|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 171/2025/DS-PT Ngày 10 - 6 - 2025 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Lâm Sơn
Các Thẩm phán: Ông Lê Quang Tấn
Bà Đặng Thị Bích Vân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Xương- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Văn Đương - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 93/2025/TLPT-DS ngày 14 tháng 5 năm 2025, về tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 31/2025/DS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 140/2025/QĐ-PT ngày 26 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Đỗ Hồng T (Y), sinh năm 1963; địa chỉ: Số B, đường L, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Văn C, sinh năm 1959; địa chỉ: Số B, đường L, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang, (theo văn bản ủy quyền ngày 20/11/2024) (có mặt).
- - Bị đơn: Ông Thái Chí D, sinh năm 1968; địa chỉ: Số B, đường Q, khu phố V, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
- - Người kháng cáo: ông Thái Chí D – bị đơn.
- Viện kiểm sát kháng nghị: Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện vụ án dân sự đề ngày 20/6/2024 và trong quá trình tố tụng, ông Trần Văn C là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Đỗ Hồng T trình bày:
Vào ngày 09/5/2016 bà T đã cho ông Thái Chí D vay số tiền gốc là 56.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận 2%/tháng, thời hạn vay là 01 năm; việc vay tiền không có thế chấp tài sản; hai bên có lập biên nhận ghi ngày 09/5/2016 do ông D tự viết và ký tên, ghi họ tên xác nhận.
Quá trình vay ông D đóng lãi đến tháng 11/2017 theo mức lãi suất 2%/tháng, với số tiền là 20.160.000 đồng thì ngưng trả cho đến nay. Nhiều lần bà T yêu cầu ông D trả nợ nhưng ông D chỉ hứa hẹn và nói không có khả năng và cũng không có phương án trả nợ. Do đó, bà T khởi kiện đến Tòa án thành phố R.
Quá trình tố tụng và tại phiên tòa ông C yêu cầu:
Yêu cầu ông Thái Chí D phải trả cho bà T số tiền nợ gốc là 56.000.000 đồng (Năm mươi sáu triệu đồng) và lãi suất tính theo quy định pháp luật, tạm tính lãi từ ngày 10/5/2016 đến ngày 31/3/2025 tính tròn là 106 tháng, theo mức lãi suất 1,66%, cụ thể: 56.000.000 đồng x 1,66% x 105 tháng = 97.608.000 đồng. Bà T đồng ý khấu trừ số tiền lãi mà ông D đã đóng là 20.160.000 đồng. Như vậy, ông D còn phải trả cho bà T số tiền lãi là 77.448.000 đồng. Tổng cộng gốc và lãi là 133.448.000 đồng.
Bị đơn ông Thái Chí D trình bày:
Tôi xác nhận có vay của bà T số tiền gốc là 56.000.000 đồng, cụ thể: Lần thứ nhất vay 30.000.000 đồng, mỗi tháng đóng 3.000.000 đồng, trả được 02 tháng tiền lãi là 6.000.000 đồng. Lần thứ hai vay số tiền 26.000.000 đồng. Tổng cộng 02 lần là 56.000.000 đồng, tiền lời mỗi tháng là 3.500.000 đồng, trả được 06 tháng tiền lãi là số tiền là 21.000.000 đồng; sau đó bà T giảm tiền lãi xuống còn 2.500.000 đồng mỗi tháng; đến tháng 10 và tháng 11/2017 tôi trả mỗi tháng 1.500.000 đồng thì ngưng trả cho đến nay. Sau đó, vợ chồng bà T (chồng bà T là bạn thân có đến nhà tôi để thương lượng, lúc này tôi có nói với bà T là không tính lãi nữa và cho tôi trả tiền gốc mỗi tháng từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng nhưng vợ chồng bà không nói gì mà bỏ về. Do tôi đã về hưu nên đến nay không có khả năng để trả nợ cho bà T nên bà T khởi kiện đến Tòa án thành phố R.
Tại phiên tòa ông D yêu cầu:
Tôi thừa nhận và đồng ý trả cho bà T số tiền gốc là 56.000.000 đồng. Tuy nhiên, do đã về hưu, không làm gì ra tiền nên xin trả dần mỗi tháng 1.000.000 đồng và xin không trả lãi.
* Tại bản án dân sự sơ thẩm số 31/2025/DS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang đã tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đỗ Hồng T (Y) đối với bị đơn ông Thái Chí D, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
- Buộc ông Thái Chí D phải trả cho bà Đỗ Hồng T (Y) số tiền gốc là 56.000.000 đồng và tiền lãi là 78.377.600 đồng. Tổng cộng gốc và lãi là 134.377.600đ (Một trăm ba mươi bốn triệu ba trăm bảy mươi bảy ngàn sáu trăm đồng).
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, lãi suất chậm trả và báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
Ngày 14 tháng 4 năm 2025 bị đơn ông Thái Chí D có đơn kháng cáo yêu cầu: Ông được trả dần tiền gốc cho bà T mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi đủ 56.000.000 đồng; không tiếp tục trả lãi nữa vì ông đã đóng tiền lãi nhiều, hiện nay ông không làm gì ra tiền, mang nhiều bệnh hàng tháng còn phải đi lấy thuốc nên không có khả năng trả tiền lãi.
Viện kiểm sát nhân dân nhân thành phố R kháng nghị:
Kháng nghị một phần bản sơ thẩm số 31/2025/DS-ST ngày 31/3/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang về tính lãi suất không đúng quy định tại điểm c khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Căn cứ hướng dẫn trên, cần áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 476 Bộ luật dân sự 2005 quy định về lãi suất, để tính lãi suất trên số tiền nợ gốc 56.000.000 đồng. Do có vi phạm trong việc tính lãi mà bị đơn ông D phải trả cho bà T nên dẫn đến thiếu sót việc tính số tiền án phí dân sự sơ thẩm mà bị đơn ông D có nghĩa vụ phải nộp trong vụ án.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn thống nhất nội dung kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân nhân thành phố R, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm về lãi suất.
- Bị đơn vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và yêu cầu chỉ trả tiền vay gốc và xin trả dần do hoàn cảnh gia đình khó khăn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tại phiên tòa vẫn giữ nguyên nội dung kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân nhân thành phố R và phát biểu:
- - Về tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của các bên đương sự, từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án đã thực hiện và chấp hành đúng theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận nội dung kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân nhân thành phố Rạch Giá, không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn và sửa một phần bản án sơ thẩm về tính mức lãi suất.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến của đương sự, đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- [1] Xét việc các bên cho vay nợ trước thời điểm Bộ luật dân sự 2015 có hiệu lực pháp luật ngày 01/7/2016, nhưng về nội dung và hình thức cho vay nợ giữa các bên phù hợp với Bộ luật dân sự 2015 quy định về cho vay và đang thực hiện. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự 2015 quy định về Điều khoản chuyển tiếp để áp dụng quy định của Bộ luật dân sự 2015 giải quyết.
- [2] Xét nội dung kháng cáo của ông D xin trả nợ dần và không chịu trả thêm khoản tiền lãi do đóng lãi nhiều, hoàn cảnh khó khăn, Hội đồng xét xử xét về khoản tiền vay nợ các bên đều thừa nhận ông D có vay bà T số tiền 56.000.000 đồng, lời thừa nhận này phù hợp với biên nhận ông D vay nợ, nên căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì phía bà T không phải chứng minh.
Về phía ông D cho rằng ông đã trả lãi nhiều nên không trả tiền lãi nữa, nhưng ông không cung cấp được chứng cứ trả lãi nên không có cơ sở pháp lý để Hội đồng xét xử xem xét theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 về nghĩa vụ chứng minh. Đối với yêu cầu xin trả nợ dần, Hội đồng xét xử đã hòa giải, nhưng đại diện theo ủy quyền của bà T không đồng ý nên không thể ghi nhận, trường hợp ông D có hoàn cảnh khó khăn thì yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xem xét theo thẩm quyền trong giai đoạn thi hành án.
- [3] Xét nội dung kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân nhân thành phố R, Hội đồng xét xử xét việc các bên đương sự cho vay không thỏa thuận mức lãi suất bằng văn bản, trong khi lời khai của các bên trình bày mức lãi suất cho vay khác nhau và có tranh chấp về mức lãi suất, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng mức lãi suất cho vay 20%/năm theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 là không đúng quy định tại điểm c khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm và tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ”, như vậy, mức lãi suất tính trong trường hợp này là 10%/năm (50%x 20%/năm), do đó Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá và sửa bản án sơ thẩm phần này đồng thời rút kinh nghiệm với Tòa án cấp sơ thẩm.
Lãi suất được tính từ ngày 10/5/2016 đến ngày 31/3/2025 (ngày xét xử sơ thẩm) như sau:
56.000.000 đồng x 0,83%/ tháng x 106 tháng = 49.268.800 đồng, tính tròn 49.269.000 đồng.
Khấu trừ số tiền lãi ông D đã đóng 20.168.000 đồng, phía ông D phải trả tiền lãi cho bà T là: 49.269.000 đồng - 20.168.000 đồng = 29.101.000 đồng.
Như vậy tổng cộng số tiền nợ ông D có nghĩa vụ trả cho bà T là:
56.000.000 đồng + 29.101.000 đồng = 85.101.000 đồng.
Do bản án sơ thẩm bị sửa, căn cứ khoản 2 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án cấp phúc thẩm xác định lại nghĩa vụ chịu án phí của ông D như sau:
85.101.000 đồng x 5% = 4.255.050 đồng, tính tròn: 4.255.000 đồng.
Từ cơ sở nhận định trên, trong thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất không chấp nhận nội dung kháng cáo của ông D, chấp nhận nội dung kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân nhân thành phố R và đề nghị của vị đại diện Viện Kiểm sát về việc sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm về lãi suất.
[2] Về án phí dân sự phúc thẩm, phía ông D không phải chịu do Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Không chấp nhận nội dung kháng cáo của ông Thái Chí D.
Chấp nhận nội dung kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân nhân thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
Sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 31/2025/DS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
Áp dụng Điều 91, 92 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; các Điều 463, 466, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015; Khoản 1 Điều 26, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đỗ Hồng T (Y) đối với bị đơn ông Thái Chí D, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
- Buộc ông Thái Chí D phải trả cho bà Đỗ Hồng T (Y) số tiền vay gốc là 56.000.000 đồng và tiền lãi là 29.101.000 đồng. Tổng cộng gốc và lãi là 85.101.000 đồng (T1 mươi lăm triệu một trăm lẻ một nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong khoản tiền, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí dân sự:
- - Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Thái Chí D phải chịu nộp tiền án phí giá ngạch là: 4.255.000 đồng (Bốn triệu hai trăm năm mươi lăm nghìn đồng).
- Nguyên đơn bà Đỗ Hồng T là người cao tuổi được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- - Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Thái Chí D không phải chịu nộp tiền án phí 300.000 đồng, hoàn trả số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm ông D đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0014458 ngày 17/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Lâm Sơn |
Bản án số 171/2025/DS-PT ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 171/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án T - D
