Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 171/2025/HS-ST

Ngày: 27/3/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Bảy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông: Trần Văn Chánh

Bà: Nguyễn Thị Kim Chi

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung- Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Mỹ Linh- Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 46/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2025; Thông báo số 216/TB-TA ngày 12/3/2025 Về việc dời thời gian mở phiên tòa xét xử vụ án đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Ngô Bá Công H; Giới tính: Nam;

Tên gọi khác: Không

Sinh ngày 21 tháng 7 năm 1994 tại Đ;

Quốc tịch: Việt Nam; - Dân tộc: Kinh; - Tôn giáo: Không

Nơi thường trú: 138/3, khu phố T, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai;

Nơi ở hiện tại: Sống lang thang, không có nơi ở nhất định;

Trình độ học vấn: 11/12; - Nghề nghiệp: Không

Họ và tên cha: Ngô Bá Công H1, sinh năm 1968 (còn sống);

Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1972 (còn sống);

Gia đình có 02 anh em. Bị cáo là con lớn trong gia đình;

Vợ, con: Chưa;

Tiền án, tiền sự: Không

Hiện đang bị Tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố B. (Bị cáo có mặt tại phiên Tòa).

2. Họ và tên: Đỗ Thị Kim N; Giới tính: Nữ

Tên gọi khác: Không

Sinh ngày 25 tháng 11 năm 1987 tại Bến Tre;

Quốc tịch: Việt Nam; - Dân tộc: Kinh; - Tôn giáo: Không

Nơi thường trú: Ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Bến Tre,

Nơi ở hiện tại: Sống lang thang, không có nơi ở nhất định;

Trình độ học vấn: 12/12; - Nghề nghiệp: Không;

Họ và tên cha: Đỗ Văn L1 (đã chết);

Họ và tên mẹ: Phùng Thị N1, sinh năm 1956 (còn sống);

Gia đình có 03 anh em. Bị cáo là con út trong gia đình;

Chồng: Nguyễn Công K (không đăng ký kết hôn);

Con: Nguyễn Đỗ Ngọc H3, sinh năm 2017;

Bị cáo có nhân thân xấu

Tiền án: Có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản, Bản án số 507/2022/HS-ST ngày 17/11/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà xử phạt 10 tháng tù giam. Chấp hành xong ngày 27/03/2023. (chưa xóa án tích);

Tiền sự: Ngày 26/12/2023 bị Ủy ban nhân dân phường H, thành phố B ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi “sử dụng trái phép chất ma tuý”;

Hiện đang bị Tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố B. (Bị cáo có mặt tại phiên Tòa)

Bị hại: Anh Nguyễn Duy T, sinh năm 2001. Địa chỉ: H khu phố N, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đỗ Thị Kim N và Ngô Bá Công H không có nghề nghiệp và nơi ở nhất định, sống chung với nhau như vợ chồng (không có đăng ký kết hôn). Khoảng 14h00 ngày 07/11/2024, H điều điều khiển xe môtô nhãn hiệu SYM Attila, màu xanh, biển số 60B8-931.62 chở N đi đến khu bãi khai thác đá của Công ty TNHH T1 thuộc tổ I, khu phố E, phường B, thành phố B thì phát hiện xe môtô Dream biển số 60F4-279.45 của anh Nguyễn Duy T, sinh năm 2001, HKTT tại H, khu phố N, phường H, thành phố B dựng tại nhà tiền chế của Công ty. Quan sát không có người trông coi, nên H đi lại dùng chìa khóa xe môtô Attila biển số 60B8-931.62 để mở khóa xe Dream biển số 60F4-279.45 nhưng không nổ máy nên N ngồi trên xe Dream biển số 60F4-279.45 rồi H điều khiển xe môtô Attila biển số 60B8- 931.62 dùng chân đẩy đi đến khách sạn “Khánh Giàu” thuộc phường H để N vào phòng khách sạn nghỉ và gửi xe môtô Attila biển số 60B8-931.62 tại khách sạn. H tiếp tục dắt xe Dream biển số 60F4-279.45 đến nhà bạn là Mai Hoàng Nhụt A, sinh năm 1987 tại địa chỉ KP T, phường H và nói với A là xe của Hậu bị hư. H hỏi mượn đồ nghề sửa xe và diện thoại di động của Anh để liên lạc thì A đồng ý đưa đồ nghề sửa xe và điện thoại di động cho H rồi đi vào trong nhà. H dùng điện thoại di động của Anh để truy cập mạng Facebook đăng bán xe Dream biển số 60F4-279.45 thì có người chưa rõ lai lịch với tên tài khoản “Thong Bom" nhắn tin thoả thuận mua xe môtô Dream biển số 60F4 - 279.45 với số tiền 1.700.000 đồng (một triệu bảy trăm ngàn đồng) và Hậu cung C địa chỉ nhà A để người mua xe đến lấy. Sau khi thỏa thuận bán xe xong thì H tháo biển số xe môtô Dream 60F4 - 279.45 và để trên yên xe. Lúc này H nói với A đã bán xe cho người khác qua mạng với giá 1.700.000 đồng (một triệu bảy trăm ngàn đồng) và hẹn đến nhà A để Vấy xe, nhờ Anh giao xe và nhận tiền. H mượn Anh số tiền 700.000 đồng (bảy trăm ngàn đồng) và thỏa thuận khi nhận tiền bán xe thì A sẽ trừ lại số tiền H mượn, số tiền còn lại nhờ Anh chuyển khoản qua số tài khoản của Ngân A1 đồng ý và đưa H 700.000 đồng (bảy trăm ngàn đồng). H di về khách sạn với N và dưa cho N 700.000 đồng (bảy trăm ngàn đồng). Sau đó người mua xe đến nhận xe môtô và đưa cho Anh số tiền 1.700.000 đồng, Anh đã chuyển khoản 1.000.000 đồng (một triệu đồng) vào tài khoản ví Momo số “0345514625" của N.

Anh Nguyễn Duy T phát hiện mất xe, nên đã trình báo Công an phường B lập hồ sơ, xác minh, phối hợp Công an phường H kiểm tra đưa N, H về làm việc. Tạm giữ xe môtô nhãn hiệu SYM Attila, màu xanh, biển số 60B8-931.62; biển số xe môtô 60F4 279.45 và số tiền bán xe còn lại là 1.600.000 đồng (một triệu sáu trăm ngàn đồng). Công an phường B chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cơ quan điều tra Công an thành phố B thụ lý theo thẩm quyền. Tại Cơ quan điều tra N, H đã khi nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

*Vật chứng của vụ án: 01 biển số xe 60F4-279.45 là biển số xe mô tô mà anh Nguyễn Duy T bị chiếm đoạt chưa thu hồi được xe mô tô. Cơ quan điều tra đã giao trả biển số xe cho anh T quản lý.

  • - Số tiền 1.600.000đồng (một triệu sáu trăm ngàn đồng) là số tiền bán xe còn lại.
  • - 01 Điện thoại di động Samsung Galaxy S7 edge màu vàng good, số kiểu máy: SM-G935FD, số sêri R58H41G7CFT, IMEI (khe 1) 357224070329821 của Đỗ Thị Kim N dùng để nhận 1.000.000 đồng (một triệu đồng) tiền bán xe qua tài khoản Momo.
  • - Xe mô tô nhãn hiệu SYM Attila, màu xanh có số máy VMVF3A- D021792SM, số khung RLGKA12CD9D021792 gắn biển số 60B8-931.62.
  • - 01 Điện thoại di động Samsing J4 màu đen, sim số 0528116771, số I 35159010154003 là điện thoại của Mai Hoàng Nhựt A2 sử dụng để chuyển 1.000.000 đồng (một triệu đồng) cho Đỗ Thị Kim N qua tài khoản Momo
  • - 01 USB kim loại màu trắng, nhãn hiệu Kingston, dung lượng 4Gb, số Seri 05609-302 AOOLF, chứa dữ liệu ghi nhận diễn biến vụ trộm cắp ngày 07/11/2024.

* Kết luận định giá tài sản số 377/KL-HĐĐGTS ngày 11 tháng 11 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 01 xe mô tô, gắm máy biển số 60F4-279.45, nhãn hiện H4 đã qua sử dụng giá trị 19.600.000 đồng (mười chín triệu sáu trăm ngàn đồng).

Về dân sự: Ông Ngô Bá Công H1, bố ruột của bị cáo H đã bồi thường số tiền 19.600.000 đồng (mười chín triệu sáu trăm ngàn đồng) cho anh Nguyễn Duy T, anh T không yêu cầu bồi thường gì khác.

Cáo trạng số 79/CT-VKSBH ngày 15/01/2025 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố các bị cáo Ngô Bá Công H và Đỗ Thị Kim N về tội “Trộm cắp trài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Đối với Mai Hoàng Nhựt A2 có hành vi giao xe và nhận tiền bán xe mô tô cho người mua. Khi thực hiện hành vi Anh không biết đây là tài sản do bị can H trộm cắp mà có nên không có căn cứ xử lý hình sự đối với A2 về hành vi này.

Đối với Xe mô tô nhãn hiệu SYM Attila, màu xanh có số máy VMVF3A-D021792SM, số khung RLGKA12CD9D021792 gắn biển số 60B8-931.62, trong quá trình điều tra chưa xác minh được nguồn gốc, chủ sở hữu hợp pháp nên tách ra tiếp tục xác minh, xử lý sau.

Đối với 01 Điện thoại di động Samsing J4 màu đen, sim số 0528116771, số I 35159010154003 là điện thoại của Mai Hoàng Nhựt A2 sử dụng để chuyển 1.000.000 đồng (một triệu đồng) cho Đỗ Thị Kim N qua tài khoản Momo. Cơ quan điều tra tách vật chúng tiếp tục xác minh làm rõ.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h, khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đỗ Thị Kim N; Áp dụng điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Ngô Bá Công H.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim N2 mức án từ 18 đến 24 tháng tù;

Xử phạt bị cáo Ngô Bá Công H mức án từ 12 đến 18 tháng tù. Ngoài ra, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, xử lý vật chứng và án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa các bị cáo H và N2 đã thừa nhận: Khoảng 14 giờ 30 ngày 07/11/2024 tại khu phố E, phường B, thành phố B, Ngô Bá Công H và Đỗ Thị Kim N đã có hành vi trộm cắp xe môtô nhãn hiện Honda Super Dream biển số 60F4-279.45 trị giá 19.600.000 đồng (mười chín triệu sáu trăm ngàn đồng) của anh Nguyễn Duy T thì bị bắt xử lý.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo, lời khai của người bị hại, các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Hành vi phạm tội của bị cáo H và N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) đúng như Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo là người có sức khỏe, có đầy đủ khả năng nhận thức pháp luật. Biết hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện là thể hiện sự coi thường và bất chấp pháp luật. Do vậy, cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội bị cáo thực hiện, nhằm cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người tốt, cũng để răn đe và phòng ngừa chung.

Về tính chất đồng phạm, vai trò của từng bị cáo: Trong vụ án này bị cáo N là người đã có tiền án chưa được xóa án tích, nay lại tái phạm. Bị cáo N hiểu ý bị cáo H lấy chìa khóa xe A3 để mở xe Dream biển số số 60F4-279.45 với mục đích là trộm. Mặc dù N có lời ngăn cản bị cáo H, nhưng không kiên quyết, nên phải chịu mức án cao hơn bị cáo H.

Đối với bị cáo H là người quan sát và là người khởi xướng đã dùng chìa khóa xe Attila để mở khóa xe Dream, biển số 60F4-279.45 và nói N ngồi trên xe Dream biển số 60F4-279.45 để H đẩy xe trên đi đến khách sạn K1. Bị cáo H có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nên chịu hình phạt thấp hơn bị cáo N.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Ngô Bá Công H sau khi phạm tội đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Bị cáo Đỗ Thị Kim N thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đỗ Thị Kim N “tái phạm” quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự; Bị cáo Ngô Bá Công H không có tình tiết tăng nặng.

[6] Về nhân thân: Bị cáo N có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản, Bản án số 507/2022/HS-ST ngày 17/11/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà xử phạt 10 tháng tù giam. Chấp hành xong ngày 27/03/2023. (chưa xóa án tích); Ngày 26/12/2023 bị Ủy ban nhân dân phường H, thành phố B ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi “sử dụng trái phép chất ma tuý”;

[7] Đối với Mai Hoàng Nhựt A2 có hành vi giao xe và nhận tiền bán xe mô tô cho người mua. Khi thực hiện hành vi Anh không biết đây là tài sản do bị can H trộm cắp mà có nên không có căn cứ xử lý hình sự đối với A2 về hành vi này.

[8] Đối với Xe mô tô nhãn hiệu SYM Attila, màu xanh có số máy VMVF3A-D021792SM, số khung RLGKA12CD9D021792 gắn biển số 60B8-931.62, trong quá trình điều tra chưa xác minh được nguồn gốc, chủ sở hữu hợp pháp nên tách ra tiếp tục xác minh, xử lý sau.

[9] Đối với 01 Điện thoại di động Samsing J4 màu đen, sim số 0528116771, số I 35159010154003 là điện thoại của Mai Hoàng Nhựt A2 sử dụng để chuyển 1.000.000 đồng (một triệu đồng) cho Đỗ Thị Kim N qua tài khoản Momo. Cơ quan điều tra tách vật chúng tiếp tục xác minh làm rõ.

*Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

  • + 01 Điện thoại di động Samsung Galaxy S7 edge màu vàng good, số kiểu máy: SM-G935FD, số seri R58H41G7CFT, IMEI (khe 1) 357224070329821 của Đỗ Thị Kim N sử dụng để phạm tội.
  • Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 23/0102025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa.
  • + Số tiền: 1.600.000 đồng (một triệu sáu trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0001837 ngày 04/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa..

Buộc bị cáo Đỗ Thị Kim N nộp 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng) tiền thu lợi bất chính do bán tài sản trộm cắp.

*Về dân sự: Ông Ngô Bá Công H1, bố ruột của bị cáo H đã bồi thường số tiền 19.600.000 đồng (mười chín triệu, sáu trăm ngàn đồng) cho anh Nguyễn Duy T, anh T không yêu cầu bồi thường gì khác.

[10] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h, khoản 1 Điều 52; Điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Kim N2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h, khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đỗ Thị Kim N;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim N2 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/11/2024.

Căn cứ điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017)

Tuyên bố bị cáo Ngô Bá Công H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Ngô Bá Công H 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/11/2024.

*Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

  • + 01 Điện thoại di động Samsung Galaxy S7 edge màu vàng good, số kiểu máy: SM-G935FD, số seri R58H41G7CFT, IMEI (khe 1) 357224070329821 của Đỗ Thị Kim N sử dụng để phạm tội.
  • Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 23/0102025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa.
  • + Số tiền: 1.600.000 đồng (một triệu sáu trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0001837 ngày 04/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa.

Buộc bị cáo Đỗ Thị Kim N nộp 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng) tiền thu lợi bất chính do bán tài sản trộm cắp.

*Về dân sự: không có

Về án phí: Áp dụng Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo H và bị cáo N mỗi phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Các bị cáo Ngô Bá Công H và Nguyễn Thị Kim N2 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại Nguyễn Duy T vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Biên Hòa;
  • - Phân trại tạm giam khu vực B;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Đ
  • - Chi cục THADS thành phố B;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký và đóng dấu)

Phạm Thị Bảy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 171/2025/HS-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 171/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 14 giờ 30 ngày 07/11/2024 tại khu phố 5, phường Bửu Hoà, thành phố Biên Hoà, Ngô Bá Công Hậu và Đỗ Thị Kim Ngân đã có hành vi trộm cắp xe môtô nhãn hiện Honda Super Dream biển số 60F4-279.45 trị giá 19.600.000 đồng (mười chín triệu sáu trăm ngàn đồng) của anh Nguyễn Duy Tân thì bị bắt xử lý.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger