| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 171/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 03/6/2024
“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.
Các hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Nguyên
Bà Dương Thị Kim Hồng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Ông Nguyễn Văn Tưởng - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 03 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 139/2024/HNGĐ-TLST ngày 25/3/2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 156/20243/QĐXXST-HNGĐ ngày 02/5/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 129/2024/QĐ-ST ngày 17 tháng 5 năm 2024, giữa:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị L, sinh ngày 20/7/1994.
HKTT: Thôn K, xã L, huyện T, tỉnh Hải Dương.
Hiện ở : Khu B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương. - Bị đơn: Anh Đặng Văn N, sinh ngày 22/01/1989.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn Kim Trang Đông, xã Lam Sơn, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.
Hiện ở: Đài Loan. - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Đặng Văn T, sinh năm 1967 và bà Phạm Thị N1.
Địa chỉ: Thôn K, xã L, huyện T, tỉnh Hải Dương.
( Chị L, anh N, ông T, bà N1 đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai - Nguyên đơn chị Trần Thị L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh N tự do tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh Hải Dương ngày 20/11/2013. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc được 5 năm. Cuối năm 2016 anh N sang Đài Loan lao động, đến tháng 5/2017 chị cũng sang Đài Loan lao động, thời gian đầu vợ chồng sống cùng nhau. Sau đó anh N không tu chí làm ăn, chơi bời dẫn đến vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Cuối năm 2019 chị ra ngoài ở riêng, vợ chồng không quan tâm đến nhau. Đến tháng 02/2024 chị đã về Việt Nam. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh N.
Về quan hệ con chung: Chị và anh N có 2 con chung là Đặng Trần Thảo V, sinh ngày 12/9/2014 và Đặng Thu N2, sinh ngày 05/12/2015. Trong thời gian chị và anh N ở nước ngoài các con được ông bà nội chăm sóc, nuôi dưỡng. Nay để ổn định cuộc sống cho các con, chị đồng ý để anh N chăm sóc, nuôi dưỡng hai con. Hàng tháng chị sẽ có trách nhiệm cấp dưỡng tiền nuôi con cùng anh N là 3.000.000 đồng/tháng/2 con cho đến khi các con tròn 18 tuổi. Trong thời gian anh N không ở Việt Nam chị đồng ý để ông bà nội là ông Đặng Văn T và bà Phạm Thị N1 chăm sóc, nuôi dưỡng hai con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị và anh N không có, ly hôn chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Anh Đặng Văn N hiện nay đang lao động tại Đài Loan, do chị L không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh N, nên Tòa án đã xác minh địa chỉ của anh N qua gia đình. Ông Đặng Văn T và bà Phạm Thị N1 là bố mẹ đẻ anh N xác định, anh N đi Đài Loan lao động từ năm 2017, từ khi đi anh N chưa về Việt Nam lần nào. Địa chỉ của anh N ở nước ngoài ông bà không biết, nhưng anh N vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình. Ông T, bà N1 đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và có trách nhiệm thông báo cho anh N biết. Thông qua gia đình cũng như tại buổi làm việc với Tòa án, anh N đã trực tiếp gọi điện thoại về và thể hiện quan điểm: Vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, hai bên không còn tình cảm với nhau, nay chị L có đơn ly hôn anh đồng ý. Về con chung anh xác định vợ chồng có hai con chung là Đặng Trần Thảo V, sinh ngày 12/9/2014 và Đặng Thu N2, sinh ngày 05/12/2015. Ly hôn anh đồng ý nuôi cả 2 con và đồng ý với mức cấp dưỡng mà chị L đưa ra là 3.000.000đồng/tháng/2 con. Về tài sản chung, nợ chung anh và chị L không có. Do điều kiện anh chưa về được Việt Nam, nên anh đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Anh ủy quyền cho bố mẹ đẻ là ông Đặng Văn T và bà Phạm Thị N1 thay anh chăm sóc, nuôi dưỡng cháu V, cháu N2 đồng thời ủy quyền thay anh nhận các văn bản tố tụng của Tòa án.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đặng Văn T và bà Phạm Thị N1 trình bày: Ông bà là bố mẹ đẻ của anh N, mâu thuẫn giữa anh N, chị L xảy ra từ lâu, mặc dù cùng lao động ở Đài Loan nhưng mỗi người sống một nơi. Trong thời gian anh N, chị L ở nước ngoài, ông bà là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu V và cháu N2. Ông bà đồng ý nhận ủy quyền của anh N chăm sóc cháu V và cháu N2 trong thời gian anh N không có mặt ở Việt Nam.
