Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 171/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 04-04-2025

V/v Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đặng Tấn Đức
  2. Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Hải – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Lan – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 780/2024/TLST-HNGĐ ngày 04/10/2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 216/2025/QĐST-HNGĐ ngày 06/03/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Thu H - sinh năm 1991(Có mặt)

Địa chỉ: Số B Đ, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Đoàn Bá C - sinh năm 1979 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số B T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 12/07/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Phạm Thị Thu H trình bày:

Bà và ông Đoàn Bá C tự nguyện đến với nhau. Hai bên có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2016. Sau khi cưới vợ chồng thuê nhà sinh sống nhiều nơi tại quận T. Thời gian đầu vợ chồng chung sống có hạnh phúc nhưng về sau phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp, cãi vã. Kinh tế gia đình khó khăn nhưng ông C không lo làm ăn, thích đi chơi. Vợ chồng không chia sẻ những khó khăn trong cuộc sống. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng dẫn đến vợ chồng không sống chung nhà từ năm 2019 đến nay. Nay bà nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm, đời sống chung không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông C.

Về quan hệ con chung: Có 01 con chung là trẻ tên Đoàn Bá P- sinh ngày 02/11/2016. Bà yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu ông C đóng góp cấp dưỡng nuôi con.

Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Bà khai không có

Tại phiên tòa hôm nay:

Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn ông Đoàn Bá C nhưng ông C vẫn vắng mặt. Ông C không có lời khai, cũng như Tòa án không tiến hành hòa giải được. Do đó Tòa án vẫn đưa vụ án ra xét xử theo luật định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú phát biểu quan điểm:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết : Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà H, xác định quan hệ tranh chấp về ly hôn. Do bị đơn cư trú tại quận T nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Phú.

Thời hạn tố tụng: Thẩm phán thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Về người tham gia tố tụng : Xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng.

Về thu thập chứng cứ : Thu thập chứng cứ đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án : Nguyên đơn bà Phạm Thị Thu H khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bị đơn ông Đoàn Bá C. Căn cứ lời khai và các chứng cứ thu thập được thể hiện vợ chồng bà H, ông C chung sống với nhau có xảy ra mâu thuẫn. Hiện tại bà H thừa nhận vợ chồng không sống chung nhà nên thiếu sự quan tâm, chia sẻ và chăm sóc lẫn nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Ông C không đến Tòa án để trình bày ý kiến về quan hệ hôn nhân, điều này thể hiện ông C không mong muốn hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, yêu cầu xin ly hôn của bà H là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về quan hệ con chung : Bà H khai có một con chung là trẻ Đoàn Bá P- sinh ngày 02/11/2016. Bà yêu cầu được nuôi trẻ P, không yêu cầu ông C đóng góp cấp dưỡng nuôi con. Bà H thừa nhận hiện nay trẻ P đang do bà trực tiếp nuôi dưỡng. Ngoài ra, trẻ P có nguyện vọng được ở với mẹ. Căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin được nuôi con chung của bà H.

Về Tài sản chung và nợ chung : Bà khai không có, nên không xem xét giải quyết. Nếu ông C có chứng cứ chứng minh giữa ông với bà H có tài sản chung và nợ chung thì được giải quyết trong vụ kiện khác khi các bên có yêu cầu.

Tại phiên tòa sơ thẩm, thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký chấp hành đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, các đương sự thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Xét đơn khởi kiện của bà Phạm Thị Thu H, Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ tranh chấp về “Ly hôn”. Do ông C hiện đang cư ngụ tại quận T nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục xét xử vắng mặt:

Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Đoàn Bá C nhưng ông C vẫn vắng mặt. Căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông C theo quy định.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên Tòa sơ thẩm hôm nay bị đơn ông Đoàn Bá C không có mặt để trình bày lời khai và cung cấp chứng cứ, mặt dù đã được Tòa án thực hiện các thủ tục tống đạt hợp lệ. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào những chứng cứ, yêu cầu của phía nguyên đơn bà H để xem xét giải quyết vụ án.

[3] Về yêu cầu của đương sự:

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 70/2016 do Ủy ban nhân dân phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 15/06/2016, quan hệ hôn nhân giữa bà Phạm Thị Thu H và ông Đoàn Bá C là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận. Bà H nhận thấy vợ chồng không thể chung sống với nhau được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó bà H yêu cầu được ly hôn với ông C.

Căn cứ vào lời khai của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án, các chứng cứ được thẩm tra tại phiên tòa thể hiện: Thời gian bà H, ông C chung sống với nhau có phát sinh mâu thuẫn. Bà H, ông C không sống chung nhà nên vợ chồng không trao đổi, quan tâm, chia sẻ những khó khăn trong cuộc sống. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà H, ông C đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Mặt khác, ông C không đến Tòa án để trình bày lời khai, cũng như ý kiến của mình về quan hệ hôn nhân giữa hai bên, thể hiện ông C chưa thật sự thiết tha hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Xét thấy, tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình quy định “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Thực tế bà H, ông C không còn thực hiện nghĩa vụ của vợ chồng. Căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, yêu cầu xin ly hôn của bà H đối với ông C là có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về quan hệ con chung: Xét, bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung là trẻ Đoàn Bá P – sinh ngày 02/11/2016 . Bà H không yêu cầu ông C đóng góp cấp dưỡng nuôi con.

Hội đồng xét xử xét thấy, ông C không đến Tòa án để trình bày lời khai nên không có cơ sở để xem xét ý kiến của ông đối với con chung. Tuy nhiên việc xem xét giao con chung cho ai nuôi dưỡng thì phải xuất phát từ lợi ích mọi mặt của con, để trẻ phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức. Mặt khác, trẻ P hiện đang sinh sống cùng bà H và có nguyện vọng được ở với mẹ. Do đó để tránh xự xáo trộn về tâm lý cũng như nơi ở của trẻ. Căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, yêu cầu của bà H là có cơ sở để chấp.

Về tài sản chung và nợ chung : Bà H khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu ông C có chứng cứ cho rằng hai bên có tài sản chung và nợ chung thì được giải quyết bằng vụ án khác khi các bên có yêu cầu.

[4]Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 28; điểm b khoản 1 Điều 35;điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 227; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự ;
  • - Điều 56, 81, 82, 83, 84, 116, 117 của Luật Hôn nhân và gia đình
  • - Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Thu H.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Thu H được ly hôn với ông Đoàn Bá C. Quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông C theo Giấy chứng nhận kết hôn số 70/2016 do Ủy ban nhân dân phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 15/06/2016, chấm dứt kể từ ngày Bản án ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Về quan hệ con chung: Giao con chung là trẻ Đoàn Bá P, sinh ngày 02/11/2016 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông C do bà H chưa có yêu cầu .

Ông C có quyền, nghĩa vụ thăm con mà không ai được cản trở.

Bà H cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở ông C trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Trong trường hợp ông C lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà H có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ông C.

Trong trường hợp bà H không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì trên cơ sở lợi ích của con, ông C hoặc người thân thích, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung : Bà H khai không có.

  1. Án phí dân sự sơ thẩm: 300.000đồng bà Phạm Thị Thu H chịu được trừ vào số tiền 300.000đồng mà bà H đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0040424 ngày 04/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Phú.

Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

  1. Quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP .HCM ;
  • - VKSND TP. HCM ;
  • - VKSND Q.Tân Phú;
  • - Chi cục THA DS Q. Tân phú ;
  • - UBND P.Tân Sơn Nhì, Q. Tân Phú,
  • TP. Hồ Chí Minh ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Ký tên, đóng dấu)

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 171/2025/HNGĐ-ST ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 171/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xét xử
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger