|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 171/2024/HS-ST
Ngày: 18 – 7 – 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Quang Ngọc Nhân.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Văn Công;
- Bà Dương Thị Bạn.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nghĩa - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Sỹ - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 165/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 239/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 07 năm 2024 đối với bị cáo:
Phan Chí T, sinh năm 1992 tại tỉnh Đồng Tháp; nơi thường trú: Ấp P, xã P, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Thanh T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị H; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị H1 và 01 người con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/11/2023 đến nay, có mặt.
Bị hại:
- - Bà Trần Thị T2, sinh năm 1997; nơi cư trú: Thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tỉnh, vắng mặt.
- - Bà Phạm Thị Ngọc T3, sinh năm 2001; nơi cư trú: Ấp Đ, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
- - Bà Nguyễn Thị Mỹ X, sinh năm 2003; nơi cư trú: Tổ C, ấp T, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang, vắng mặt.
- - Bà Trần Thị H2, sinh năm 1994; nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An, vắng mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- - Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1989; nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện H, tỉnh Đồng Tháp, vắng mặt.
- - Ông Nguyễn Đình N, sinh năm 1983; nơi cư trú: 12/5, khu phố D, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người làm chứng: Dan Hữu T4, Đặng Văn T5, Đào Văn S, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phan Chí T không có nghề nghiệp ổn định nên nảy sinh ý định đi đến các khu chợ đông người để tìm kiếm tài sản sơ hở của người dân đi chợ để chiếm đoạt, bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Thực hiện ý định trên vào khoảng 08 giờ 00 phút ngày 13/11/2023, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đỏ, biển số 67K1-827.67 đi đến chợ V, thuộc khu phố D, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Tại đây, T phát hiện chiếc xe mô tô Vision, biển số 38D1-080.32 của bà Trần Thị T2 đang dựng trước ki ốt bán thịt bò của bà T2, bên hộc trái đầu xe mô tô có để 01 chiếc điện thoại di động OPPO Reno 6Z, khi quan sát xung quanh không thấy người để ý nên T điều khiển xe mô tô tiếp cận và lén lút dùng tay lấy chiếc điện thoại của bà T2 rồi điều khiển xe rời đi.
Lúc này, ông Dan Hữu T4 đang ngồi uống nước tại quán ven đường nhìn thấy T vừa chiếm đoạt tài sản của bà T2 nên tri hô “cướp cướp” và chạy bộ đến dùng chân đạp vào xe T nhưng T tiếp tục điều khiển xe mô tô bỏ chạy. Thời điểm này, ông T4 cùng với ông Đặng Văn T5 và ông Đào Văn S cùng điều khiển xe mô tô đuổi theo T đến đoạn đường bê tông trong hẻm Đ, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì bắt giữ được bị cáo cùng tang vật và giao lại lực lượng Công an xử lý. Tại Cơ quan Công an, T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên, ngoài ra Phan Chí T còn khai nhận trước đó đã thực hiện 04 vụ chiếm đoạt tài sản trên địa bàn phường A và phường T, thành phố T cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Vào ngày 05/6/2023, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu sơn đỏ (không gắn biển số) đến chợ V nằm trên đường D giao nhau với đường D, thuộc khu phố D, phường A, T nhìn thấy 01 cái bóp da màu đen của bà Phạm Thị Ngọc T3 để trên giỏ của 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave Alpha, màu sơn xanh dương (không rõ biển số) không có người trông coi dựng trước một cửa hàng bán rau. Lúc này, T lén lút đi đến lấy trộm cái bóp da trên rồi điều khiển xe mô tô rời khỏi hiện trường. T kiểm tra bên trong bóp thì thấy bên trong có số tiền 1.050.000 đồng và 01 Căn cước công dân, 01 Chứng minh
nhân dân, 01 thẻ bảo hiểm y tế, 01 thẻ ATM ngân hàng V1, 02 thẻ ATM ngân hàng S1, 01 thẻ ATM ngân hàng V2, 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 61F1-502.71 đều mang tên Phạm Thị Ngọc T3. Sau đó, T lấy số tiền 1.050.000 đồng tiêu xài cá nhân hết còn giấy tờ tùy thân và cái bóp da T cất giấu tại nhà trọ địa chỉ số D, khu phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương, sau khi bị bắt T đã giao nộp lại cho Cơ quan Công an.
Vụ thứ hai: Vào khoảng tháng 09/2023 (không nhớ rõ ngày), T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu sơn đỏ (không gắn biển số) lưu thông trên đường, khi đến trước khu vực phòng số 4, địa chỉ: Ô, lô A, khu phố B, phường T thì phát hiện bên hộc xe của 01 chiếc xe mô tô Vision, màu sơn trắng (không rõ biển số) của bà Nguyễn Thị Mỹ X có để 01 chiếc điện thoại di động OPPO A15, màu trắng, sau đó T lén lút dùng tay chiếm đoạt chiếc điện thoại di động trên và điều khiển xe rời khỏi hiện trường. Sau khi chiếm đoạt được chiếc điện thoại này, T thấy chiếc điện thoại bị hư màn hình không có giá trị cao nên không bán mà để lại để sử dụng.
Vụ thứ ba: Vào khoảng tháng 10/2023 (không nhớ rõ ngày), T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu sơn đỏ, (không gắn biển số) đi tìm tài sản sơ hở của người dân để chiếm đoạt. Khi đi đến khu dân cư T, không rõ địa chỉ cụ thể thì phát hiện bên hộc xe của xe mô tô Vision (không rõ biển số) có 01 chiếc điện thoại SAMSUNG A53 5G, màu đen. Sau khi quan sát xung quanh thấy không có người trông coi nên T lén lút đi đến dùng tay lấy chiếc điện thoại di động trên và điều khiển xe rời khỏi hiện trường. Sau đó, T mang chiếc điện thoại vừa chiếm đoạt được đến tiệm Thế giới cầm đồ địa chỉ: 12/5, khu phố D, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương bán cho ông Nguyễn Đình N với giá 3.000.000 đồng, số tiền này T đã tiêu xài cá nhân hết. Qua công tác điều tra, ông N đã giao nộp lại chiếc điện thoại trên cho Công an phường A.
Vụ thứ tư: Vào khoảng 08 giờ ngày 01/11/2023, T điều khiển xe mô tô Wave Alpha, màu đỏ, biển số 67K1-827.67 đi đến khu vực chợ V, đường D, khu phố D, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì phát hiện bên hộc xe của chiếc xe mô tô Vision, màu xanh, biển số 37M1- 189.30 của bà Trần Thị H2 có để 01 chiếc điện thoại di động VIVO T1 5G, màu xanh, bị cáo T lén lút đi đến gần rồi dùng tay lấy chiếc điện thoại di động và điều khiển xe rời khỏi hiện trường. Sau đó, T mang chiếc điện thoại chiếm đoạt được đến tiệm Thế giới cầm đồ bán cho ông Nguyễn Đình N, sinh năm 1983, địa chỉ như trên với giá 2.500.000 đồng, T đã tiêu xài cá nhân hết. Qua công tác điều tra, ông N đã giao nộp lại chiếc điện thoại trên cho Công an phường A.
Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, kiểu dáng Wave Alpha, màu sơn đỏ, biển số 67K1-827.67; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Renno 6Z, màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15, màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO T1 5G, màu xanh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG A53 5G, màu đen; 01 ví da màu đen in chữ LESAC bên
trong có: 01 Căn cước công dân, 01 Chứng minh nhân dân, 01 thẻ bảo hiểm y tế, 01 thẻ ATM ngân hàng V1, 02 thẻ ATM ngân hàng S1, 01 thẻ ATM ngân hàng V2, 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 61F1-502.71 đều mang tên Phạm Thị Ngọc T3.
Kết luận định giá tài sản ngày 21/11/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Renno 6Z, màu đen trị giá 3.000.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15, màu trắng trị giá 1.000.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG A53 5G, màu đen trị giá 4.500.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO T1 5G, màu xanh trị giá 3.300.000 đồng; 01 ví da nữ màu đen trị giá 100.000 đồng.
Cáo trạng số: 156/CT-VKS-TA ngày 05/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Phan Chí T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Chí T mức hình phạt từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.
- - Về xử lý vật chứng:
- + Đề nghị xử lý theo quy định đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, kiểu dáng Wave Alpha, màu sơn đỏ, biển số 67K1-827.67 đứng tên bà Nguyễn Thị H1 (là vợ của bị cáo T).
- + Tiếp tục giao cho Cơ quan điều tra 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG A53 5G, màu đen để tiếp tục điều tra, xử lý.
- - Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường 1.050.000 đồng cho bà Phạm Thị Ngọc T3 và 5.500.000 đồng cho ông Nguyễn Đình N.
- Bị cáo Phan Chí T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung của Bản kết luận điều tra và Cáo trạng, thống nhất với lời luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng bị cáo thể hiện thái độ ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, vật chứng thu giữ, lời khai của bị hại, người làm chứng, do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
[2.1] Trong khoảng thời gian từ tháng 6/2023 đến ngày 13/11/2023 tại khu vực phường A và phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, bị cáo Phan Chí T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Renno 6Z, màu đen trị giá 3.000.000 đồng của bà Trần Thị T2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO T1 5G, màu xanh trị giá 3.300.000 đồng của bà Trần Thị H2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15, màu trắng trị giá 1.000.000 đồng của bà Nguyễn Thị Mỹ X; 01 ví da nữ màu đen trị giá 100.000 đồng và số tiền 1.050.000 đồng của bà Phạm Thị Ngọc T3, tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 8.450.000 đồng hành vi của bị cáo sau đó bị phát hiện, bắt giữ. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[2.2] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, do đó cần có mức án nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục cũng như phòng ngừa chung cho xã hội.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên đây là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 2 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Sau khi phạm tội quả tang, bị cáo tự nguyện khai báo đối với các hành vi trộm cắp tài sản đã thực hiện trước đó, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tự thú theo quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị xử phạt bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi mà bị cáo đã thực hiện nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- - Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Renno 6Z, màu đen, quá trình điều tra xác định là tài sản của bà Trần Thị T2 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại tài sản cho bà T2 là phù hợp.
- - Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15, màu trắng, quá trình điều tra xác định là tài sản của bà Trần Thị H2 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại tài sản cho bà H2 là phù hợp.
- - Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO T1 5G, màu xanh, quá trình điều tra xác định là tài sản của bà Nguyễn Thị Mỹ X nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại tài sản cho bà X là phù hợp.
- - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG A53 5G, màu đen, quá trình điều tra bị cáo Phan Chí T khai nhận chiếm đoạt vào khoảng tháng 10/2023 tại khu dân cư T, thuộc khu phố B, phường T, thành phố T, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành điều tra nhưng không xác định được bị hại. Do vậy, cần giao chiếc điện thoại trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra, xác minh, xử lý sau.
- - Đối với 01 chiếc ví da màu đen in chữ LESAC bên trong có: 01 Căn cước công dân, 01 Chứng minh nhân dân, 01 thẻ bảo hiểm y tế, 01 thẻ ATM ngân hàng V1, 02 thẻ ATM ngân hàng S1, 01 thẻ ATM ngân hàng V2 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 61F1-502.71 đều mang tên Phạm Thị Ngọc T3, quá trình điều tra xác định là tài sản của bà T3 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại những tài sản cho bà T3 là phù hợp.
- - Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, kiểu dáng Wave Alpha, màu sơn đỏ, biển số 67K1-827.67 quá trình điều tra xác định là tài sản do bà Nguyễn Thị H1 (là vợ của bị cáo T) đứng tên chủ sở hữu, bị cáo T khai nhận chiếc xe trên là do bà H1 tự mua, bị cáo không có đóng góp gì, do hoàn cảnh khó khăn nên bà H1 giao xe cho bị cáo sử dụng làm phương tiện đi lại, việc bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội bà H1 không biết nên cần trả lại cho bà H1.
- - Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, kiểu dáng Wave Alpha, màu sơn đỏ, không gắn biển số, quá trình điều tra bị cáo T khai nhận là chiếc xe cũ mua lại của người khác (không rõ nhân thân) vào năm 2022 với giá 3.000.000 đồng, không làm hợp đồng mua bán không nhớ biển số, đến khoảng giữa tháng 10/2023 bị cáo đã bán cho một người khác (không rõ nhân thân địa chỉ) với giá 1.500.000 đồng, không làm hợp đồng mua bán, Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra nhưng không thu hồi được chiếc xe trên, cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bà Phạm Thị Ngọc T3 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 1.050.000 đồng; ông Nguyễn Đình N yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 5.500.000 đồng, bị cáo T đồng ý bồi thường nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 173; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự;
- - Các Điều 106, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Các Điều 584, 585, 586 và 590 của Bộ luật Dân sự;
- - Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 – 12 – 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Phan Chí T phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Xử phạt bị cáo Phan Chí T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/11/2023.
2. Về xử lý vật chứng:
- - Trả lại cho bà Nguyễn Thị H1: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu: HONDA, số loại: JA391 WAVE a, màu sơn đỏ, thể tích 109,1 cm³, biển số: 67K1-827.67, số máy: JA39E1277580, số khung: RLHJA3918KY408152, số khung số máy không đổi.
- - Giao cho Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T tiếp tục xác minh, xử lý đối với: 01 chiếc điện thoại di động Sam Sung A53 5G, màu đen.
- (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05 tháng 6 năm 2024).
3. Về trách nhiệm dân sự:
Buộc bị cáo Phan Chí T có trách nhiệm bồi thường cho bà Phạm Thị Ngọc T3 số tiền 1.050.000 đồng (một triệu không trăm năm mươi nghìn đồng) và bồi thường cho ông Nguyễn Đình N số tiền 5.500.000 đồng (năm triệu năm trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
4. Về án phí:
Bị cáo Phan Chí T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 327.500 đồng (ba trăm hai mươi bảy nghìn năm trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Quang Ngọc Nhân |
Bản án số 171/2024/HS-ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 171/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HÌNH SỰ
