TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 171/2025/HS-PT
Ngày: 13/3/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa:Ông Thái Duy Nhiệm;
Các thẩm phán: Ông Phạm Đình Khánh;
Bà Vũ Thị Thu Hà.
Thư ký phiên toà: Ông Phan Nhật Phong, Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòà: Ông Vũ Quang Huy, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 13 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 1354/2024/TLPT-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024, do có kháng cáo của bị cáo Lại Duy T và những người đại diện hợp pháp cho bị hại là bà Phạm Thị U, anh Lê Minh T1 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 95/2024/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định.
* Bị cáo có kháng cáo và bị kháng cáo:
Lại Duy T, tên gọi khác: Không; sinh năm 1975 tại Nam Định;
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Tổ dân phố số A thị trấn Y (cũ là xóm A, xã H) huyện H, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Lại Xuân V sinh năm 1952 và bà Lê Thị H, sinh năm 1955; gia đình có 04 anh em, bị cáo là con lớn; có vợ là Vũ Thị T2, sinh năm 1980; bị cáo có 03 con, con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 04/8/2005 Công an huyện H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” với số tiền là 300.000 đồng. Bị cáo đã thực hiện nghĩa vụ nộp phạt ngày 08/8/2005. Bị cáo bị bắt khẩn cấp ngày 13/4/2024 đến ngày 16/4/2024 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N, có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo Lại Duy T: Ông Hoàng Văn D, Luật sư Văn phòng L2, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H, có mặt.
* Bị hại: Lê Minh T3, sinh năm 1972; Trú tại: Tổ dân phố số B, thị trấn Y, huyện H, tỉnh Nam Định (đã chết).
* Người đại diện hợp pháp của bị hại có kháng cáo:
- Bà Phạm Thị U, sinh năm 1971, có mặt;
- Anh Lê Minh T1, sinh năm 1993, có mặt;
Cùng trú tại: Tổ dân phố số B, thị trấn Y, huyện H, tỉnh Nam Định.
Người đại diện theo ủy quyền của bà U, anh T1: Ông Phạm Trung K, sinh năm 1981; trú tại: Tổ dân phố A, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, có mặt.
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người đại diện hợp pháp của bị hại: Luật sư Nguyễn Thị Hương G và Nguyễn Phương V1, Luật sư Công ty L3, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H, ông V1 có mặt, bà G vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 11/4/2024, tại xóm A xã H, Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nam Định tổ chức lễ hội chùa Xã H. Trong khu vực tổ chức lễ hội, anh Nguyễn Đình T4 đã dựng rạp ở bãi đất trống để tổ chức tổ tôm điếm. Khoảng 21 giờ 00 phút cùng ngày Lại Duy T; anh Lê Minh T3; anh Đặng Đức T5; anh Lưu Hải C và anh Nguyễn Thế C1, chơi tổ tôm tại địa điểm tổ chức của anh T4. Đến khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, lúc này là hội thứ 2 thì Lại Duy T ù, nhưng do T đánh trống ù không đúng với quy định. Anh Lê Minh T3 và mọi người nhắc Thiều phải gõ dài tiếng trống ra. Sau đó giữa Lại Duy T và anh Lê Minh T3 có lời qua, tiếng lại dẫn đến mâu thuẫn nhau, anh T3 đứng dậy cầm điếu cày bằng tre dưới chân mình (dài 43cm, đường kính 4,7 cm mang theo để hút) lao về phía Thiều. T đứng dậy và thách thức anh T3 đánh mình; anh T3 dùng tay trái tát vào mặt T 01 cái, đồng thời chửi T. Hai người cãi chửi nhau một lúc thì mọi người can ngăn. Thiều quay lưng bỏ đi; anh T3 cầm điếu cày vụt 01 phát vào bả vai trái của T, T bỏ chạy vào trong nhà anh Trịnh Văn H1 (ngay sát điếm tổ tôm), thấy anh T3 đi đến đứng trước cửa nhà anh H1 và chửi bới thách thức Thiều. T chạy vào trong bếp nhà anh H1 lấy 01 con dao bầu trên bàn ăn (có lưỡi bằng kim loại, màu đen, có 01 cạnh sắc, 01 mũi nhọn dài 20cm, bản rộng nhất khoảng 05cm, chuôi dao bằng gỗ, dài 10cm) cầm ở tay phải, để sát thân người, đi ra phòng khách nhà anh H1.