- Cháu Đặng Trần Thảo V và Đặng Thu N2 đều có quan điểm được ở với bố và ông bà nội khi bố mẹ ly hôn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy mâu thuẫn giữa chị L và anh N đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho chị L được ly hôn anh N. Về con chung: Giao con chung Đặng Trần Thảo V, sinh ngày 12/9/2014 và Đặng Thu N2, sinh ngày 05/12/2015 cho anh Đặng Văn N chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong thời gian anh N không ở Việt Nam, tạm giao cháu V, cháu N2 cho ông Đặng Văn T và bà Phạm Thị N1 chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng tiền nuôi con: Chấp nhận sự tự nguyện của chị L cấp dưỡng tiền nuôi con hàng tháng là 3.000.000đồng/tháng/2 con. Về án phí: Chị L phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng tiền nuôi con theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Chị Trần Thị L và anh Đặng Văn N đều có hộ khẩu thường trú tại Thôn K, xã L, huyện T, tỉnh Hải Dương. Hiện nay anh N đang lao động tại Đài Loan. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Quá trình giải quyết vụ án, chị L không cung cấp được địa chỉ của anh N tại Đài Loan. Theo hướng dẫn tại công văn số 253/TANDTC – PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân tối cao, Tòa án đã nhiều lần yêu cầu gia đình anh N cung cấp địa chỉ, nhưng gia đình không cung cấp được. Qua xác minh tại gia đình anh N được biết, anh N thường xuyên liên lạc với bố mẹ đẻ là ông Đặng Văn T và bà Phạm Thị N1. Ông T, bà N1 đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và đã thông báo cho anh N biết. Thông qua gia đình anh N cũng đã trực tiếp gọi điện về trình bày quan điểm của mình về việc ly hôn và nuôi con, đồng thời ủy quyền cho ông Đặng Văn T và bà Phạm Thị N1 chăm sóc nuôi dưỡng cháu V, cháu N2 trong thời gian anh không ở Việt Nam. Do vậy Tòa án xác định ông T, bà N1 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Chị L, anh N, ông T, bà N1 đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2]. Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị L và anh Đặng Văn N kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh Hải Dương ngày 20/11/2013, do vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc được 5 năm. Chị L và anh N đều có thời gian sang Đài Loan lao động và chung sống cùng nhau, tuy nhiên do bất đồng quan điểm, hai bên không tìm được tiếng nói chung. Cuối năm 2019 chị L ra ngoài ở riêng, vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn và có đơn xin ly hôn anh N. Quá trình giải quyết vụ án, anh N cũng có quan điểm xác định không còn tình cảm với chị L, nay chị L có đơn ly hôn anh đồng ý. Do vậy có cơ sở xác định mâu thuẫn giữa chị L và anh N đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L.
- Về quan hệ con chung: Chị Trần Thị L và anh Đặng Văn N có hai con chung là Đặng Trần Thảo V, sinh ngày 12/9/2014 và Đặng Thu N2, sinh ngày 05/12/2015. Ly hôn chị L, anh N thỏa thuận anh N sẽ nuôi cả hai con. Xét thấy, thực tế trong thời gian chị L, anh N ở nước ngoài cháu V và cháu N2 đều sống cùng với ông bà nội, được ông bà chăm sóc, các cháu phát triển tốt. Do đó để ổn định cuộc sống của cháu N2, cháu V cần chấp nhận sự thỏa thuận của các đương sự, giao cháu V, cháu N2 cho anh N nuôi dưỡng là phù hợp. Trong thời gian anh N không ở Việt Nam, tạm giao cháu V, cháu N2 cho ông T, bà N1 chăm sóc nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng tiền nuôi con, chấp nhận sự tự nguyện của chị L cấp dưỡng tiền nuôi hai con cùng anh N là 3.000.000đồng/1 tháng/2con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Trần Thị L và anh Đặng Văn N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3]. Về án phí: Chị Trần Thị L phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng tiền nuôi con theo quy định của pháp luật.
Vì những lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị L được ly hôn anh Đặng Văn N.
- Về quan hệ con chung: Giao con chung Đặng Trần Thảo V, sinh ngày 12/9/2014 và Đặng Thu N2, sinh ngày 05/12/2015 cho anh Đặng Văn N chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con tròn 18 tuổi. Trong thời gian anh N không ở Việt Nam, tạm giao cháu V, cháu N2 cho ông Đặng Văn T và bà Phạm Thị N1 chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng tiền nuôi con: Chấp nhận sự tự nguyện của chị L cấp dưỡng tiền nuôi hai con cùng anh N mỗi tháng 3.000.000đồng, thời điểm thực hiện việc cấp dưỡng kể từ tháng 6/2024 cho đến khi các con tròn 18 tuổi.
Chị Trần Thị L được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
Kể từ khi anh N có đơn yêu cầu thi hành án về khoản tiền cấp dưỡng nuôi con mà chị L không thi hành khoản tiền trên, thì phải chịu lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất chậm trả do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự. Nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của bộ luật dân sự.
- Về án phí: Chị Trần Thị L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000540 ngày 25 tháng 3 năm 2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị L đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chị L còn phải nộp 300.000đồng án phí cấp dưỡng tiền nuôi con.
- Về quyền kháng cáo: Anh Đặng Văn N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Chị Trần Thị L, ông Đặng Văn T và bà Phạm Thị N1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hiền |
Bản án số 171/2024/HNGĐ-ST ngày 03/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 171/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
