|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG |
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 171/2024/HN-ST
Ngày: 14-6-2024
V/v tranh chấp “Ly hôn và nuôi con”
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Công Đức
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Ly
- Ông Trương Phước Công
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Hồng Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Kiều Tiên – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 109/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 266/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trương Văn L, sinh năm 1967 (Có mặt)
- Bị đơn: Bà Phạm Thị H, sinh năm 1971 (Vắng mặt)
Địa chỉ: số B, khóm T1, thị trấn H, huyện C, tỉnh An Giang.
Địa chỉ: số B, khóm T1, thị trấn H, huyện C, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và tờ tự khai nguyên đơn ông Trương Văn L trình bày, ông và bà Phạm Thị H tự nguyện tìm hiểu và sống chung vào năm 1989, có đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống với nhau đến năm 2018 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do không hợp nhau, vợ thường bỏ nhà đi chơi, nên vợ chồng thường cãi nhau. Vợ chồng không còn sống chung từ năm 2018 đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn, ông yêu cầu được ly hôn với bà H.
Về con chung: Ông L xác định vợ chồng có 03 con chung tên Trương Thị Phụng C, sinh ngày 05/5/1990; Trương Thị Phụng E, sinh 10/8/1992; Trương Văn N, sinh ngày 20/10/1994, hiện 03 con chung đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Ông L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Bị đơn bà Phạm Thị H đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án của ông L và triệu tập hợp lệ để giải quyết, nhưng bà H vắng mặt không lý do, nên không ghi nhận ý kiến và hòa giải được.
Tại phiên tòa, ông Trương Văn L vẫn giữ nguyên yêu cầu.
Bà Phạm Thị H đã được tống đạt để tham gia phiên tòa, nhưng bà vắng mặt không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đảm bảo theo quy định của pháp luật.
Ý kiến quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới về việc giải quyết vụ án:
Chấp nhận yêu cầu của ông Trương Văn L xin ly hôn bà Phạm Thị H.
Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 03 con chung tên Trương Thị Phụng C, sinh ngày 05/5/1990; Trương Thị Phụng E, sinh 10/8/1992; Trương Văn N, sinh ngày 20/10/1994, hiện 03 con chung đã trưởng thành, nên không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]- Về hình thức: Ông Trương Văn L khởi kiện xin ly hôn bà Phạm Thị H có nơi cư trú khóm Thị 1, thị trấn H, huyện C, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
Bà Phạm Thị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa đến lần thứ hai, nhưng ông T vắng mặt không lý do chính đáng. Căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Phạm Thị H là có căn cứ
[2]- Về nội dung: Ông Trương Văn L và bà Phạm Thị H sống chung vào năm 1989, có đăng ký kết hôn theo qui định. Vợ chồng sống đến năm 2018 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân vợ chồng không hợp nhau, vợ thường bỏ nhà đi chơi, nên vợ chồng hay cãi nhau. Vợ chồng không còn sống chung từ năm 2018 đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn, ông L xin ly hôn bà H. Hội đồng xét xử xét thấy, bà H và ông L kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, nên quan hệ hôn nhân giữa hai người được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án xin ly hôn của ông L, nhưng bà H không có ý kiến gì và vắng mặt trong các buổi hòa giải, điều này chứng tỏ mâu thuẫn giữa hai người đã trầm trọng nếu sống chung lại cũng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó việc ông L xin ly hôn bà H là có cơ sở phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, nên chấp nhận yêu cầu của ông Trương Văn L.
[2.1]- Về quan hệ con chung: Ông L xác định vợ chồng có 03 con chung tên vợ chồng có 03 con chung tên Trương Thị Phụng C, sinh ngày 05/5/1990; Trương Thị Phụng E, sinh 10/8/1992; Trương Văn N, sinh ngày 20/10/1994, hiện 03 con chung đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
[2.2]- Về quan hệ tài sản chung: Ông L không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3]- Về nợ chung: Ông L xác định không có, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
[3]- Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Đương sự phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Điều 28, 35, 39, 147, 227, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Về quan hệ hôn nhân:
Chấp nhận yêu cầu của ông Trương Văn L xin ly hôn bà Phạm Thị H.
Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 96 ngày 15/7/2003 của Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện C, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.
Về quan hệ con chung:
Vợ chồng có 03 con chung tên Trương Thị Phụng C, sinh ngày 05/5/1990; Trương Thị Phụng E, sinh 10/8/1992; Trương Văn N, sinh ngày 20/10/1994, hiện 03 con chung đã trưởng thành.
Về quan hệ tài sản chung:
Không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung:
Ghi nhận ông L xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung trong thời kỳ hôn nhân thì bà H, ông L vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
- Về án phí:
Ông Trương Văn L phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số 0015089 ngày 26/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới.
Đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7A và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Công Đức |
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Công Đức |
Bản án số 171/2024/HN-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 171/2024/HN-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
