|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 171/2023/HNGĐ-ST
Ngày 05-12-2023
V/v “Tranh chấp về ly hôn giữa bà Thêu với ông Hồng”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Thi.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đặng Hữu Tấn.
- Bà Đặng Thị Mỹ Hường.
Thư ký phiên tòa: Bà Khưu Huỳnh Mỹ Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Nhựt – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 575/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2023, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 527/2023/QĐXXST–HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị T, sinh năm 1974 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Số D, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang.
- Bị đơn: Ông Lê Quang H, sinh năm 1969 (vắng mặt).
Địa chỉ: Khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang.
NHẬN THẤY:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình hòa giải nguyên đơn bà Trần Thị T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Lê Quang H tự nguyện quen biết tìm hiểu sau đó tiến đến hôn nhân năm 1993. Có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B số 164 ngày 25/10/2016 sau khi kết hôn ông bà sống hạnh phúc được 31 năm thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng không hạnh phúc, giữa hai bên có nhiều mâu thuẫn trầm trọng, nhiều lần hàn gắn nhưng không thành, ông H đã có người phụ nữ khác bên ngoài, thường xuyên đi P làm ăn, rồi ăn chơi với người phụ nữ khác, khi về nhà né tránh bỏ bê bà, không ngủ chung với bà. Nay nhận thấy tình cảm không còn nên bà yêu cầu ly hôn với ông Lê Quang H.
- Về con chung: Ông bà có 02 con chung tên Lê Quang C, sinh ngày 19/5/1993 và Lê Thị Thanh H1, sinh ngày 31/10/1995. Hai con chung đã có gia đình, có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về quan hệ tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Lê Quang H vắng mặt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, không gửi văn bản trình bày ý kiến.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Đối với bị đơn Tòa án đã triệu tập hợp lệ, tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và các văn bản tố tụng khác nhưng vẫn vắng mặt không lý do là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án:
Đề nghị áp dụng các Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về con chung: Bà T, ông H có 02 con chung tên Lê Quang C, sinh ngày 19/5/1993 và Lê Thị Thanh H1, sinh ngày 31/10/1995, đã thành niên và có khả năng lao động không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên đề nghị không xem xét.
- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét.
Tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án: Bản sao Giấy chứng nhận kết hôn; Bản sao Giấy khai sinh của C, H1; Biên bản xác minh...
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Tranh chấp của các đương sự là về ly hôn, bị đơn có địa chỉ thường trú tại địa bàn thành phố L, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; đối với bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt không lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp quy định pháp luật tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà T, ông H chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, phù hợp quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, là hôn nhân hợp pháp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng trong thời kỳ hôn nhân. Bà T khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông H do vợ chồng chung sống không hạnh phúc, vợ chồng ly thân đã lâu.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án mở các phiên hòa giải để hòa giải, động viên đoàn tụ nhưng ông H vắng mặt không lý do, không gửi văn bản trình bày ý kiến, bỏ mặc cho bà T tự giải quyết, không quan tâm đến việc hàn gắn quan hệ vợ chồng. Xét, mối quan hệ vợ chồng là mối quan hệ gắn bó lâu dài và bền vững, vợ chồng phải thương yêu chăm sóc lẫn nhau, cùng nhau xây dựng cuộc sống gia đình hạnh phúc. Vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, sống chung với nhau, nhưng ông bà ly thân đã lâu, ông bà đã vi phạm quyền và nghĩa vụ của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà T yêu cầu ly hôn là có cơ sở. Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T.
[2.2] Về con chung: Ông bà có 02 con chung tên Lê Quang C, sinh ngày 19/5/1993 và Lê Thị Thanh H1, sinh ngày 31/10/1995. Hai con chung đã có gia đình, có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân, không yêu cầu Toà án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Bà Trần Thị T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0002395 ngày 06 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị T. Bà Trần Thị T được ly hôn ông Lê Quang H.
- Về con chung: Bà Trần Thị T và ông Lê Quang H có 02 con chung tên Lê Quang C, sinh ngày 19/5/1993 và Lê Thị Thanh H1, sinh ngày 31/10/1995. Hai con chung đã có gia đình, có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân, không yêu cầu Toà án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Bà Trần Thị T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0002395 ngày 06 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hồng Thi |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Đặng Hữu Tấn Đặng Thị Mỹ Hường |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hồng Thi |
Bản án số 171/2023/HNGĐ-ST ngày 05/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 171/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà T được ly hôn ông H
