|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM ĐỘC LẬP - TỰ DO - HẠNH PHÚC ---------- |
|
Bản án số: 171/2024/HSST Ngày: 23+26/08/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần hội đồng xét xử gồm có:
| Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: | Bà Nguyễn Thị Kim Liên. |
| Hội thẩm nhân dân | : Bà Nguyễn Thị Hoa. |
| Ông Hoàng Văn Long. |
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Từ Ngọc Thúy - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì: Ông Tô Xuân Tùng – Kiểm sát viên.
Ngày 23 + 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 159/2024/HSST ngày 25/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 159 ngày 30 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
-
Họ và tên: Trần Văn P, sinh năm 1953; Nơi cư trú: H198, tổ A, T, quận Đ, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 7/10; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam: T: Không; Con ông: Trần Văn S (đã chết); Con bà: Đặng Thị T (đã chết) ; Anh, chị, em ruột: gia đình bị cáo có 07 anh chị em, bị cáo là con lớn trong gia đình; Có vợ: Lê Thị T1 (đã chết). Danh chỉ bản số 330 ngày 15/5/2024 công an huyện T lập. Tiền án: không, tiền sự: không. Nhân thân: 06 tiền sự (đã hết thời hiệu); Ngày 08/6/1972, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù giam về tội “trộm cắp tài sản” (đã xóa án tích); Ngày 20/11/1990, bị cáo bị Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng xử phạt 12 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” (đã xóa án tích); Ngày 04/11/1992, bị cáo bị Tòa án nhân dân quận Ba Đình xử phạt 18 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” (đã xóa án tích). Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ kể từ ngày 05/05/2024 đến ngày 08/05/2024 hủy bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giữ. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại - Có mặt tại phiên toà.
-
Họ và tên: Hoàng Ngọc S1 - sinh năm 1962; Nơi cư trú: Tổ C, T, N, Hà Nội. Nghề nghiệp: hưu trí; Trình độ văn hoá: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam, Tôn giáo: Không; Con ông: Hoàng Văn K (đã chết); Con bà: Phùng Thị Đ (đã chết); Anh chị em ruột, gia đình bị cáo có 02 anh chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Có vợ là Nguyễn Thị H; có 02 con, sinh năm: 1994 và năm 2007. D chỉ bản số 363 ngày 18/5/2024 công an huyện T lập. Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân có 01 tiền sự năm 2011, bị cáo S1 bị xử phạt hành chính (đã xóa).
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 05/05/2024, được thay thế biện pháp ngăn chặn. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại - Có mặt tại phiên toà.
-
Họ và tên: Lê Văn T2 - sinh năm 1985; Nơi cư trú: Ngõ A, đường K, phường Đ, quận H, Hà Nội. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không. Con ông: Lê Văn X, Con bà: Mai Thị H1. Gia đình bị cáo có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ hai. Có vợ là Nguyễn Thị S2; có 02 con, sinh năm: 2006 và 2016. D chỉ bản số 331 ngày 15/5/2024 công an huyện T lập. Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 5/5/2024 đến ngày 08/5/2024 được huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giữ. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại - Có mặt tại phiên toà.
-
Họ và tên: Đỗ Đăng L - sinh năm 1981; Nơi cư trú: Thôn H, B, P, Hà Nội. Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hoá: 4/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam, Tôn giáo: Không; Con ông: Đỗ Đăng S3; Con bà: Nguyễn Thị H2; Anh chị em ruột. Gia đình bị cáo có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ hai; Có vợ là: Nguyễn Thị M, có 02 con, con lớn sinh năm: 2004, con nhỏ sinh năm 2012. D chỉ bản số 329 ngày 15/5/2024 công an huyện T lập. Tiền án; Tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 05/05/2024 đến ngày 08/05/2024, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giữ. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại - Có mặt tại phiên toà.
-
Họ và tên: Vũ H3 - sinh năm 1967; Nơi cư trú: Thôn C, T, T, Hà Nội. Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hoá: 5/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam, Tôn giáo: Không; Con ông: Vũ Lộc (đã chết); Con bà: Đặng Thị G (đã chết); Gia đình bị cáo có 02 anh chị em, bị cáo là con thứ hai. Có vợ là: Nguyễn Thị M1, có 02 con, con nhỏ sinh năm 1995, con lớn sinh năm 1988. D chỉ bản số 332 ngày 15/5/2024 công an huyện T lập. Tiền án; Tiền sự: không.
