Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 171/2024/HSST

Ngày 12-06-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

———

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Thanh Hảo
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hải
  • Bà Ngô Thị Thúy Hảo

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thảo – Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Phùng Thị Kim T - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 06 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 86/2024/HSST ngày 01 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 207/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 05 năm 2024, đối với bị cáo:

Đỗ Minh H, sinh ngày 03-09-2000 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; giới tính: Nam; Nơi thường trú và nơi ở: Số B L, phường D, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Thợ làm tóc; trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Lê H1 và bà Phan Thị D; Tiền án-Tiền sự: không; Bị bắt ngày 15 tháng 12 năm 2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (bị cáo có mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị Thu Y, sinh năm 1957 – Địa chỉ: Số B L, phường D, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 16 giờ 30 phút, ngày 15-12-2023, tại trước địa chỉ E T, Phường E, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; cơ quan chức năng có thẩm quyền phát hiện, bắt quả tang Đỗ Minh H đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Thu giữ của H gồm: 01 gói nylon hàn kín bên trong có chứa chất kết tinh không màu trong suốt; 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh, số Imei 866787051265275; 01 xe máy Attila màu xanh, biển số 72G1 - 172.34; Số máy VMVUACD029295; Số khung RLGKA11CD-5029295.

Quá trình điều tra, Đỗ Minh H khai nhận: H sử dụng ma túy đá hình thức hút khoảng 02 năm nay. Vào khoảng 16 giờ ngày 15-12-2023, một người phụ nữ tên H2 (không xác định được nhân thân) liên hệ ngỏ ý muốn đưa ma túy đá cho H sử dụng để trừ nợ số tiền 200.000 đồng mà người phụ nữ này nợ H trước đó, đồng thời hẹn H đến trước địa chỉ số E T, Phường E, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để nhận ma túy và H đã đồng ý.

Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, H điều khiển xe biển số 72G1-17234 đến điểm hẹn như trên để lấy 01 gói ma túy đá. Sau khi lấy gói ma túy, H cất giấu vào túi quần đang mặc trên người. Một lát sau, khi H đang đứng trước địa chỉ số E T, Phường E, thành phố V thì bị Công an P, thành phố V phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng là gói ma túy.

Bản kết luận giám định số 11/KL-KTHS-MT ngày 19-12-2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Mẫu chất kết tinh không màu trong suốt chứa trong 01 gói nylon hàn kín, niêm phong trong phong bì màu trắng, gửi đến giám định có khối lượng 0,1342 gam, là ma túy loại Methamphetamine.

Đối tượng bán ma túy cho Đỗ Minh H, do chưa xác định được nhân thân nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh điều tra làm rõ, xử lý sau theo quy định pháp luật.

Bản cáo trạng số 87/CT-VKSTPVT ngày 28-03-2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố Đỗ Minh H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo mức án từ 12 đến 15 tháng tù giam; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh; bị cáo không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần mức án.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra thành phố V và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo xác định vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 15-12-2023, tại khu vực trước số nhà E T, Phường E, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; bị cáo đã bị bắt quả tang khi đang tàng trữ trái phép 0,1342 gam ma túy loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã được các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập trong hồ sơ vụ án và thẩm tra lại tại phiên tòa. Vì vậy, hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

[3]. Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội, là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tệ nạn xã hội và tội phạm khác; ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm theo quy định pháp luật, nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Xét bị cáo công việc không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[4]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5]. Về xử lý vật chứng:

  • 01 phong bì niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B (Mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định), không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy;
  • 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh, số Imei: 866787051265275 là tài sản hợp pháp của bị cáo, nhưng liên quan đến hành vi phạm tội, nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước;
  • 01 xe mô tô Attila màu xanh biển số 72G1-172.34; Số máy VMVUACD029295; Số khung: RLGKA11CD-5029295 là tài sản hợp pháp của bà Lê Thị Thu Y (bà nội của bị cáo), bà Y không biết bị cáo mượn xe sử dụng làm phương tiện phạm tội, tại phiên tòa bà Y chỉ yêu cầu được nhận lại xe, nếu có hư hỏng tự sửa chữa, không yêu cầu gì đối với bị cáo, nên trả lại chiếc xe trên cho bà Lê Thị Thu Y.

[6]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Minh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
  2. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, khoản 1 Điều 50 Bộ luật hình sự; Xử phạt Đỗ Minh H 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 15 tháng 12 năm 2023.
  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B.
    • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh, số Imei 866787051265275.
    • - Trả lại bà Lê Thị Thu Y 01 xe mô tô Attila màu xanh biển số 72G1-172.34; Số máy VMVUACD029295; Số khung: RLGKA11CD-502929.

    Vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng số 148/BB-CCTHADS ngày 29-03-2024.

  4. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - VKSND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ( PV06);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - VKSND TP. V;
  • - Công an TP. V;
  • - Thi hành án dân sự TP. V;
  • - Nhà tạm giữ Công an TP. V;
  • - Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Thị Thanh Hảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 171/2024/HSST ngày 12/06/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về hình sự: tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 171/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Minh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger