|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 171/2025/HNGĐ-ST
Ngày 12 tháng 3 năm 2025
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Linh.
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Bờ - ông Nguyễn Hoàng Tuấn.
- - Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Châu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Hoàng Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 799/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Thanh H, sinh năm 1992. Nơi cư trú: Tổ G, khóm P, thị trấn Đ, huyện A, tỉnh An Giang (có mặt)
2. Bị đơn: Chị Trần Thị Thúy O, sinh năm 1993. Nơi cư trú: Số nhà C tổ B, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 24/9/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyễn Thanh H trình bày:
- Về hôn nhân: Anh H và chị O tự tìm hiểu và tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã (nay là thị trấn ), huyện A, tỉnh An Giang ngày 11/11/2019. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc; tuy nhiên, thời gian dần về sau vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, đời sống chung không hòa hợp, hôn nhân không hạnh phúc, nên vợ chồng đã ly thân nhau từ tháng 12/2021 cho đến nay. Nhận thấy tình trạng vợ chồng trầm trọng, hôn nhân không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh H yêu cầu giải quyết cho ly hôn với chị O.
- Về con chung: Anh H và chị O có 02 con chung tên Nguyễn Trần Thiên D, sinh ngày 24/7/2020 và Nguyễn Trần Thiên M, sinh ngày 08/12/2021. Hiện cả hai con chung đang chung sống với chị O. Anh H đồng ý giao cả hai con chung Nguyễn Trần Thiên D và Nguyễn Trần Thiên M cho chị O trực tiếp nuôi dưỡng. Anh H không đồng ý cấp dưỡng theo đề nghị của chị O (3.000.000đ/con/tháng), mà sẽ hỗ trợ cho con tùy theo khả năng.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh H thừa nhận vợ chồng có tài sản chung là 01 dây chuyền 05 chỉ vàng 18kara, loại vàng nữ trang, do anh H đang quản lý.
Ngoài ra, anh H thừa nhận đang cất giữ 01 dây chuyền 01 chỉ vàng 18kara, vàng này của cháu Thiên D được cho trong đám đầy tháng cháu Thiên D, vàng này anh H sẽ tự nguyện giao lại cho chị O để cất giữ cho cháu Thiên D.
- Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết
Tại phiên hòa giải, đối chất ngày 17/01/2025 và 12/02/2025, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, chị Trần Thị Thúy O trình bày:
- Về hôn nhân: Chị O và anh H tự tìm hiểu và tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã (nay là thị trấn ), huyện A, tỉnh An Giang ngày 11/11/2019. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc; tuy nhiên, thời gian dần về sau vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, đời sống chung không hòa hợp, hôn nhân không hạnh phúc, nên vợ chồng đã ly thân nhau từ tháng 12/2021 cho đến nay. Nhận thấy hôn nhân không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh H yêu cầu giải quyết cho ly hôn thì chị O đồng ý ly hôn.
- Về con chung: Chị O và anh H có 02 con chung tên Nguyễn Trần Thiên D, sinh ngày 24/7/2020 và Nguyễn Trần Thiên M, sinh ngày 08/12/2021. Hiện cả hai con chung đang chung sống với chị O. Chị O yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung Nguyễn Trần Thiên D và Nguyễn Trần Thiên M. Chị O không đồng ý giao con cho anh H nuôi dưỡng.
Yêu cầu anh H cấp dưỡng cho mỗi con chung 3.000.000đ/con/tháng, tổng cộng cấp dưỡng cho 02 con là 6.000.000đ/tháng, yêu cầu bắt đầu cấp dưỡng từ ngày 12/02/2025 cho đến khi cháu Thiên D và cháu Thiên M đủ 18 tuổi và có khả năng lao động được.
- Về tài sản chung: Chị O khai vợ chồng có các tài sản chung bao gồm: Số tiền 100.000.000 đồng có được do hốt hụi, anh H đang quản lý; 01 dây chuyền 05 chỉ 17 ly 04 vàng 18kara, anh H đang quản lý; 01 tủ thờ; 01 nồi cơm điện; 01 bếp gas; 01 loa kẹo kéo; số tiền 30.000.000 đồng có được do chị O mua bán kem. Trường hợp không tự thương lượng được thì chị O sẽ củng cố lại chứng cứ và làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ kiện khác, không yêu cầu giải quyết trong vụ án này.
Ngoài ra, còn 01 dây chuyền 01 chỉ vàng 18kara, vàng này của cháu Nguyễn Trần Thiên D được cho trong đám đầy tháng cháu Thiên D, vàng này anh H đang quản lý và sẽ giao lại cho chị O để cất giữ cho cháu Thiên D.
- Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa,
Anh H1 trình bày: Phù hợp với lời khai của mình trước khi mở phiên tòa. Anh H1 giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với chị O; đồng ý giao cả hai con chung Nguyễn Trần Thiên D và Nguyễn Trần Thiên M cho chị O trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng, anh H1 đồng ý cấp dưỡng hàng tháng cho hai con chung Thiên Di và Thiên M, với mức cấp dưỡng 2.000.000đ/con/tháng, tổng mức cấp dưỡng cho cả hai con là 4.000.000đ/tháng, bắt đầu cấp dưỡng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con đủ 18 tuổi và có khả năng lao động được.
Về tài sản chung, anh H1 thừa nhận vợ chồng có tài sản chung là 01 dây chuyền 05 chỉ vàng 18kara, loại vàng nữ trang, do anh H1 đang quản lý; anh H1 đồng ý chia đôi số vàng này và tự nguyện hoàn lại cho chị O 2,5 chỉ vàng 18kara, loại vàng nữ trang hoặc giá trị bằng tiền tương đương giá trị vàng cùng loại vào thời điểm thực hiện nghĩa vụ giao tiền. Anh H1 đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận này vào bản án.
Đối với 01 dây chuyền 01 chỉ vàng 18kara, loại vàng nữ trang của cháu Nguyễn Trần Thiên D được cho trong đám đầy tháng của cháu, vàng này do anh H1 đang quản lý. Anh H1 tự nguyện giao lại số vàng này cho chị O để quản lý, cất giữ cho cháu Thiên D hoặc anh H1 sẽ hoàn lại giá trị bằng tiền tương đương giá trị vàng cùng loại vào thời điểm thực hiện nghĩa vụ giao tiền. Anh H1 đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận này vào bản án.
Về nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị O trình bày: Phù hợp với lời khai của mình trước khi mở phiên tòa. Chị O đồng ý ly hôn với anh H1; yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung Nguyễn Trần Thiên D và Nguyễn Trần Thiên M. Thống nhất yêu cầu anh H1 cấp dưỡng hàng tháng cho hai con chung Thiên Di và Thiên M, với mức cấp dưỡng 2.000.000đ/con/tháng, tổng mức cấp dưỡng cho cả hai con là 4.000.000đ/tháng, bắt đầu cấp dưỡng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con đủ 18 tuổi và có khả năng lao động được.
Về tài sản chung, thống nhất với việc anh H1 thừa nhận vợ chồng có tài sản chung là 01 dây chuyền 05 chỉ vàng 18kara, loại vàng nữ trang, do anh H1 đang quản lý; thống nhất với anh H1 chia đôi số vàng này, anh H1 có nghĩa vụ hoàn lại cho chị O 2,5 chỉ vàng 18kara, loại vàng nữ trang hoặc giá trị bằng tiền tương đương giá trị vàng cùng loại vào thời điểm thực hiện nghĩa vụ giao tiền. Chị O đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận này của chị O và anh H1 vào bản án. Đối với các tài sản chung khác chị O không yêu cầu Tòa án giải quyết, trường hợp có tranh chấp sẽ yêu cầu giải quyết trong vụ án khác.
Đối với 01 dây chuyền 01 chỉ vàng 18kara, loại vàng nữ trang của cháu Nguyễn Trần Thiên D được cho trong đám đầy tháng của cháu, vàng này do anh H1 đang quản lý. Chị O thống nhất việc anh H1 tự nguyện giao lại số vàng này cho chị O để quản lý, cất giữ cho cháu Thiên D hoặc anh H1 sẽ hoàn lại giá trị bằng tiền tương đương giá trị vàng
cùng loại vào thời điểm thực hiện nghĩa vụ giao tiền. Chị O đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận này của chị O và anh H1 vào bản án.
Về nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án:
- - Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh H1 và chị O.
- - Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao cả hai con chung Nguyễn Trần Thiên D, sinh ngày 24/7/2020 và Nguyễn Trần Thiên M, sinh ngày 08/12/2021 cho chị O trực tiếp nuôi dưỡng.
- - Về cấp dưỡng: Buộc anh H1 có nghĩa vụ cấp dưỡng hàng tháng cho hai con chung Thiên Di và Thiên M, với mức cấp dưỡng 2.000.000đ/con/tháng, tổng mức cấp dưỡng cho cả hai con là 4.000.000đ/tháng, bắt đầu cấp dưỡng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi các cháu Thiên D, Thiên M đủ 18 tuổi và có khả năng lao động được.
- - Về tài sản chung: Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của anh H1 và chị O vào bản án như sau: Anh H1 và chị O thống nhất có tài sản chung là 01 dây chuyền 05 chỉ vàng 18kara, loại vàng nữ trang, do anh H1 đang quản lý. Anh H1 và chị O thống nhất chia đôi số vàng này, anh H1 có nghĩa vụ hoàn lại cho chị O 2,5 chỉ vàng 18kara, loại vàng nữ trang hoặc hoàn lại giá trị bằng tiền tương đương giá trị vàng cùng loại vào thời điểm thực hiện nghĩa vụ giao tiền. Đối với các tài sản khác các bên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
- - Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của anh H1 và chị O vào bản án đối với 01 dây chuyền 01 chỉ vàng 18kara, loại vàng nữ trang của cháu Nguyễn Trần Thiên D được cho trong đám đầy tháng của cháu, vàng này do anh H1 đang quản lý. Anh H1 tự nguyện giao lại số vàng này cho chị O để quản lý, cất giữ cho cháu Thiên D hoặc hoàn lại giá trị bằng tiền tương đương giá trị vàng cùng loại vào thời điểm thực hiện nghĩa vụ giao tiền.
- - Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
- - Về án phí: Đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp giữa các đương sự về việc ly hôn, bị đơn cư trú tại huyện C, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về hôn nhân: Anh H1 và chị O tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện A, tỉnh An Giang ngày 11/11/2019, nên hôn nhân được pháp luật công nhận kể từ ngày đăng ký kết hôn, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Quá trình chung sống, anh H1 và chị O có phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, đời sống chung không hòa hợp nên đã sống ly thân từ tháng 12/2021 cho đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành hòa giải để ghi nhận ý kiến, tạo điều kiện cho vợ chồng đoàn tụ, nhưng chị O và anh H1 đều yêu cầu ly hôn; cho đến nay vợ chồng vẫn sống ly thân và không thể tự hàn gắn tình cảm. Tại phiên tòa, anh H1 và chị O thuận tình ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh H1 và chị O theo quy định tại Điều 55 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Về con chung: Anh H1 và chị O có 02 con chung Nguyễn Trần Thiên D, sinh ngày 24/7/2020 và Nguyễn Trần Thiên M, sinh ngày 08/12/2021, cả hai con đang do chị O trực tiếp nuôi dưỡng. Anh H1 và chị O thống nhất giao cả hai con chung Thiên D và Thiên M cho chị O trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con của anh H1 và chị O đảm bảo được quyền lợi về mọi mặt của con, nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao cả hai con chung Thiên D và Thiên M cho chị O trực tiếp nuôi dưỡng. Chị O phải tạo điều kiện cho anh H1 trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định pháp luật.
[4] Về cấp dưỡng: Tại phiên tòa, anh H1 và chị O thống nhất anh H1 có nghĩa vụ cấp dưỡng hàng tháng cho hai con chung Thiên Di và Thiên M, với mức cấp dưỡng 2.000.000đ/con/tháng, tổng mức cấp dưỡng cho cả hai con là 4.000.000đ/tháng, bắt đầu cấp dưỡng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi các cháu Thiên D, Thiên M đủ 18 tuổi và có khả năng lao động được. Xét thấy, thỏa thuận về mức cấp dưỡng của anh H1 và chị O “không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con” (hiện nay lương tối thiểu vùng tại địa bàn huyện A, nơi anh H1 đang cư trú, là 3.450.000 đồng), nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt trong các trường hợp quy định tại Điều 118 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[5] Về tài sản chung: Tại phiên tòa, anh H1 và chị O thống nhất có tài sản chung là 01 dây chuyền 05 chỉ vàng 18kara, loại vàng nữ trang, do anh H1 đang quản lý. Anh H1 và chị O thống nhất đã tự thỏa thuận với nhau trước khi mở phiên tòa về việc chia đôi số vàng này, anh H1 có nghĩa vụ hoàn lại cho chị O 2,5 chỉ vàng 18kara, loại vàng nữ trang hoặc hoàn lại giá trị bằng tiền tương đương giá trị vàng cùng loại vào thời điểm thực hiện nghĩa vụ giao tiền. Anh H1 và chị O yêu cầu ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận này vào bản án. Xét thấy, sự thỏa thuận này là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử chấp nhận ghi nhận sự thỏa thuận này vào phần quyết định của bản án. Đối với các tài sản khác các bên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét; trường hợp có tranh chấp sẽ được giải quyết trong vụ án khác theo quy định pháp luật.
[6] Đối với 01 dây chuyền 01 chỉ vàng 18kara, loại vàng nữ trang của cháu Nguyễn Trần Thiên D được cho trong đám đầy tháng của cháu, vàng này do anh H1 đang quản lý. Trước khi Tòa án tiến hành hòa giải, anh H1 và chị O thống nhất tự thỏa thuận với nhau về việc anh H1 sẽ giao lại số vàng này cho chị O để quản lý, cất giữ cho cháu Thiên D hoặc hoàn lại giá trị bằng tiền tương đương giá trị vàng cùng loại vào thời điểm thực hiện nghĩa vụ giao tiền. Anh H1 và chị O yêu cầu ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận này vào bản án. Xét thấy, sự thỏa thuận này là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định tại Điều 76 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận ghi nhận sự thỏa thuận này vào phần quyết định của bản án.
[7] Về nợ chung: Các đương sự thống nhất khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp các đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết trong vụ án khác.
[6] Về án phí:
Anh H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn (300.000 đồng), về việc cấp dưỡng (300.000 đồng) và án phí đối với tài sản chung anh H1 được chia (2,5 chỉ vàng 18kara, loại vàng nữ trang - giá vàng để tính án phí tại thời điểm xét xử là 6.900.000 đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh H1 đã nộp, theo quy định tại điểm a, đ khoản 5 và điểm b khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Chị O phải chịu án phí đối với tài sản chung chị O được chia (2,5 chỉ vàng 18kara, loại vàng nữ trang - giá vàng để tính án phí tại thời điểm xét xử là 6.900.000 đồng) theo quy định tại điểm đ khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Đối với 01 dây chuyền 01 chỉ vàng 18kara, loại vàng nữ trang của cháu Nguyễn Trần Thiên D, trước khi Tòa án tiến hành hòa giải, anh H1 và chị O tự thỏa thuận với nhau về việc anh H1 sẽ giao lại cho chị O để quản lý, cất giữ cho cháu Thiên D và yêu cầu ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận này vào bản án. Xét thấy, đây là sự thỏa thuận về người quản lý tài sản riêng của con theo Điều 76 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, các bên không có tranh chấp nên không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, các điều 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các điều 9, 19, 33, 55, 58, 59, 76, 81, 110, 116, 117 và 118 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Điều 13 của Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Căn cứ vào điểm a, đ khoản 5 và điểm b khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Thanh H và chị Trần Thị Thúy O.
2. Về con chung:
- Giao cả hai con chung Nguyễn Trần Thiên D, sinh ngày 24/7/2020 và Nguyễn Trần Thiên M, sinh ngày 08/12/2021 cho chị Trần Thị Thúy O trực tiếp nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng: Anh Nguyễn Thanh H có nghĩa vụ cấp dưỡng hàng tháng cho hai con chung Nguyễn Trần Thiên D và Nguyễn Trần Thiên M, với mức cấp dưỡng cho mỗi con là 2.000.000 đồng/tháng (hai triệu đồng trên tháng), tổng mức cấp dưỡng cho cả hai con là 4.000.000 đồng/tháng (bốn triệu đồng trên tháng), bắt đầu cấp dưỡng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Thiên D, cháu Thiên M đủ 18 tuổi và có khả năng lao động được. Nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt trong các trường hợp khác quy định tại Điều 118 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình của mình, không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ, người thân thích của con hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
3. Về tài sản chung: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của anh Nguyễn Thanh H và chị Trần Thị Thúy O về việc chia đôi 01 (một) dây chuyền 05 (năm) chỉ vàng 18kara, loại vàng nữ trang. Anh H có nghĩa vụ hoàn lại cho chị O 2,5 (hai phẩy năm) chỉ vàng 18kara, loại vàng nữ trang hoặc hoàn lại giá trị bằng tiền tương đương với giá trị vàng cùng loại vào thời điểm thực hiện nghĩa vụ giao tiền.
4. Về quản lý tài sản riêng của con chung Nguyễn Trần Thiên D: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của anh Nguyễn Thanh H và chị Trần Thị Thúy O về việc anh H có nghĩa vụ giao lại cho chị O 01 (một) dây chuyền 01 (một) chỉ vàng 18kara, loại vàng nữ trang hoặc giao giá trị bằng tiền tương đương với giá trị vàng cùng loại vào thời điểm thực hiện nghĩa vụ giao tiền.
5. Về nợ chung: Anh H và chị O khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp các bên có tranh chấp sẽ được giải quyết trong vụ án khác theo quy định pháp luật.
6. Về án phí:
- Anh Nguyễn Thanh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), về việc cấp dưỡng là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), về việc chia tài sản chung là 431.000 đồng (bốn trăm ba mươi mốt nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0009196 ngày 16 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Anh H còn phải nộp số tiền án phí là 731.000 đồng (bảy trăm ba mươi mốt nghìn đồng).
- Chị Trần Thị Thúy O phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc chia tài sản chung là 431.000 đồng (bốn trăm ba mươi mốt nghìn đồng).
7. Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Thanh H và chị Trần Thị Thúy O có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Linh |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Ngọc Bờ Nguyễn Hoàng Tuấn |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Linh |
Bản án số 171/2025/HNGĐ-ST ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 171/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: cho ly hôn
