|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 171/2024/HSST Ngày: 11-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Anh Thư.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Thu Vân
- Ông Nguyễn Đức Lợi
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Linh – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ công an thành phố D, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 147/2024/HSST ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 170/2024/QĐXXST- HS ngày 29/5/2023 đối với bị cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1996 tại tỉnh Phú Yên; nơi ĐKHKTT: Thôn Q, xã H, thành phố T, tỉnh Phú Yên; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Thợ sơn nước; trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc M, sinh năm 1978 và bà Phan Thị N, sinh năm 1980; vợ tên Trần Thị Thúy N1 sinh năm 1996; có 01 con sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 23/01/2024, có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- + Trần Thị Thúy N1, sinh năm: 1996; nơi ĐKHKTT: Thôn Q, xã H, thành phố T, tỉnh Phú Yên; trú tại: H, đường số C, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
- + Trương Công T1, sinh năm 1992; nơi ĐKHKTT: Thôn P, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; trú tại: B, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 23/01/2024, Nguyễn Ngọc T cùng vợ là Trần Thị Thúy N1, con Nguyễn Ngọc Nhã T2 và bạn làm chung nghề sơn nước là anh Trương Công T1 đi ăn uống tại quán nhậu vỉa hè không tên thuộc đường số E, khu phố B, phường A, tỉnh Bình Dương. Đến 20 giờ 15 phút cùng ngày thì ra về, T mượn xe mô tô biển số 78G1-533.68 của T1 để chở vợ con về phòng trọ tại địa chỉ số H, đường số C, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Sau đó T một mình điều khiển xe mô tô đi đến khu vực hẻm D, đường số A, phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh để gặp một thanh niên tên N2 không rõ nhân thân, lai lịch hỏi mua 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) ma túy thì được N2 đưa cho T một túi nylon miệng kéo dính bên trong chứa tinh thể màu trắng. T cất gói ma túy bên trong mũ kết vải màu đen đội lên đầu rồi điều khiển xe đi trả cho anh T1 và tìm địa điểm để sử dụng ma tuý. Khi T đi đến trước số nhà D, đường N, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương thì bị lực lượng Công an phường A yêu cầu dừng xe kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, Công an phát hiện và thu giữ trong mũ vải màu đen của T có 01 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng, T khai nhận là ma túy đá. Công an phường A, thành phố D đã lập biên bản phạm tội quả tang đối với T thu giữ tang vật, phương tiện và niêm phong gói ma túy và lập hồ sơ vụ việc chuyển cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D xử lý theo quy định.
Vật chứng thu giữ : 01 túi nylon miệng kéo dính, 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, màu đen biển số 78G1-533.68 và 01 mũ kết vải màu đen.
Tại bản Kết luận giám định số 677/KL-KTHS (MT) ngày 31 tháng 01 năm 2024 của Phòng K, Công an tỉnh B kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng: 0,2169 gam.
Đối với người đàn ông tên N2 bán ma túy cho T chưa rõ nhân thân, lai lịch nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đang tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau.
01 túi nylon miệng kéo dính chứa 0,1751 gam ma tuý còn lại sau giám định loại Methamphetamine thu giữ của Nguyễn Ngọc T đề nghị tịch thu tiêu huỷ.
01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, màu đen biển số 78G1-533.68, số khung: RLCUE3720LY035387, số máy: E32VE177941 chủ sở hữu là ông Trương Công T1, sinh năm: 1992, HKTT: ấp P, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. T sử dụng xe trên để mua ma túy về sử dụng ông T1 không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, Bình Dương đã ra Quyết định trả lại chiếc xe trên cho ông T1.
Theo bản Cáo trạng số 165/CT-VKS ngày 24/4/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Đ c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Trong phần tranh luận Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật như nội dung Cáo trạng, đánh giá về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T mức hình phạt từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 04 tháng. Về xử lý vật chứng: 01 túi nylon miệng kéo dính chứa 0,1751 gam ma tuý còn lại sau giám định loại Methamphetamine thu giữ của Nguyễn Ngọc T đề nghị tịch thu tiêu huỷ.
Tại phiên tòa bị cáo không tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát và trong phần nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm trở về làm người lương thiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Trong giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, cơ quan điều tra Công an thành phố D, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, điều tra viên, cán bộ điều tra, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về nội dung:
Bị cáo Nguyễn Ngọc T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 23/01/2024, tại trước số nhà D, đường N, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương, Công an phường A kiểm tra hành chính phát hiện Nguyễn Ngọc T có hành vi cất giấu gói ma túy khối lượng 0,2169 gram, loại Methaphetamine trong mũ vải màu đen đội trên đầu.
Hành vi cất giấu ma túy trong mũ của Nguyễn Ngọc T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:
Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an
tại địa phương. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện và xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo để quyết định mức hình phạt cho phù hợp đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[6] Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Mức hình phạt Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là phù hợp.
[7] Về xử lý vật chứng:
[7.1] 01 mũ vải màu đen và 01 bì thư niêm phong có ghi ký hiệu 677/PC09, bên trong có 01 túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng là ma túy có khối lượng còn lại sau giám định là 0,1751 gam cần tuyên tịch thu tiêu huỷ.
[7.2] 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, màu đen biển số 78G1-53368, số khung: RLCUE3720LY035387, số máy: E32VE177941 ông Trương Công T1, sinh năm: 1992, HKTT: ấp P, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên đứng tên sở hữu. T mượn xe của T1 để chở vợ con về phòng trọ, việc T sử dụng xe trên để đi mua ma túy ông T1 không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, Bình Dương đã trả lại chiếc xe trên cho ông T1 vào ngày 06/3/2024 là phù hợp quy định của pháp luật.
[8] Đối với người đàn ông tên N2 bán ma túy cho T chưa rõ nhân thân, lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương đang tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau.
[9] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ :
- - Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- - Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 23/01/2024.
2. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu huỷ 01 mũ vải màu đen và 01 bì thư niêm phong có ghi ký hiệu 677/PC09, bên trong có 01 túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng là ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 0,1751 gam.
(theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/4/2024 giữa công an và cơ quan thi hành án).
3. Về án phí:
Bị cáo Nguyễn Ngọc T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Thị Anh Thư |
Bản án số 171/2024/HSST ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 171/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoản 1
