Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 171/2025/HS-PT

Ngày: 20 - 3 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Hùng
Ông Phạm Công Mười

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh, Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Nguyệt Hà - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 13 và 20 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 306/2024/TLPT-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo Lương Bội H, Nguyễn Thanh N do có nguyên đơn dân sự Công ty TNHH N2 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2024/HSST ngày 11/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

Bị cáo bị kháng cáo:

  1. Lương Bội H, sinh năm 1979 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: số A đường B, Phường D, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký tạm trú: đường A, tổ F, ấp A, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: nhân viên thủ kho; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Quốc N1 (đã chết) và bà Trần Kim P; bị cáo có chồng (đã chết) và 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giạm từ ngày 24/9/2019 cho đến nay, vắng mặt.
  2. Nguyễn Thanh N, sinh năm 1968 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: số A đường Đ, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên Chúa giáo; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn X (đã chết) và bà Lê Ngọc Q; bị cáo có vợ và 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giạm từ ngày 04/10/2019 cho đến nay, vắng mặt.

- Luật sư bào chữa chỉ định cho bị cáo Lương Bội H và bị cáo Nguyễn Thanh N: Luật sư Lê Thị Ánh T thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H, có đơn xin xét xử vắng mặt kèm luận cứ bào chữa.

Nguyên đơn dân sự: Công ty TNHH N2; địa chỉ: Lô C-CN, đường N, khu công nghiệp M, khu phố C, phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương.

Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Kim H1, sinh năm 1964; chức vụ: Tổng giám đốc Công ty TNHH N2, vắng mặt.

Đại diện theo ủy quyền:

  1. Ông Trần Uy T1, sinh năm: 1984; địa chỉ: Số G, đường T, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.
  2. Ông Đặng Hoàng Tuấn V, sinh năm 1989; địa chỉ: Số C, đường số B, phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn dân sự: Ông Hồ Lê Minh D là Luật sư Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H, có mặt.

Ngoài ra trong vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo; không liên quan đến kháng cáo nên không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Công ty cổ phần Đ, địa chỉ: thôn Q, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Ninh (Văn phòng Đ1 tại số A, đường D, phường A, quận H, Tp.) chuyên cung cấp sản phẩm phụ kiện nhựa gắn ren bằng đồng thau cho Công ty TNHH N2, địa chỉ: Lô C-CN đường NA4, KCN M, khu phố C, phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương do bà Nguyễn Thị Kim H1 làm Tổng giám đốc.

Tháng 10/2011, Công ty TNHH N2 giao cho Lương Bội H là nhân viên thủ kho phụ kiện, phụ trách đề xuất yêu cầu và trực tiếp kiểm đếm, lập phiếu nhập kho hàng ren đồng thau từng đợt giao hàng, nhận hóa đơn VAT theo số lượng đơn đặt hàng của Công ty TNHH N2. Trong thời gian phụ trách công việc, H quen biết với Nguyễn Thanh N là tài xế chở hàng thuê cho Công ty cổ phần Đ từ năm 2008 đến năm 2019.

Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên thời gian từ năm 2015 đến tháng 03/2019, H rủ N cùng tham gia chiếm đoạt hàng ren đồng thau của Công ty TNHH N2. Với cách thức là khi có đơn đặt mua hàng của Công ty cổ phần Đ, N điều khiển xe ô tô tải biển số 51C – 015.88 chở hàng hóa là ren đồng thau từ Công ty cổ phần Đ về giao cho Công ty TNHH N2 và H là người trực tiếp ký nhận. Trên đường vận chuyển hàng về Công ty TNHH N2, H sẽ liên hệ và nói N lấy bớt thùng hàng ren đồng thau để bán theo yêu cầu của H. Nhàn sẽ chủ động liên hệ cho các tài xế xe tải khác (không rõ lai lịch) để bán. Mỗi lần bán được khoảng từ 20 thùng đến 40 thùng ren đồng thau các loại, mỗi thùng có từ 500 cái (sản phẩm) đến 1.000 cái (01 thùng đồng thau ren ngoài 21 gồm 500 sản phẩm, trọng lượng từ 19 đến 19,3kg; 01 thùng đồng thau ren trong 21 gồm 1.000 sản phẩm, trọng lượng từ 14 đến 14,3kg; 01 thùng đồng thau ren ngoài 27 gồm 500 sản phẩm, trọng lượng từ 26 đến 26,5kg; 01 thùng đồng thau ren trong 27 gồm 1.000 sản phẩm, trọng lượng từ 30 đến 30,5kg), mỗi tháng lấy từ 01 đến 02 lần. Địa điểm bán tại các khu vực gần cầu vượt A; huyện H, Tp Hồ Chí Minh; khu vực gần cổng chào thuộc phường V, thị xã T và được bán phế liệu với giá từ 67.000đ đến 69.000đ/kg. Số hàng ren đồng thau còn lại N chở về giao cho Công ty TNHH N2. Lúc này H là người trực tiếp ký nhận hàng về kho phụ kiện và ký nhận đủ số lượng như trên phiếu nhập kho, nhận hóa đơn giá trị gia tăng của Công ty cổ phần Đ2 tương ứng với số lượng hàng hóa giao nhận. Số tiền bán được, N đem về giao cho H, N được H chia 10% trên tổng số tiền đã nhận. Ngoài ra, H còn đưa thêm cho N một khoảng tiền xăng đi lại trên mỗi chuyến từ 700.000 đồng đến 3.000.000 đồng tùy theo số lượng hàng chiếm đoạt. Theo lời khai nhận của H và N thì mỗi tháng bán được từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng. Tổng số tiền N được chia là trên 500.000.000đ (năm trăm triệu đồng); H được chia trên 3.000.000.000đ (ba tỷ đồng).