Bị cáo bị quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 5/5/2024 đến ngày 8/5/2024, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giữ. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú - Có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau.
Hồi 17 giờ 00 phút ngày 05/05/2024, tại nhà quản trang nghĩa trang Đ1, T, T, Hà Nội, thuộc quyền quản lý của Vũ H3, Công an xã T phối hợp cùng Tổ công tác đội hình sự - Công an huyện T phát hiện bắt quả tang Hoàng Ngọc S1, Trần Văn P, Lê Văn T2, Đỗ Đăng L đang đánh bạc dưới hình thức đánh “tá lả” sát phạt nhau bằng tiền. Tang vật thu giữ gồm: 2 bộ bài tú lơ khơ mỗi bộ 52 quân; Số tiền đánh bạc là 11.475.000 đồng, trong đó thu giữ dưới chiếu bạc số tiền 4.250.000 đồng, 200.000đ tiền “gà” và thu giữ trong người các đối tượng tổng số tiền là 7.025.000 đồng. Ngoài ra, tại nhà quản trang Đ còn có Vũ H3, Vũ Xuân K1 ngồi xem các đối tượng trên đánh bạc.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện T, Hoàng Ngọc S1, Trần Văn P, Lê Văn T2, Đỗ Đăng L, Vũ H3 khai nhận: Khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, Trần Văn P, Lê Văn T2, Hoàng Ngọc S1, Đỗ Đăng L cùng rủ nhau chơi đánh bạc dưới hình thức đánh “tá lả” ăn tiền. Sau đó, mọi người đến nghĩa trang Đ1, T, T, Hà Nội và hỏi H3 cho mọi người chơi đánh bạc trong nhà quản trang (do Vũ H3 là người quản lý cầm chìa khóa cửa), H3 đồng ý mở cửa cho chơi. Trước khi chơi, P đi mua 02 bộ bài tú lơ khơ mỗi bộ E quân rồi P, S1, T2, L thống nhất cách thức đánh bạc như sau: Các bị can sử dụng 02 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, người nào thắng trong mỗi ván bài sẽ chia thành 04 phần cho mỗi người chơi 9 quân, người chia bài thì sẽ được thêm 1 quân rồi bắt đầu đánh theo vòng. Các đối tượng quy ước tỉ lệ thắng thua là: 50.000 đồng; 100.000 đồng; 150.000 đồng; 200.000 đồng tức là người về nhất sẽ được của người về nhì số tiền 50.000 đồng, được của người về ba số tiền là 100.000 đồng và được người về cuối số tiền 150.000 đồng, nếu ai móm tức là không có phỏm trên bài thì sẽ bị thua số tiền 200.000 đồng, ai bị ăn quân chốt (quân hạ bài) thì bị thua số tiền 200.000 đồng, nếu ai ù (tức được 3 phỏm) thì sẽ được của những người chơi còn lại số tiền 300.000 đồng. Quá trình chơi đánh bạc các bị can thống nhất nếu ai Ù thì bỏ ra số tiền 50.000 đồng (tiền gà) để sau khi kết thúc việc đánh bạc sẽ đưa cho Vũ H3 là người dọn dẹp ở địa điểm các đối tượng đánh bạc. P, S1, T2, L chơi đánh bạc đến 17h cùng ngày 05/05/2024 thì bị Cơ quan công an bắt quả tang, thu giữ tang vật.
Hoàng Ngọc S1, Trần Văn P, Lê Văn T2, Đỗ Đăng L, Vũ H3 khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên và số tiền dùng để đánh bạc của từng người cụ thể như sau:
Hoàng Ngọc S1 sử dụng 3.160.000 đồng để đánh bạc khi bị bắt quả tang Cơ quan công an thu giữ tại chỗ S1 ngồi số tiền 1.200.000 đồng, thu giữ trong người S1 số tiền 2.500.000 đồng; nếu thua hết số tiền trước mặt thì S1 bỏ tiếp số tiền trong người và chơi tiếp.
Trần Văn P sử dụng 3.490.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt quả tang Cơ quan công an thu giữ tại chỗ P ngồi số tiền 650.000 đồng, thu giữ trong người Phúc số tiền 2.830.000 đồng; nếu thua hết số tiền trước mặt thì P bỏ tiếp số tiền trong người và chơi tiếp.
Lê Văn T2 sử dụng khoảng 3.165.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt quả tang Cơ quan công an thu giữ tại chỗ T2 ngồi số tiền 1.250.000 đồng, thu giữ trong người Tài số tiền 1.545.000 đồng; nếu thua hết số tiền trước mặt thì T2 bỏ tiếp số tiền trong người và chơi tiếp.
Đỗ Đăng L sử dụng khoảng 1.660.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt quả tang Cơ quan công an thu giữ tại chỗ L ngồi số tiền 1.150.000 đồng, thu giữ trong người L số tiền 150.000 đồng; nếu thua hết số tiền trước mặt thì L bỏ tiếp số tiền trong người và chơi tiếp.
Đối với Vũ Xuân K1 quá trình điều tra xác định K1 chỉ ngồi xem không tham gia đánh bạc nên Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện T không xử lý.
Tại bản cáo trạng: số 156/CT -VKS-TT ngày 23/7/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố các bị cáo Trần Văn P, Hoàng Ngọc S1, Lê Văn T2, Đỗ Đăng L, Vũ H3 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 - Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà: Các bị cáo đều khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra. Cả năm bị cáo đều thừa nhận nội dung Bản cáo trạng là hoàn toàn đúng với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện. Các bị cáo thấy được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, thành khẩn ăn năn hối cải, hứa sẽ sửa chữa và đề nghị Tòa xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Trần Văn P, Hoàng Ngọc S1, Lê Văn T2, Đỗ Đăng L, Vũ Hải t “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 – Bộ luật hình sự như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38- Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Văn P.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s, i khoản 1 Điều 51, Điều 38 - Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Hoàng Ngọc S1.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s, i khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 - Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Đỗ Đăng L.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 - Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Lê Văn T2.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1,2 Điều 51, Điều 65 - Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Vũ H3.
Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn P từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án và được trừ các ngày tạm giữ từ ngày 5/5/2024 đến ngày 8/5/2024.
Đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc S1 từ 9 đến 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Văn T2 từ 9 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ 18 đến 24 tháng.
Đề nghị xử phạt bị cáo Đỗ Đăng L từ 9 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ 18 đến 24 tháng.
Đề nghị xử phạt bị cáo Vũ H3 từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ 24 đến 30 tháng.
Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu huỷ 02 bộ bài tú lơ khơ mỗi bộ 52 quân.
Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền của các bị cáo dùng để đánh bạc là 11.475.000 đồng.
Các bị cáo không có việc làm ổn định, không có thu nhập, do đó đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; Căn cứ kết quả thẩm tra chứng cứ và xét hỏi tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận công khai tại phiên toà. Trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
-
Về hành vi tố tụng của Cơ quan CSĐT - Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh trì, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo đã xuất trình tài liệu, chứng cứ phù hợp với các quy định của pháp luật. Các bị cáo không có ý kiến gì hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiền hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
-
Về tội danh: Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của các đối tượng liên quan đến vụ án, tang vật chứng thu giữ với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì.
Hội đồng xét xử có đầy đủ kết luận: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 05/5/2024, tại nhà Q, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội do Vũ H3 là người quản lý. Tại đây, Vũ H3 đã đồng ý cho Hoàng Ngọc S1, Trần Văn P, Lê Văn T2, Đỗ Đăng L đánh bạc dưới hình thức “Tá lả” sạt phạt bằng tiền thì bị Công an xã T phối hợp với tổ công tác đội hình sự- Công an huyện T bắt quả tang và thu giữ tang vật gồm 02 bộ bài tú lơ khơ mỗi bộ 52 quân; số tiền đánh bạc là 11.475.000đồng trong đó thu dưới chiếu là 4.250.000đồng, thu trong người các bị cáo là 7.025.000đồng và 200.000đồng là tiền gà mà các bị cáo bỏ ra trả công cho H3.
[1] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội, cờ bạc là tệ nạn mà Nhà nước đang kiên quyết loại trừ, là nguyên nhân làm tan vỡ hạnh phúc gia đình, xói mòn giá trị đạo đức và là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Do đó cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, cải tạo răn đe và đấu tranh phòng ngừa chung.
[2] Về tình tiết tăng nặng: các bị cáo không có.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Trần Văn P có 04 tiền án (đã xóa án tích), 06 tiền sự (đã hết thời hiệu) thể hiện nhân thân rất xấu, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải. Bị cáo đã có rất nhiều cơ hội được cải tạo để trở thành công dân có ích nhưng bị cáo không chịu tu dưỡng và rèn luyện. Bị cáo S1 có 01 tiền sự (đã xóa). Do đó cần cách ly bị cáo P và S1 ra khỏi xã hội một thời gian, để giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.
Các bị cáo Lê Văn T2, Đỗ Đăng L và Vũ H3 chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần này là lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Các bị cáo Lê Văn T2, Đỗ Đăng L và Vũ H3 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo L có bố đẻ là thương binh và ông ngoại và bà ngoại là người có công với cách mạng. Bị cáo T2 và H3 là lao động chính trong gia đình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51- Bộ luật hình sự. Căn cứ Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của hội đồng Thẩm phán TANDTC cho bị cáo Lê Văn T2, Đỗ Đăng L và Vũ H3 được hưởng án treo cải tạo ngoài xã hội, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý giáo dục các bị cáo trở thành người tốt.
[4] Xét vai trò các bị cáo: Trong vụ án này tính chất đồng phạm giản đơn cần phân hoá vai trò của từng bị cáo để lượng hình tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội. Bị cáo P chuẩn bị hai bộ bài để chơi tá lả có vai trò cao nhất, tiếp đó là bị cáo Vũ H3 là người quản lý chìa khóa cửa, sau đó đến bị cáo Hoàng Ngọc S1, Lê Văn T2 và Đỗ Đăng L có vai trò thấp nhất.
[5] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Đối với các bị cáo Lê Văn T2, Đỗ Đăng L và Vũ H3 có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, không cần thiết cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mà có thể được cải tạo ngoài xã hội cũng đủ điền kiện để giáo dục các bị cáo. Bị cáo Trần Văn P và Hoàng Ngọc S1 phải cách ly ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung.
[6] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự quy định: "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đồng đến 50.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản". Tuy nhiên xét các bị cáo đều không có nghề nghiệp ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, do đó Hội đồng xét xử miễn hình phạt tiền cho các bị cáo.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Xét thấy số tiền dùng để đánh bạc là 11.475.000 của các bị cáo, do đó cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
02 bộ bài, mỗi bộ 52 quân là công cụ các bị cáo dùng để đánh bạc, cần tịch thu tiêu huỷ.
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật hình sự năm 2015.
Các bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn P, Hoàng Ngọc S1, Lê Văn T2, Đỗ Đăng L và Vũ H3 phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321- Bộ luật hình sự.
Áp dụng khoản khoản 1 Điều 321 điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38- Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Văn P.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38- Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Hoàng Ngọc S1
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s, i khoản 1,2 Điều 51, Điều 65- Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Lê Văn T2 và Đỗ Đăng L và Vũ H3.
-
Xử phạt bị cáo Trần Văn P 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ các ngày tạm giữ từ ngày 05/5/2024 đến ngày 08/5/2024.
-
Xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc S1 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
-
Xử phạt: Bị cáo Lê Văn T2 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách là 16 (mười sáu) tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Lê Văn T2 cho Ủy ban nhân dân phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội quản lý giáo dục trong thời gian thử thách.
Nếu bị cáo Lê Văn T2 thay đổi nơi ở thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 2 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
-
Xử phạt: Bị cáo Đỗ Đăng L 07 (bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách là 14 (mười bốn) tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Đỗ Đăng L cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện P, thành phố Hà Nội quản lý giáo dục trong thời gian thử thách.
Nếu bị cáo Đỗ Đăng L thay đổi nơi ở thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 2 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
-
Xử phạt: Bị cáo Vũ H3 07 (bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách là 14 (mười bốn) tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Vũ H3 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, thành phố Hà Nội quản lý giáo dục trong thời gian thử thách.
Nếu bị cáo Vũ H3 thay đổi nơi ở thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 2 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về vật chứng: căn cứ điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 11.475.000 đồng tại (tại uỷ nhiệm chi số 102 ngày 22/07/2024)
Tịch thu tiêu huỷ: 02 bộ bài tú lơ khơ, mỗi bộ 52 quân bài (biên bản bàn giao vật chứng ngày 29/07/2024 ).
Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Về quyền thi hành án: Căn cứ Điều 26 Luật thi hành án.
Trường hợp bản án, quyết định của Toà án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa. Nguyễn Thị Kim Liên |
Bản án số 171/2024/HSST ngày 26/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự sơ thẩm về tội đánh bạc
- Số bản án: 171/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
