TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 171/2025/HNGĐ-ST Ngày: 15/4/2025 V/v tranh chấp “Ly hôn” |
|
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang Minh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Hoa Kiều.
Ông Trương Hoàng Hoa.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Huyền Trân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang: Ông Ngô Thành Khánh Duy – Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 32/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 46/2025/QĐ-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Phan Thị H, sinh năm 1996;
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Bị đơn: Nguyễn Văn Q, sinh năm 1996;
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
(Bà H có đơn xin vắng mặt, ông Q vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*. Theo Đơn khởi kiện và bản tự khai, bà Phan Thị H trình bày:
Bà và ông Q tự nguyện cưới nhau vào năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang vào ngày 23/8/2019. Thời gian đầu ông bà sống hạnh phúc đến tháng 3 năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hoà hợp nên thường xuyên cãi vả, ông bà đã ly thân từ năm 2024 đến nay. Nay tình cảm không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.
Nay bà yêu cầu Toà án giải quyết:
- Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với ông Q.
- Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Thị Tường V, sinh ngày 29/12/2018 và Nguyễn Gia K, sinh ngày 05/7/2020. Khi ly hôn, bà H yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con chung, không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn ông Nguyễn Văn Q mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng, không có văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo tham gia phiên tòa có ý kiến phát biểu:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký và những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi xét xử, Thẩm phán và Thư ký chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ kiện: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, xét thấy bà Phan Thị H và ông Nguyễn Văn Q có mâu thuẫn kéo dài không hàn gắn được nên việc bà H yêu cầu ly hôn với ông Q và yêu cầu giao hai con chung cho bà H chăm sóc nuôi dưỡng; bà không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung và nợ chung không có, là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo.
[2] Về sự có mặt của đương sự: Toà án nhân dân huyện Chợ Gạo đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo đúng qui định, bà Phan Thị H có đơn xin vắng mặt, ông Nguyễn Văn Q vắng mặt lần thứ hai không có lý do chính đáng dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ, do đó Toà án xét xử vắng mặt đương sự theo quy định.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị H và ông Nguyễn Văn Q là vợ chồng, được Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp giấy Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn nên đây là hôn nhân hợp pháp.
[4] Về thực trạng hôn nhân: Quá trình tố tụng, bà H trình bày, ông bà kết hôn tự nguyện và sống hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hoà hợp, vợ chồng thường xuyên cãi vả và ông bà đã ly thân từ năm 2024 đến nay. Hiện tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn ông Q.
[5] Về các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, ý kiến trình bày của đương sự và căn cứ giải quyết vụ án:
Quá trình tố tụng, Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo đúng quy định nhưng ông Q không nộp bản tự khai hoặc các văn bản thể hiện ý chí của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, đồng thời ông Q cũng vắng mặt tại các phiên hòa giải. Tại phiên tòa hôm nay, ông Q cũng vắng mặt mà không vì sự việc bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, thể hiện ý chí không muốn hàn gắn. Điều đó cho thấy tình trạng hôn nhân giữa bà H và ông Q có mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên ly hôn là biện pháp tốt nhất để trả tự do cho cả hai. Vì vậy, bà H yêu cầu được ly hôn với ông Q là có cơ sở và phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
- Về con chung: Ông bà có hai con chung là Nguyễn Thị Tường V, sinh ngày 29/12/2018 và Nguyễn Gia K, sinh ngày 05/7/2020; Hội đồng xét xử thông qua kết quả xác minh thực tế tại địa phương và lời trình bày của nguyên đơn nhận thấy: cháu V, cháu K hiện sống cùng bà H. Xét hai cháu đang có nơi ở, nơi học tập ổn định để tiếp tục phát triển về thể chất và tinh thần, được mẹ ruột chăm sóc nuôi dưỡng. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Q cũng không có văn bản thể hiện ý kiến không đồng ý về việc bà H yêu cầu giao con chung cho bà tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng.
Vì vậy, yêu cầu của bà H yêu cầu giao con chung cho bà chăm sóc nuôi dưỡng là có cơ sở và phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình nên được HĐXX chấp nhận. Về việc cấp dưỡng nuôi con, bà H không yêu cầu nên không đặt ra để xem xét giải quyết.
Ông Q có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Bà H trình bày không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không đặt ra xem xét trong vụ án.
- Về nợ chung: Bà H trình bày không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không đặt ra xem xét trong vụ án.
[6] Về điều luật áp dụng: Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
[8] Về án phí: Bà H phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo qui định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị H.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Văn Q.
Về con chung:
Giao con chung là Nguyễn Thị Tường V, sinh ngày 29/12/2018 và Nguyễn Gia K, sinh ngày 05/7/2020 cho bà Phan Thị H tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng, ông Nguyễn Văn Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông Q có quyền thăm nom hai con chung, không ai được cản trở.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về án phí: Bà Phan Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm. Bà H đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0008528 ngày 12/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo nên đã thực hiện xong.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo trình tự phúc thẩm./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Quang Minh |
Bản án số 171/2025/HNGĐ-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG về ly hôn
- Số bản án: 171/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Phan Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Văn Q. 2/ Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Thị Tường V, sinh ngày 29/12/2018 và Nguyễn Gia K, sinh ngày 05/7/2020 cho bà Phan Thị H tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng, ông Nguyễn Văn Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Ông Q có quyền thăm nom hai con chung, không ai được cản trở. 3/ Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết. 4/ Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