Lúc này, anh T3 vẫn cầm điều cày, đứng ở ngoài đường trước cửa nhà anh H1 chửi T. Thiều bực tức, cầm con dao bầu ở tay phải mũi hướng về phía trước, phần lưỡi dao hướng lên trên, chuôi dao trong lòng bàn tay, điểm tiếp xúc giữa chuôi dao và lưỡi dao nằm ở giữa ngón cái và ngón trỏ, phi từ trong nhà ra đường hướng về phía anh T3. Thiều dùng dao đâm 01 phát từ dưới lên trên theo hướng từ phải qua trái về phía người anh T3. Anh T3 dùng điếu cày vung theo hướng từ trái sang phải, từ dưới lên trên theo phản xạ để đỡ phát đâm của T, điếu cày trúng vào tay phải của T nên T không đâm trúng anh T3. Anh T3 lùi lại phía sau, T cầm dao lao về phía anh T3, đứng đối diện cách anh T3 khoảng 35cm. Tay phải T cầm dao đâm 01 phát theo chiều hướng từ dưới lên trên, từ phải qua trái trúng vào vùng nách trái của anh T3, anh T3 vung điếu cày trúng vào bả vai trái của T. Anh T3 bị đâm, lấy tay ôm sườn trái, lùi lại phía sau mấy bước và nói: “Nó đâm tao rồi” rồi ngã gục xuống đường bê tông. Thấy anh T3 chảy nhiều máu, T ném con dao bầu xuống vệ sông rồi bỏ đi khỏi hiện trường. Anh T3 đã được mọi người đưa đi cấp cứu, nhưng đã tử vong trên đường đi cấp cứu.
Sau khi đâm anh T3, Lại Duy T nhảy lên xe anh H2 và bảo “Mày chở anh ra quan đoạn này tí”. Anh H2 chở T đi khoảng 500m đến khu vực nhà văn hóa xóm I, xã H thì T nói với anh H2 “Anh vừa đâm thằng T3 xong, mày chở anh đi tránh tỷ”. Anh H2 nói với T “Anh xuống xe đi đầu thú đi, em không giúp được anh”. Sau đó, T xuống xe đi đến nhà anh Lưu Trọng P sinh năm 1980, trú tại: xóm G, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định bảo anh P chở mình đi lên thành phố N, anh P không biết T vừa dùng dao đâm anh T3; sau đó Lại Duy T bắt xe taxi Mai L đang đỗ gần đó yêu cầu lái xe chở T đi đến chỗ bắt xe khách để đi TP . Hồ Chí Minh. Lái xe taxi M chở T hướng đi cao tốc Cao Bồ, đi được khoảng 10 km thì gặp xe đi khách đi Miền T. Thiều bắt xe khách này để đi vào thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 13/4/2024, khi T đi đến đoạn đường thuộc địa phận giáp ranh giữa tỉnh Thừa Thiên Huế và TP Đà Nẵng thì bị lực lượng Công an tỉnh T bắt giữ.
* Kết quả khám nghiệm hiện trường: Hiện trường nơi xảy ra vụ án tại đường liên xã T, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định. Hiện trường đã bị xáo trộn do quá trình đưa nạn nhân đi cấp cứu. Phía Bắc hiện trường là hướng đi xã H. Phía Nam hiện trường là hướng đi thị trấn Y. Phía Đông hiện trường là sông M. Phía Tây hiện trường giáp khu dân cư xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định. Trên mặt đường có đám máu dạng phun bắn về phía Đông, T6, B (ký hiệu 1) trên diện (3,7x 3,2) m tâm đám cách lề đường phía Đông 1,6m; cách góc phía Đông Bắc nhà ông Trịnh Văn H1, sinh năm 1967, trú tại: xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định 6,4m: ngay tâm đám có 1 điều cày dài 43 cm đường kính 4,7 cm. Cách tâm đám máu (ký hiệu 1) về phía Đông Nam ngay sát lề đường phía Đông có đám máu dạng đậm đặc, phun bắn (chiều hướng phun bắn từ Bắc sang N) trên diện (2,1x1,3)m (ký hiệu 2). Cách tâm đám máu (ký hiệu 1) về phía Bắc 3,5m, cách lề đường phía Đông 1,8m trên mặt đường có 01 lõi điếu cày. Trên tường phía Đ, gần góc Đông Bắc nhà ông H1 có 01 camera; mắt camera quay hướng Đ.
* Kết quả khám nghiệm tử thi: Tử thi được gia đình và Chính quyền địa phương xác định là anh Lê Minh T3 sinh năm 1972, trú tại: tổ dân phố số B, thị trấn Y, huyện H, tỉnh Nam Định.
* Khám ngoài: Đường nách giữa bên trái lên hõm nách trái có vết thủng da cơ kích thước (8,3x3) cm. Đầu trên vết có vết trợt da lên trên dài 3,2cm.
* Mỗ tử thi:
- - Mở khoang màng phổi: Hai bên khoang màng phổi phải khô không có nước máu. Khoang màng phổi trái có máu đông và nước máu. Bề mặt hai phổi xạm màu, phổi trái xẹp.
- - Tương ứng với vết rách bên ngoài da cơ vùng nách trái có vết rách thủng vào khoang liên sườn 3,4,5. Đứt bán phần xương sườn 3, đứt hoàn toàn xương sườn 4, đứt bán phần xương sườn 5.
- - Mặt ngoài xương sườn 2,3,4,5 bên trái xung quanh vết rách tụ máu dưới da cơ kích thước (15x10)cm.
- - Mở bao tim: Trong bao tim chứa một ít dịch màu vàng, bề mặt tim xung huyết nhẹ. Mặt bên thùy trên phổi bên trái tương ứng với vết rách thủng da cơ vào khoang liên sườn có vết rách thủng thấu phối trên diện (5x2) cm.
- - Gan bề mặt xung huyết diện cắt gan mềm.
* Tại Bản kết luận giám định tử thi số 728/KLGĐTT-KTHS ngày 24-4-2024 của Phòng K2 Công an tỉnh N, kết luận:
- - Nạn nhân Lê Minh T3 chết do vết thương thấu phổi, mất máu cấp.
- - Cơ chế: Vết thương vùng ngực thấu phổi do vật cứng lưỡi sắc, nhọn tác động trực tiếp.
Với nội dung trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 95/2024/HS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Lại Duy T phạm tội “Giết người”. Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS; Xử phạt bị cáo Lại Duy T 12 (Mười hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/4/2024.
Trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Lại Duy T tự nguyện bồi thường cho những người đại diện hợp pháp của người bị hại với tổng số tiền là 777.502.000đ. Gia đình bị cáo đã bồi thường cho những người đại diện hợp pháp của người bị hại với tổng số tiền là 500.000.000đ. Số tiền bị cáo còn tiếp tục phải bồi thường cho những người đại diện hợp pháp của người bị hại là 277.502.000đ.
Về cấp dưỡng: Buộc bị cáo Lại Duy T có nghĩa vụ cấp dưỡng cho bà Nguyễn Thị Thanh X với số tiền là 1.000.000đ/tháng kể từ tháng 10/2024 cho đến khi bà Nguyễn Thị Thanh X chết.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định nghĩa vụ chịu lãi suất chậm thi hành án, bản án còn quyết định xử lý vật chứng, buộc nghĩa vụ chịu về án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sưu khi xét xử sơ thẩm, ngày 14/10/2024 bị cáo Lại Duy T có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt. Ngày 14/10/2024 đại diện hợp pháp cho bị hại là chị Phạm Thị U và anh Lê Minh T1 có đơn háng cáo tàn bộ bản án.