Khi có lệnh sản xuất của Phòng kế hoạch thì Nguyễn Đình H2 là Quản đốc xưởng phụ tùng cao cấp của Công ty nhập lên máy tính và yêu cầu thư ký Nguyễn Thị Ngọc V1 làm giấy đề xuất nguyên liệu theo số lượng ghi trong lệnh sản xuất đề ra, rồi ký tên vào giấy đề xuất. Sau đó đưa giấy đề xuất cho nhân viên Đoàn Công D1 sang kho gặp Lương Bội H (Thủ kho) để lấy ren đồng thau. Lúc này, H ghi đúng số lượng hàng hóa xưởng sản xuất thực nhận trên các liên trắng, liên vàng, liên xanh của Lệnh xuất kho. Dẫn kiểm tra số lượng ren đồng thau và ký nhận vào lệnh xuất kho nội bộ (liên màu xanh) rồi chuyển ren đồng thau về xưởng, V1 kiểm tra lại rồi đưa vào sản xuất. Tuy nhiên, sau khi giao liên xanh cho H2, H đã tự chỉnh sửa, ghi tăng thêm số lượng trên Liên trắng được giữ lại kho do H quản lý rồi giao cho Phan Thị Hồng S là Phó phòng Kế toán, Trần Thị Minh K là kế toán tổng hợp kiểm tra số liệu hạch toán trên phần mềm, báo cáo kết quả kinh doanh cho Ban giám đốc công ty biết về doanh thu, lỗ, lãi.

Đến ngày 25/3/2019, bộ phận kế toán tổng hợp sổ sách, chứng từ, số liệu thì phát hiện có sự thất thoát số lượng ren đồng thau được chỉnh sửa là 124 lệnh xuất kho thể hiện trên liên trắng trong thời gian từ năm 2015 đến tháng 3/2019 nên báo cáo Ban giám đốc Công ty làm đơn trình báo đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B.

Căn cứ Bản kết luận giám định số: 232/GĐ-PC09 ngày 05/8/2019 của Phòng K1 Công an tỉnh B và kết luận giám định số: 1889/C09B ngày 15/5/2020 của Phân Viện khoa học Hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Chữ ký không ghi họ tên dưới các mục: “Người lập phiếu” và “Thủ kho” là do Lương Bội H ký ra; Có dấu vết sửa chữa chữ viết số dưới mục “Số lượng thực xuất”, Các “Lệnh xuất kho”.

Căn cứ Bản Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Bình Dương ngày 26/9/2019, kết luận: Ren ngoài thau 21 gồm 2.232.440 cái: Ren trong thau 21 gồm 1.775.660 cái, R ngoài thau 27 gồm 406.830 cái, R trong thau 27 gồm 301.000 cái. Tổng 4.716.430 cái với tổng trị giá tài sản bị thiệt hại là 24.323.239.000 đồng (hai mươi bốn tỷ ba trăm hai mươi ba triệu hai trăm ba mươi chín nghìn đồng).

* Đối với phương tiện liên quan trong vụ án:

  • Xe ô tô tải biển số 51C-015.88, loại xe KIA, màu sơn xanh, tải trọng 1.250kg, số khung RNHKCB27T5C 002043, số máy JT 545428 do Nguyễn Thanh N điều khiển làm phương tiện phạm tội là tài sản chung của N và vợ là bà Phương Thị Mai L. Ngày 21/02/2020, bà L đã bán xe này cho bà Nguyễn Thị Thu H3, sinh năm 1975, nơi cư trú: 2 P, phường A, quận H, Tp Hồ Chí Minh với giá 115.000.000 đồng. Với số tiền 115.000.000 đồng bà L đồng ý giao nộp lại số tiền bán chiếc xe trên theo yêu cầu của cơ quan chức năng.
  • Xe mô tô biển số 54X9-6304, nhãn hiệu Hon da, màu sơn: đỏ - xám, số khung 49Y030055, số máy 43E 0547146 (kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy) do bà Phương Kim P1, sinh năm 1968, nơi cư trú: D H, khu phố F, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh làm chủ sở hữu. Bà P1 giao xe này cho N mượn để làm phương tiện đi lại nên trả lại xe trên cho bà P1.

* Về trách nhiệm bồi thường dân sự và biện pháp tư pháp: bà Nguyễn Thị Kim H1 yêu cầu phía Công ty cổ phần Đ có trách nhiệm trong vụ việc trên vì thực tế Công ty cổ phần Đ không thực hiện đúng theo Hợp đồng nguyên tắc đã được ký kết giữa hai công ty; bà Phương Thị Mai L (vợ của bị cáo N) đã khắc phục số tiền 55.000.000 (năm mươi lăm triệu) đồng cho phía Công ty TNHH N2.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 20/2024/HSST ngày 11/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương quyết định:

Căn cứ các Điều 298, 299, 326, 327, 329, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

  1. Về tội danh: tuyên bố các bị cáo Lương Bội H, Nguyễn Thanh N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về hình phạt:
    • Áp dụng khoản 4 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Lương Bội H 16 (mười sáu ) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/9/2019.
    • Áp dụng khoản 4 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N 11 (mười một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/10/2019.
  3. Về trách nhiệm dân sự: căn cứ Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015;
    • Buộc bị cáo Lương Bội H có trách nhiệm bồi thường cho Công ty TNHH N2 số tiền 20.269.366.000 (hai mươi tỷ, hai trăm sáu mươi chín triệu, ba trăm sáu mươi sáu nghìn) đồng;
    • Buộc bị cáo Nguyễn Thanh N có trách nhiệm bồi thường cho Công ty TNHH N2 số tiền 3.989.706.500 (ba tỷ chín trăm tám mươi chín triệu bảy trăm linh sáu nghìn năm trăm) đồng.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 18/3/2024, nguyên đơn dân sự - Công ty N2 kháng cáo về phần trách nhiệm dân sự, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa án theo hướng buộc Công ty CP Đ phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho Công ty TNHH N2 vì hàng hóa bị mất trộm trong thời gian Công ty TNHH N2 chịu trách nhiệm quản lý tài sản. Việc Công ty TNHH N2 thanh toán tiền hàng cho Công ty CP Đ là do bị nhầm lẫn trong giao dịch dân sự.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn dân sự - Luật sư Hồ Lê Minh D trình bày: Căn cứ theo các hợp đồng nguyên tắc giữa 02 công ty, các bên thỏa thuận địa điểm giao hàng là kho của công ty N2 và công ty Đ phải chịu trách nhiệm đối với hàng hóa đến khi hàng hóa tới kho của công ty N2. Các bị cáo đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản trên đường vận chuyển, hàng hóa vẫn chưa nhập kho của công ty N2 nên vẫn chịu sự quản lý của công ty Đ như hợp đồng đã quy định. Bị cáo H đã ký khống số lượng nhận hàng, hành vi của bị cáo H chỉ là hành vi nhằm che dấu hành vi phạm tội lấy cắp hàng hóa trước đó. Vì tin tưởng nhân viên của mình (bị cáo H đã ký vào giấy nhập kho) nên công ty N2 mới chuyển tiền thanh toán cho công ty Đ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xác định lại tư cách tố tụng trong vụ án này, xác định công ty Đ là bị hại và buộc công ty Đ phải chuyển lại số tiền mà công ty N2 đã thanh toán dư so với số lượng hàng hóa đã thực nhận.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu:

  • - Về tố tụng: Thẩm phán hủ tọa, Hội đồng xét xử, thư ký và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng pháp luật. Kháng cáo của nguyên đơn dân sự Công ty TNHH N2 nằm trong hạn nên cần xem xét theo quy định pháp luật.
  • - Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để tuyên buộc các bị cáo có nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại cho Công ty TNHH N2 là có cơ sở bởi thiệt hại thực tế trong vụ án xuất phát từ hành vi phạm tội của các bị cáo. Tại Tòa án cấp phúc thẩm phía người kháng cáo không đưa ra được tình tiết, chứng cứ nào mới có căn cứ để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu kháng cáo của Công ty TNHH N2, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của Công ty TNHH N2 làm trong hạn luật định là hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Hội đồng xét xử đã nhiều lần triệu tập các bị cáo Lương Bội H và bị cáo Nguyễn Thanh N đến phiên tòa mặc dù các bị cáo không có kháng cáo, không bị kháng nghị, tuy nhiên Trại giam T2 (nơi bị cáo Lương Bội H đang chấp hành án) và Trại giam L2 (nơi bị cáo Nguyễn Thanh N đang chấp hành án) không tiến hành thủ tục dẫn giải các bị cáo đến phiên tòa. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án cũng được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các bị cáo và những người tham gia tố tụng nêu trên theo quy định tại Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về nội dung kháng cáo của Công ty TNHH N2 liên quan đến xác định tư cách bị hại, Hội đồng xét xử thấy rằng việc xác định tư cách bị hại trong vụ án xuất phát từ xác định tội danh, thời điểm hoàn thành hành vi phạm tội của các bị cáo, qua đó mới có đủ căn cứ xác định tư cách tham gia tố tụng và nghĩa vụ trong việc bồi thường thiệt hại.

Xét thấy, lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Lương Bội H là nhân viên thủ kho của Công ty TNHH N2; H quen biết với Nguyễn Thanh N là tài xế chở hàng thuê cho Công ty Cổ phần Đ (là Công ty chuyên cung cấp sản phẩm phụ kiện nhựa gắn ren bằng đồng thau cho Công ty TNHH N2). Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên khi có đơn mua hàng và giao hàng từ Công ty Cổ phần Đ về Công ty TNHH N2, theo yêu cầu của H, N sẽ lấy bớt thùng hàng chứa đồng thau ren để bán phế liệu lấy tiền chia nhau tiêu xài cá nhân. Kết quả điều tra cho thấy: từ năm 2015 cho đến tháng 3/2019, Lương Bội H và Nguyễn Thanh N đã lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt của Công ty N2 số tài sản là sản phẩm phụ kiện nhựa gắn ren bằng đồng thau, có tổng trị giá là 24.323.239.000 đồng (hai mươi bốn tỷ ba trăm hai mươi ba triệu hai trăm ba mươi chín nghìn đồng).

Theo các hợp đồng nguyên tắc về việc mua bán hàng hóa giữa Công ty Cổ phần Đ về Công ty TNHH N2, hàng hóa sẽ được bên bán là Công ty Đ chịu trách nhiệm vận chuyển và giao tại kho của bên mua là Công ty N2. Đối tượng bị chiếm đoạt là hàng hóa (các thùng chứa đồng thau ren). Các bị cáo chiếm đoạt tài sản bằng hành vi lén lút, lợi dụng sơ hở trong quá trình vận chuyển của Công ty Đ và đem bán phế liệu. Tài sản các bị cáo bị chiếm đoạt trong thời gian mà Công ty Đ chịu trách nhiệm quản lý. Tội phạm đã hoàn thành trong quá trình vận chuyển. Việc bị cáo H sửa các chứng từ, tài liệu về số liệu hàng hóa khi nhập kho của Công ty N2 được thực hiện sau khi tội phạm đã hoàn thành, là thủ đoạn nhằm che giấu hành vi phạm tội của các bị cáo .

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của Công ty Đ được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự và an toàn xã hội; làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của công ty; các bị cáo nhận thức hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của Công ty Đ là hành vi vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện nên hành vi như mô tả trên của Lương Bội H và Nguyễn Thanh N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 4 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Bị cáo Lương Bội H bị Tòa án cấp sơ thẩm kết án 16 năm tù, bị cáo Nguyễn Thanh N bị kết án 11 năm tù theo quy định tại khoản 4 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015. Sau khi xét xử sơ thẩm, không có kháng cáo, kháng nghị về tội danh và hình phạt của các bị cáo nên Hội đồng xét xử không xét.

Về kháng cáo của Công ty TNHH N2 về trách nhiệm dân sự. Trong vụ án này, tài sản mà các bị cáo chiếm đoạt thực hiện trong thời gian hàng hóa chịu sự quản lý của Công ty Đ, tội phạm hoàn thành trong thời gian mà Công ty Đ quản lý tài sản nhưng các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm không xác định ai là bị hại trong vụ án là thiếu sót nghiêm trọng về tố tụng. Bởi lẽ để giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại của Công ty N2 cần làm rõ ai là bị hại trong vụ án để xác định nghĩa vụ bồi thường. Trong khi đó, vụ án này đã từng được xét xử tại Bản án hình sự phúc thẩm số 125/2022/HS-PT ngày 18/3/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, theo đó, Tòa án cấp phúc thẩm đã quyết định hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2021/HS-ST ngày 12/5/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương vì xác định không đúng tội danh, các bị cáo có dấu hiệu phạm tội “Trộm cắp tài sản” và việc xác định Công ty TNHH N2 là bị hại là chưa đúng. Hàng hóa bị chiếm đoạt vẫn thuộc quyền quản lý, sở hữu của Công ty Đ3 Tại bản án phúc thẩm lần đầu như trên, Hội đồng xét xử của Tòa án cấp phúc thẩm đã hủy bản án sơ thẩm để các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm làm rõ về tội danh, xác định đúng tư cách bị hại để xác định trách nhiệm bồi thường tuy nhiên nhưng nội dung mà Tòa án cấp phúc thẩm nêu ra chưa được các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm giải quyết đầy đủ và triệt để.

Thiệt hại do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra trong vụ án này là số hàng hóa mà Công ty Đ đã bị mất trong quá trình vận chuyển. Thiệt hại của Công ty N2 là thiệt hại về số tiền đã chuyển cho Công ty Đ để thanh toán hợp đồng mua bán hàng hóa sau khi bị nhầm lẫn, gian dối về việc đã nhận đủ hàng hóa, là thiệt hại từ việc thực hiện giao dịch dân sự. Tuy nhiên, khi các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm không xác định rõ bị hại trong vụ án hình sự này là có thiếu sót ảnh hưởng đến việc giải quyết việc bồi thường thiệt hại triệt để, đúng pháp luật. Ngoài ra, thiếu sót của này của cấp sơ thẩm ảnh hưởng đến việc thực hiện đầy đủ các quyền của người bị hại theo quy định tại Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự bao gồm những quyền quan trọng gồm:

“...g) Đề nghị hình phạt, mức bồi thường thiệt hại, biện pháp bảo đảm bồi thường;

m) Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án; ...”

Đây là thiếu sót mà Tòa án cấp phúc thẩm không thể khắc phục được. Do vậy, có căn cứ chấp nhận kháng cáo về phần trách nhiệm dân sự của Công ty TNHH N2, cần hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương để điều tra lại vụ án, làm rõ tư cách tham gia tố tụng của bị hại trong vụ án này, giải quyết vụ án triệt để, đúng pháp luật, bảo quyền, nghĩa vụ của người tham gia tố tụng.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355, điểm b khoản 1 Điều 358 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

  1. Chấp nhận kháng cáo của Công ty TNHH N2. Hủy Bản án hình sự sơ thẩm số: 20/2024/HSST ngày 11/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
  2. Giao hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương để điều tra lại vụ án đúng quy định pháp luật.

  3. Tiếp tục tạm giam các bị cáo Lương Bội H và Nguyễn Thanh N cho đến khi Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương nhận lại hồ sơ vụ án.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao; (1)
  • - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh; (1)
  • - TAND tỉnh Bình Dương; (3)
  • - VKSND tỉnh Bình Dương; (1)
  • - Công an tỉnh Bình Dương; (1)
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; (1)
  • - Cục THADS tỉnh Bình Dương; (1)
  • - NLQ; (2)
  • - Lưu: VP, HS (ĐTM) (6) - 17

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Thu

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Các Thẩm phán

Nguyễn Văn Hùng – Phạm Công Mười

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Bùi Thị Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 171/2025/HS-PT ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 171/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của Công ty TNHH N2. Hủy Bản án hình sự sơ thẩm số: 20/2024/HSST ngày 11/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương. Giao hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương để điều tra lại vụ án đúng quy định pháp luật.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger