Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THUỶ NGUYÊN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 171/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 09 - 9 - 2024

V/v ly hôn, nuôi con chung

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Huân .

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Bùi Thúy Mở.

Bà Nguyễn Thị Lương.

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Bích Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên tham gia phiên toà: Ông Bùi Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 151/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2024 về ly hôn và nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 171/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 127/2024/QÐST-HNGĐ ngày 27 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Chị Bùi Thị D; nơi cư trú: Thôn I, xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Chu Văn H; nơi cư trú: Thôn I, xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Chị Bùi Thị D là nguyên đơn, khởi kiện với nội dung chị và anh Chu Văn Hòa kết h trên cơ sở được tìm hiểu tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục và có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng vào ngày 21 tháng 6 năm 2006. Sau lễ cưới, chị D về chung sống cùng anh H ở thôn I, xã C, huyện T, Hải Phòng. Cuộc sống chung vợ chồng hòa thuận và có 03 con chung, đến năm 2018 thì anh H đi lao động ở Đài Loan, đến đầu năm 2024 anh H hết hạn hợp đồng về nước, vợ chồng đoàn tụ và vẫn chung sống cùng nhau. Đến tháng 3 năm 2024 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và nhanh chóng trở nên trầm trọng. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hòa hợp, bất đồng trong sinh hoạt, vợ chồng xa nhau quá lâu dẫn đến sự ghen tuông và nghi ngờ lòng chung thủy của nhau. Giữa chị D và anh H xảy ra cãi mắng xúc phạm nhau nặng nề. Chị D đã về nhà bố mẹ đẻ ở, vợ chồng sống ly thân nhau từ tháng 3 năm 2024 cho đến nay. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ nên chị D giữ nguyên đề nghị được ly hôn anh Chu Văn H. Chị và anh H có ba con chung tên Chu Mỹ H1, sinh ngày 18 tháng 3 năm 2007, Chu Mỹ H2, sinh ngày 26 tháng 9 năm 2008 và Chu Gia H3, sinh ngày 14 tháng 8 năm 2017. Khi ly hôn, chị D đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Chu Mỹ H1 và Chu Mỹ H2; để anh H được trực tiếp nuôi con chung tên Chu Gia H3. Cấp dưỡng nuôi con do chị và anh H tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, chị và anh H tự thỏa thuận nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Chu Văn H trình bày thống nhất với lời khai của chị Bùi Thị D về thời gian kết hôn, điều kiện kết hôn và thời điểm phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo anh H là do chị D không chung thủy trong quan hệ hôn nhân, vợ chồng xảy ra cãi mắng xúc phạm lẫn nhau. Chị D về nhà bố mẹ đẻ ở. Nay, chị D có đơn xin ly hôn, quan điểm của anh H là đồng ý ly hôn. Khi ly hôn, anh H đề nghị được trực tiếp nuôi cả ba con chung và không đề nghị chị D cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, anh Chu Văn H đề nghị anh và chị D tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng như sau: Về thẩm quyền giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên đã tuân theo đúng quy định của pháp luật quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục do pháp luật quy định. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71 và Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 và Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Bùi Thị D được ly hôn với anh Chu Văn H. Giao con chung tên Chu Gia H3 cho anh Chu Văn H trực tiếp nuôi dưỡng; giao các con chung tên Chu Mỹ H1 và Chu Mỹ H2 cho chị Bùi Thị D trực tiếp nuôi dưỡng. Nguyên đơn nộp án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết

Chị Bùi Thị D có đơn xin ly hôn với anh Chu Văn H. Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Chu Văn H hiện đang cư trú tại thôn I, xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng. Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

[2] Về sự vắng mặt của bị đơn

Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa và có đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[3] Về yêu cầu của chị Bùi Thị D ly hôn với anh Chu Văn H

Chị Bùi Thị D và anh Chu Văn Hòa kết h trên cơ sở tự nguyện, đủ điều kiện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Do đó, việc kết hôn giữa chị D và anh H là hợp pháp. Qua lời khai của đương sự và tài liệu xác minh tại địa phương thống nhất thể hiện, đời sống chung của chị D và anh H đã phát sinh mâu thuẫn và dẫn đến việc vợ chồng sống ly thân nhau từ tháng 3 năm 2024 cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hòa hợp và bất đồng trong sinh hoạt, vợ chồng không tin tưởng nhau về mặt tình cảm dẫn đến vợ chồng xảy ra cãi mắng xúc phạm nhau. Gia đình đã động viên nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không được cải thiện. Do mâu thuẫn, nên chị D và anh H đã sống ly thân nhau từ tháng 3 năm 2024 cho đến nay. Chị D có đơn đề nghị được ly hôn với anh H, anh H có lời khai đồng ý ly hôn với chị D. Từ đây xác định mâu thuẫn hôn nhân giữa chị D và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị D đề nghị được ly hôn với anh H.

[4] Về người trực tiếp nuôi con khi ly hôn và nghĩa vụ cấp dưỡng cho con

Chị Bùi Thị D và anh Chu Văn H có 03 con chung là Chu Mỹ H1, Chu Mỹ H2 và Chu Gia H3. Khi ly hôn, chị D đề nghị được trực tiếp nuôi các con chung tên Chu Mỹ H1, Chu Mỹ H2 và để anh H trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Chu Gia H3. Hội đồng xét xử xét: Tài liệu xác minh tại địa phương và lời khai của đương sự thống nhất thể hiện, con chung tên Chu Mỹ H1 và Chu Mỹ H2 hiện đang là học sinh trường THPT T, con chung tên Chu Gia H3 vẫn học tập ổn định tại trường tiểu học C. Xét về điều kiện nuôi con của các đương sự thể hiện, anh H hiện là lao động tự do tại địa phương, có nhà ở ổn định tại thôn I, xã C, huyện T. Chị D hiện là công nhân ở Công ty A, có thu nhập ổn định và đang ở nhà của mẹ đẻ tại thôn B, xã H, huyện T. Bị đơn anh Chu Văn H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cả ba con chung, tuy nhiên anh H là lao động tự do, việc nuôi cả ba con chung sẽ gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, để ổn định đời sống của các con chung và để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con cái, căn cứ Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử giao cho anh Chu Văn H trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Chu Gia H3; giao cho chị Bùi Thị D trực tiếp nuôi dưỡng các con chung tên Chu Mỹ H1 và Chu Mỹ H2 là phù hợp với các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[5] Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con:

Cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con. Chị Bùi Thị D đề nghị tự thỏa thuận với anh Chu Văn H về cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh Chu Văn H không đề nghị chị Bùi Thị D cấp dưỡng nuôi con chung. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con trong vụ án này.

[6] Về tài sản chung, chị Bùi Thị D và anh Chu Văn H thống nhất không đề nghị Tòa án giải quyết về tài sản chung, do đó Hội đồng xét xử không xem xét về tài sản chung trong vụ án này.

[7] Về án phí, chị Bùi Thị D phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35, Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị D:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Bùi Thị D được ly hôn với anh Chu Văn H.
  2. Về con chung:

    Giao cho chị Bùi Thị D trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Chu Mỹ H1, sinh ngày 18 tháng 3 năm 2007 và Chu Mỹ H2, sinh ngày 26 tháng 9 năm 2008; giao cho anh Chu Văn H trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Chu Gia H3, sinh ngày 14 tháng 8 năm 2017 đến khi các con chung thành niên và có khả năng lao động, trừ trường hợp có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

  3. Về cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  4. Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  5. Về án phí: Chị Bùi Thị D phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Đối trừ với số tiền tạm ứng án phí đã nộp (ghi tại biên lai thu số 0009916 ngày 15/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên), chị Bùi Thị D đã nộp đủ án phí.
  6. Về quyền kháng cáo:

    Chị Bùi Thị D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

    Anh Chu Văn H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hải Phòng;
  • - VKSND TP. Hải Phòng;
  • - VKSND H.Thủy Nguyên;
  • - Chi cục THADS H. Thủy Nguyên;
  • - UBND xã Chính Mỹ, H.Thủy Nguyên; (Giấy đăng ký kết hôn ngày 21/6/2006)
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Huân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 171/2024/HNGĐ-ST ngày 09/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 171/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Bùi T D ly hôn anh Chu Văn H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger