy định

Đối với đối tượng Diễm M (chưa rõ lai lịch) đề nghị Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra làm rõ hành vi của Diễm M.

[6] Lập luận trên là căn cứ để chấp nhận quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát và một phần lời bào chữa của Luật sư.

[7] Về vật chứng của vụ án:

  • - 05 gói niêm phong số 647/23 (1,2,3,4,5) bên ngoài có ghi chữ ký giám định viên Nguyễn Mạnh C và ĐTV Hà Tuấn D, bên trong là ma túy còn lại sau giám định. Xét đây là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
  • - 2 thẻ nhựa là vật chứng của vụ án nên tịch thu tiêu hủy
  • - 1 điện thoại di động Iphone (...2172) thu giữ của bị cáo Nguyễn Huy H dùng để liên lạc mua bán ma túy nên tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước
  • - 1 điện thoại di động Samsung thu giữ của bị cáo Chế Thanh P; 1 điện thoại di động hiệu Iphone (...3069) và 1 điện thoại di động hiệu Iphone thu giữ của bị cáo Phạm Thị Tuyết N dùng để liên lạc cá nhân nên trả lại cho các bị cáo
  • - 1 điện thoại di động hiệu Iphone (...3674) thu giữ của Nguyễn Ngọc K2; 1 điện thoại di động hiệu Iphone (...8865) thu giữ của Võ Thị Ngọc L2, không liên quan đến vụ án nên trả lại cho Nguyễn Ngọc K2 và Võ Thị Ngọc L2.
  • - 1 cân điện tử liên quan đến vụ án nên tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.
  • - 01 két sắt; 1 điện thoại Iphone (...7377) và (...5810) thu giữ của Phạm Thị Yến N1 không liên quan đến vụ án nên trả lại cho Yến N1.
  • - Số tiền 20.000 đồng thu giữ của bị cáo Nguyễn Huy H liên quan đến vụ án nên tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm h khoản 3, khoản 5 Điều 251; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy H 15 (mười lăm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Nguyễn Huy H phải chấp hành chung hình phạt của ba tội là 23 (hai mươi ba) năm 9 (chín) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 25/3/2023.

Buộc bị cáo Nguyễn Huy H nộp phạt số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng để nộp vào ngân sách Nhà Nước.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Chế Thanh P 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Chế Thanh P phải chấp hành chung hình phạt của 2 tội là 8 năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 25/3/2023.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Phạm Thị Tuyết N 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Thời hạn tù tính từ ngày 25/3/2023.

Căn cứ Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

* Tịch thu tiêu hủy:

  • - 05 gói niêm phong số 647/23 (1,2,3,4,5) bên ngoài có chữ ký giám định viên Nguyễn Mạnh C và ĐTV Hà Tuấn D, bên trong là ma túy còn lại sau giám định.
  • - 02 thẻ nhựa.

* Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước:

  • - 01 cân điện tử
  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone (...2172, đã cũ, không kiểm tra đời máy, I do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong).
  • - Số tiền 20.000 đồng (Theo Giấy nộp tiền ngày 28/8/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an Thành phố Hồ Chí Minh nộp tại Kho bạc Nhà nước Q1, Thành phố Hồ Chí Minh)

*Trả lại cho bị cáo Chế Thanh P:

  • - 01 điện thoại di động hiệu S (đã cũ, bể lưng, không kiểm tra đời máy, I do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong)

*Trả lại cho bị cáo Phạm Thị Tuyết N:

  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone (...3069, đã cũ, không kiểm tra đời máy, I do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong).
  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone (thực nhận 01 điện thoại kiểu dáng Iphone màu vàng đồng, không kiểm tra Imei ở khe sim, đã cũ, không kiểm tra đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong).

* Trả lại cho bị cáo Phạm Thị Yến N1:

  • - 01 két sắt hiệu TRULY (đã cũ).
  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone (...7377, đã cũ, không kiểm tra đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong).
  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone (...5810, bể màn hình, đã cũ, không kiểm tra đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong).

* Trả lại cho Nguyễn Ngọc K2:

  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone (...3674, đã cũ, không kiểm tra đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong).

*Trả lại cho Võ Thị Ngọc L2:

  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone (...8865, đã cũ, không kiểm tra đời máy, Imei do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong)

(Theo Biên bản giao nhận tang tài vật số NK2024/103 ngày 19/12/2023 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).

Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao; (1)
  • - TAND cấp cao tại TP.HCM; (1)
  • - VKSND TP.HCM; (3)
  • - Phòng PV06 - Công an TP.HCM; (1)
  • - Bị cáo; (3)
  • - Trại giam; (3)
  • - Đương sự; (1)
  • - Cục THA Dân sự TP.HCM; (1)
  • - THA Hình sự; (1)
  • - UBND nơi bị cáo cư trú; (3)
  • - Sở Tư pháp TP.HCM; (1)
  • - Lưu, Tòa Hình sự, hồ sơ. (30) (11)

Phạm Uyên Thy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 171/2024/HS-ST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự: mua bán, tổ chức sử dụng và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 171/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự: Mua bán, Tổ chức sử dụng và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Huy H và đồng phạm - Mua bán, tàng trữ, tổ chức trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger