|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 171/2023/HS-ST Ngày: 11-8-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Anh Đạt.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Ông Nguyễn Văn Vân;
- 2/ Ông Thái Văn Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Quang Thị Thùy Ly – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Chung - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 8 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 164/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 166/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Thành L, sinh năm 1961 tại Thành phố Hồ Chí Minh;
Nơi thường trú: Ấp B, xã H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Như trên; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K, sinh năm: 1919 (chết) và bà Trần Thị B, không rõ năm sinh; anh, em ruột: 04 người kể cả bị cáo; có vợ Dương Thị E, sinh năm: 1960 (đã ly hôn) và 03 người con, lớn nhất sinh năm 1981 và nhỏ nhất sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Vào năm 1985, bị cưỡng bức lao động thời hạn 24 tháng về hành vi “Đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc” theo Quyết định số 06 ngày 30/12/1985 của Ủy ban nhân dân Thành phố H. Đã chấp hành xong.
Bị cáo bị bắt tạm giữ chuyển tạm giam từ ngày 03/3/2023 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
1/ Ông Nguyễn Quốc H, sinh năm: 1983; địa chỉ: Ấp B, xã H, hyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
2/ Ông Lê Thanh T, sinh năm: 1981; địa chỉ: Ấp C, xã H, hyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
3/ Ông Hồ Tuấn K1, sinh năm 1999; địa chỉ: Ấp E, xã H, hyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (văng mặt)
4/ Ông Trần Nguyễn Trung T1, sinh năm: 2003; địa chỉ: Ấp E, xã H, hyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đầu năm 2022, Nguyễn Thành L bắt đầu sử dụng trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine. Được bạn bè quen biết ngoài xã hội (không rõ lai lịch) cho số điện thoại 0566.467.xxx của người thanh niên (không rõ lai lịch) bán chất ma túy, L đã liên lạc mua chất ma túy được 03 lần, cụ thể:
Lần 01: Vào đầu tháng 01/2023, L mua ma túy đá với giá 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng). Sau đó, L mang chất ma túy về nhà sử dụng. Lúc này, Lê Thanh T và Nguyễn Quốc H đến chơi nên L cho T và H sử dụng chất ma túy cho đến hết và không lấy tiền.
Lần 02: Vào đầu tháng 02/2023, L mua ma túy đá với giá 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng). Sau đó L mang chất ma túy về nhà sử dụng và có rủ T, H cùng sử dụng.
Lần 03: Vào khoảng 15 giờ ngày 02/3/2023, L hỏi mua 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng) chất ma túy và hẹn gặp tại khu vực nghĩa địa thuộc Ấp C, xã H, huyện C để giao nhận tiền, chất ma túy. Sau khi mua được chất ma túy, L mang về nhà cất giấu. Đến 09 giờ 30 phút ngày 03/3/2023, T và H đến nhà L chơi, L lấy chất ma túy mua ngày 02/3/2023 cho vào bộ dụng cụ rồi rủ T và H cùng sử dụng.
Vào lúc 10 giờ 00 phút ngày 03/3/2023, nhận được tin báo của người dân tại căn nhà của ông Nguyễn Thành L thuộc Ấp B, xã H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh có các đối tượng tụ tập sử dụng trái phép chất ma túy. Công an xã H, huyện C tiến hành kiểm tra phát hiện trong nhà có Nguyễn Thành L cùng với Lê Thanh T và Nguyễn Quốc H đang sử dụng trái phép chất ma túy. Trên bàn ngay vị trí L, T và H đang ngồi có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, trong bộ dụng cụ có ống thủy tinh chứa tinh thể màu nâu. L khai nhận đây là ma túy đá do L mua về cho T và H sử dụng cùng. Công an xã H, huyện C lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với L và thu giữ: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy có ống thủy tinh chứa tinh thể màu nâu và 03 điện thoại di động.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của L tại Ấp B, xã H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh không thu giữ gì.
Kết quả xét nghiệm chất ma túy đối với L, T và H đều dương tính với ma túy tổng hợp.
* Vật chứng thu giữ: (bút lục: 90)
- 01 (một) ống thủy tinh chứa tinh thể màu nâu được niêm phong trong 01 gói mang số vụ 458/23 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và Giám định viên.
- 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy (không có ống thủy tinh).
- 01 (một) điện thoại di động N có số seri: 355816090654419 là tài sản của L dùng để liên lạc mua chất ma túy.
* Kết luận giám định số 2036 ngày 10/3/2023 của Phòng K2 Công an Thành phố H kết luận: Tinh thể màu nâu trong 01 ống thủy tinh được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Nguyễn Thành L và hình dấu Công an xã H là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0936g, loại Methamphetamine (bút lục 64).
Quá trình điều tra, Nguyễn Thành L thành khẩn khai báo, ăn năn hồi cải.
Tại phiên tòa hôm nay:
Bị cáo L thừa nhận toàn bộ hành vi của bị cáo và đồng ý với Kết luận giám định số: 2036/KLGĐ-H ngày 10/3/2023.
Bản cáo trạng số: 157/CT-VKS.CC ngày 21/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử bị cáo Nguyễn Thành L về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi thực hành quyền quyền công tố luận tội và tranh luận: Vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo như bản cáo trạng đã nêu. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L từ 08 (tám) năm đến 09 (chín) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) ống thủy tinh chứa tinh thể màu nâu được niêm phong trong 01 gói mang số vụ 458/23 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và Giám định viên.
- 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy (không có ống thủy tinh).
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động N có số seri: 355816090654419 là tài sản của bị cáo L dùng để liên lạc mua chất ma túy.
- Đối với Lê Thanh T và Nguyễn Quốc H là người sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C đã bàn giao đến Công an xã H, huyện C xử lý theo thẩm quyền là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với người thanh niên sử dụng số điện thoại 0566.467.xxx và người bán chất ma túy cho bị cáo L hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên chưa triệu tập lấy lời khai được. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau. Đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với hành vi tàng trữ trái phép 0,0936g ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine của bị cáo L nhằm mục đích sử dụng, khối lượng chất ma túy không đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự. Công an xã H, huyện C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo L về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Bị cáo L không tranh luận, không tự bào chữa.
Bị cáo L nói lời nói sau cùng: Bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi sai trái của bị cáo, kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa, bị cáo L đã khai nhận hành vi đúng như cáo trạng số 157/CT-VKS.CC ngày 21/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các chứng cứ có trong hồ sơ. Vào khoảng 10 giờ ngày 03/3/2023, Công an xã H, huyện C tiến hành kiểm tra hành chính căn nhà của Nguyễn Thành L tại Ấp B, xã H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi kiểm tra phát hiện bắt quả tang Nguyễn Thành L đang tàng trữ trái phép chất ma túy, có khối lượng 0,0936g là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng. Đồng thời, L có hành vi cung cấp chất ma túy, dụng cụ, địa điểm rủ Lê Thanh T, Nguyễn Quốc H sử dụng trái phép chất ma túy được 03 lần.
Tại Bản kết luận giám định số 2036 ngày 10/3/2023 của Phòng K2 Công an Thành phố H kết luận: Tinh thể màu nâu trong 01 ống thủy tinh được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Nguyễn Thành L và hình dấu Công an xã H là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0936g, loại Methamphetamine. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố bị cáo L là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Thành L đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; tội danh và hình phạt được quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Ma túy là chất gây nghiện, khi sử dụng vào cơ thể sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng của con người nên Nhà nước có chính sách quản lý độc quyền và nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, sử dụng, mua bán chất ma tuý và chế phẩm ma tuý. Bị cáo đã cung cấp chất ma túy, địa điểm thuộc quyền mình quản lý, phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy để cho Lê Thanh T và Nguyễn Thanh T2 03 (ba) lần sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm nhưng đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, bất chấp mọi hậu quả kể cả sự trừng trị của pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm chính sách quản lý độc quyền về ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự tại địa phương, là mầm móng phát sinh các tội phạm, tệ nạn xã hội khác và tạo ra dư luận xấu trong nhân dân.
Vì vậy, Hội đồng xét xử nghĩ cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định đủ để cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội; đồng thời răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy
nhiên cần xem xét tính chất và mức độ nguy hiểm trong hành vi và nhân thân của bị cáo để có mức hình phạt tương xứng.
[3] Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
[5] Về nhân thân: Vào năm 1985, bị cáo L bị cưỡng bức lao động thời hạn 24 tháng về hành vi “Đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc” theo Quyết định số 06 ngày 30/12/1985 của Ủy ban nhân dân Thành phố H. Bị cáo đã chấp hành xong.
[6] Về hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xét thấy bị cáo L là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng vụ án:
- Đối với 01 (một) ống thủy tinh chứa tinh thể màu nâu được niêm phong trong 01 gói mang số vụ 458/23 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và Giám định viên và 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy (không có ống thủy tinh); Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động N có số seri: 355816090654419 của bị cáo L sử dụng để liên lạc mua trái phép chất ma túy nên Hội đồng xét xử xét quyết định tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- Đối với đối tượng Lê Thanh T và Nguyễn Quốc H là người sử dụng trái phép chất ma túy với bị cáo L, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã bàn giao cho Công an xã H, huyện C xử lý theo thẩm quyền là phù hợp. Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xét.
- Đối với người thanh niên sử dụng số điện thoại 0566.467.xxx và người bán trái phép chất ma túy cho bị cáo L hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên chưa triệu tập lấy lời khai được. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau là phù hợp. Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xét.
- Đối với hành vi tàng trữ trái phép 0,0936g ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine của bị cáo L nhằm mục đích sử dụng, khối lượng chất ma túy không đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự. Công an xã H, huyện C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo L về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là phù hợp. Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xét.
[8] Về nghĩa vụ chịu án phí:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo L phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 255 và điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/3/2023.
- Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- + Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói mang số vụ 458/23 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và Giám định viên và 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy (Không có ống thủy tinh).
- + Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động N có số seri: 355816090654419.
Các vật chứng trên được liệt kê theo Phiếu nhập kho vật chứng số 119/PNK ngày 26/5/2023 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện C (bút lục 91).
- Căn cứ vào Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Buộc bị cáo Nguyễn Thành L phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Dương Anh Đạt |
Bản án số 171/2023/HS-ST ngày 11/08/2023 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 171/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: - Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 255 và điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/3/2023.