Tại phiên tòa phúc thẩm, những người kháng cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
- - Bị cáo trình bày: Thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã quy kết; nhưng với mức hành phạt 12 năm tù là quá nghiêm khắc; xuất phát từ việc anh T3 có lời nói xúc phạm, sau dó đánh bị cáo trước làm bị cáo bức xúc không làm chủ được bản thân nên đã phạm tội, sau khi sự việc xẩy ra bị cáo rất ân hận nên đã tác động với gia đình chủ động bồi thường số tiền 500.000.000đ cho gia đình bị hại; sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo tiếp tục tác động với gia đình bồi thường tiếp số tiền còn lại cho gia đình bị hại, gia đình bị cáo hiện đang thờ cúng liệt sỹ, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- - Người đại diện hợp pháp cho bị hại có kháng cáo trình bày: Mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm quyết định đối với bị cáo T là quá nương nhẹ. Bởi vì, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là không đúng; vì bị cáo T không thành khẩn khai báo, gia đình bị cáo không phải bồi thường số tiền 500.000.000đ, mà đây là tiền thắp hương; đồng thời phải áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là bị cáo dùng thủ đoạn xảo quyệt, có hành động xảo quyệt hoặc hung hãn nhằm trốn tránh hoặc che dấu tội phạm. Đề nghị bị cáo phải bồi thường số tiền 777.502.000đ. Đối với số tiền 500.000.000đ không phải là tiền bồi thường, nên không được đối trừ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm: Sau khi phân tích, đánh giá hành vi phạm tội của bị cáo thấy cấp sơ thẩm xét xử, quy kết bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật; về mức hình phạt như bản án sơ thẩm đối với bị cáo là có phần nương nhẹ, nhưng sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo tiếp tục tác động với gia đình bồi thường tiếp số tiền còn lại cho gia đình bị hại và thực hiện toàn bộ nghĩa vụ về án phí; đây là tình tiết mới thể hiện bị cáo đã thật sự ăn năn hối cải, nên không có căn cứ xem xét giảm nhẹ hình phạt, cũng như tăng hình phạt đối với bị cáo. Đối với trách nhiệm dân sự bị cáo đã tự nguyện bồi thường số tiền 777.502.000đ theo yêu cầu của đại diện bị hại là đã vượt mức theo quy định của pháp luật, địa diện cho bị hại cho rằng số tiền 500.000.000₫ là số tiền thắp hương là không có căn cứ. Vì vậy, đề nghị căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và những người đại diện hợp pháp cho bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Người bào chữa cho bị cáo T trình bày: Các cơ quan tiến hành tố tụng đã tiến hành điều tra, làm rõ nội dung vụ án; người bào chữa đồng tình với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát; ý thức giết người của bị cáo không có mà do mâu thuẫn nhất thời; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đã khắc phục toàn bộ số tiền theo yêu cầu của gia đình bị hại; bản thân bị cáo đang là người thờ cúng liệt sỹ. Do đó, đề nghị Hội xét xử xem xét để không chấp nhận kháng cáo của đại diện cho bị hại và chấp nhận kháng cáo của bị cáo để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho gia đình bị hại trình bày: Không đồng tình với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát; cấp sơ thẩm cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là không đúng; bởi vì, bị cáo không khai báo thành khẩn và số tiền 500.000.000đ là tiền gia đình bị hại thắp hương không phải là số tiền bồi thường thiệt hại; sau khi xét xử sơ thẩm gia đình bị cáo cũng không đến gia đình bị hại để động viên, an ủi hay thăm hỏi gia đình bị hại nhưng lại nộp tiền tại Cơ quan Thi hành án dân sự điều đó nhằm trốn tránh sự gặp mặt gia đình bị hại. Bị cáo cho rằng do anh T3 đánh bị cáo trước nhưng khi xem xét dấu vết trên thân thể bị cáo không thể hiện có thương tích. Trong vụ án này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là có hành vi xảo quyệt; bời vì, bị cáo rất hung hãn, đâm anh T3 nhiều nhát, sau khi đâm chết anh T3 bị cáo đã tìm mọi cách để để bỏ trốn. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của đại diện bị hại để tăng hình phạt đối với bị cáo lên mức cao nhất của khung hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan và người tiến hành tố tụng ở cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã mô tả và quy kết. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thấy phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm; phù hợp với lời khai của những người làm chứng; kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệ tử thi; kết quả trích xuất camera; phù hợp với các chứng cứ tài liệu đã được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Đặc biệt là các kết luận giám định. Do đó, đã có đủ cơ sở để kết luận: Do có mâu thuân trong quá trình chơi tổ tôm điếm tại lễ hội chùa Xã H; khoảng 22 giờ 08 ngày 11/4/2024, tại khu vực đường liên xã thuộc địa phận xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định, do mâu thuẫn Lại Duy T sử dụng dao bằng kim loại cầm bằng tay phải đâm một phát vào vùng ngực bên trái của anh Lê Minh T3 làm rách thủng khoang liên sườn 3, 4, 5, thủng thấu phổi trái tiết diện (5 x 2)cm dẫn đến anh T3 tử vong do mất máu cấp. Hành vi của Lại Duy T đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người”, cấp sơ thẩm xét xử, quy kết bị cáo với tội danh nêu trên theo quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, bị cáo không bị oan.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong quá trình sinh hoạt, nhưng bị cáo Lại Duy T đã dùng dao là hung khí nguy hiểm, đâm vào vùng trọng yếu của anh T3; hành vi của bị cáo đã trược tiếp tước đoạt tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an, an toàn xã hội, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Tòa án cấp sơ thẩm quy kết bị cáo theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
[4] Xét kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, cũng như kháng cáo tăng hình phạt đối với bị cáo của bà Phạm Thị U và anh Lê Minh T1, thấy: Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, như: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo Lại Duy T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân; sau khi sự việc xẩy ra bị cáo đã tác động với gia đình đến thắp hương, thăm viếng gia đình bị hại, đồng thời đã bồi thường số tiền 500.000.000đ nhằm bồi thường cho gia đình bị hại, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo tiếp tục tác động với gia đình bồi thường tiếp số tiền còn lại cho gia đình bị hại, gia đình bị cáo hiện đang thờ cúng liệt sỹ, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người đại diện hợp pháp cho bị hại cho rằng kháng cáo trình bày: Bị cáo không thành khẩn khai báo, gia đình bị cáo không phải bồi thường số tiền 500.000.000đ, mà đây là tiền thắp hương; đồng thời phải áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là bị cáo dùng thủ đoạn xảo quyệt, có hành động xảo quyệt hoặc hung hãn nhằm trốn tránh hoặc che dấu tội phạm. Người đại diện hợp pháp cho bị hại cho rằng đây không phải là số tiền bồi thường, cũng như bị cáo không thành khẩn là thiếu căn cứ. Hơn nữa, tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo tự nguyện nhất trí bồi thường toàn bộ số tiền theo yêu cầu của những người đại diện hợp pháp của bị hại là 777.502.000đ và sẽ tiếp tục bồi thường số tiền còn thiếu là 277.502.000đ. Ngoài ra, gia đình bị cáo cung cấp tài liệu thể hiện là gia đình có nhân thân là người có công, bố đẻ bị cáo tham gia kháng chiến chống Mỹ và hiện đang trực tiếp thờ liệt sỹ, gia đình có công nuôi dưỡng cán bộ được nhà nước tặng bằng khen; trong vụ án này phía bị hại cũng có một phần lỗi là đã dùng điếu cày hành hung bị cáo trước, đây là những két giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo là có căn cứ. Nhưng như đã phân tích ở trên, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt mà Lại Duy T đã sẵn sàng dùng dao tước đoạt tính mạng của bị hại, nên mức hình phạt như bản án sơ thẩm là có phần nương nhẹ. Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo tiếp tục tác động với gia đình nộp tiếp số tiền 277.502.000đ để bồi thường trách nhiệm dân sự cho gia đình bị hại 12.000.000đ là tiền cấp dưỡng cho bà X là mẹ bị hại, đồng thời đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ về án phí là 14.373.100đ thể hiện sự ăn năn hối cải của bị cáo; tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thật sự thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nên mức án như bản án sơ thẩm đối với bị cáo cũng đủ tính răn đe, giáo dục và cải tạo bị cáo, thể hiện được chính sách nhân đạo của pháp luật đối với người phạm tội biết ăn năn hối cải, có ý thức bồi thường triệt để thiệt hại, nên không cần thiết tăng hình phạt đối với bị cáo, nhưng cũng không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.
[5] Về kháng cáo liên quan đến trách nhiệm dân sự của đại diện hợp pháp của bị hại, thấy: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện cho bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường toàn bộ chi phí là 777.502.000đ. Xét mức yêu cầu này do phía bị hại đưa ra, tuy vượt quá mức quy định, nhưng được bị cáo chấp nhận nên Tòa án cấp sơ thẩm ghi nhận; trước khi xét xử sơ thẩm gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường 500.000.000đ, gia đình bị hại xác nhận đã nhận số tiền này, nên Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị cáo tiếp tục phải bồi thường phần còn lại là 277.502.000đ là đúng quy định, phía gia đình bị hại cho rằng số tiền 500.000.000đ là tiền thắp hương là thiếu căn cứ. Đối với buộc bị cáo phải cấp dưỡng cho bà X 1.000.000đ/ tháng là có căn cứ, vì bà X có 03 người con, nên các con đều phải có trách nhiệm cấp dưỡng cho bà Nguyễn Thị Thanh X, nên số tiền 1.000.000 đồng/tháng là phù hợp với pháp luật. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Thị U và anh Lê Minh T1 về phần trách nhiệm dân sự. Sau khi xét xử sơ thẩm gia đình bị cáo đã tự nguyện nộp toàn bộ số tiền còn lại để bồi thường cho gia đình bị hại, cũng như cấp dưỡng cho mẹ bị cáo, nên cần ghi nhận cho bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm là có căn cứ.
[6] Về án phí: Bị cáo không được chấp nhận kháng cáo nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Đại diện hợp pháp cho bị hại không phải chịu án phí phúc thẩm. Gia đình bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 14.375.100đ là tiền án phí sơ thẩm, nên cần ghi nhận cho bị cáo.
[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lại Duy T; không chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Thị U và anh Lê Minh T1; giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 95/2024/HS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định; cụ thể:
Tuyên bố bị cáo Lại Duy T phạm tội “Giết người”; căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Lại Duy T 12 (mười hai) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo (ngày 13/4/2024).
Trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Lại Duy T bồi thường cho những người đại diện hợp pháp của người bị hại với tổng số tiền là 777.502.000đ. Gia đình bị cáo đã bồi thường cho những người đại diện hợp pháp của người bị hại với tổng số tiền là 500.000.000đ. Số tiền bị cáo còn tiếp tục phải bồi thường cho những người đại diện hợp pháp của người bị hại là 277.502.000đ. Buộc bị cáo Lại Duy T có nghĩa vụ cấp dưỡng cho bà Nguyễn Thị Thanh X với số tiền là 1.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 10/2024 cho đến khi bà Nguyễn Thị Thanh X chết. Ghi nhận bị cáo Lại Duy T đã nộp số tiền 277.502.000đ tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nam Định theo biên lai thu tiền số 0002480, ngày 07/01/2025 để bồi thường cho gia đình bị hại; đại diện hợp pháp cho bị hai được nhận số tiền này. Tạm giữ số tiền 12.000.000đ do gia đình bị cáo đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nam Định theo biên lai số 0002481, ngày 07/01/2025 để đảm bảo thi hành án phần cấp dưỡng cho mẹ bị hại là bà Nguyễn Thị Thanh X.
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật và đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn yêu cầu thi hành án, bị cáo Lại Duy T phải chịu lãi suất đối với số tiền chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
Về án phí: Bị cáo Lại Duy T phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm; bà Phạm Thị U và anh Lê Minh T1 không phải chịu án phí phúc thẩm. Ghi nhận bị cáo Lại Duy T đã nộp toàn bộ án phí sơ thẩm là 14.375.100đ theo biên lai số 0002471, ngày 07/01/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nam Định; bị cáo đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm số 95/2024/HS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Duy Nhiệm |
Bản án số 171/2025/HS-PT ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về hình sự (giết người)
- Số bản án: 171/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Giết người)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lại Duy T phạm tội “Giết người”
