|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 171/2024/HS-PT Ngày: 26/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Trần Hữu Vinh
Các thẩm phán: Ông Phan Vĩnh Chuyển
Ông Trần Minh Long
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 144/2024/TLPT-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2024/HS-ST ngày 04 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ thành phố Đà Nẵng.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Văn T, sinh ngày 17/10/1981 tại Vĩnh Phúc; Nơi cư trú: Thôn G, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; Số căn cước công dân: [...] cấp ngày 17/7/2015; Nghề nghiệp: Kinh doanh (Mua bán xe ô tô cũ); Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn N (đã chết) và bà Tạ Thị N1 (còn sống); Có vợ là Nguyễn Thị T1 có 02 con (lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2010);
Tiền án, tiển sự: Chưa.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 06/10/2023; có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 18/7/2023, Phòng Cảnh sát giao thông Công an thành phố Đ tiếp nhận hồ sơ đăng ký làm thủ tục thu hồi, sang tên khác tỉnh đối với 02 xe ô tô tải tự đổ biển kiểm soát 43H-001.86 và xe biển kiểm soát 43H-002.86. Do nghi ngờ các hồ sơ này là giả nên Phòng Cảnh sát giao thông Công an thành phố Đ đã chuyển hồ sơ, tài liệu cho Cơ quan An ninh điều tra Công an thành phố Đ để xử lý.
Qúa trình điều tra xác định được: Khoảng tháng 3, tháng 4 năm 2022 thông qua dịch vụ môi giới, Nguyễn Văn T mua 02 xe ô tô tải tự đổ biển kiểm soát 43H-001.86 và xe biển kiểm soát 43H-002.86 của 01 người đàn ông ở Đồng Nai (không rõ lai lịch) với giá 2.200.000.000 đồng (hai tỷ hai trăm triệu đồng). Do 02 xe này vẫn đang thế chấp tại ngân hàng nên không có giấy tờ gốc, do đó T thỏa thuận với người bán đưa trước 1.300.000.000 đồng (một tỷ ba trăm triệu đồng) và nhận xe cùng các giấy tờ gồm: bản phô tô giấy chứng nhận đăng ký xe có sao y của Công ty cho thuê tài chính Ngân hàng đã hết hạn, Giấy chứng nhận đăng kiểm xe bản chính; Bản phô tô hợp đồng mua bán xe giữa Công ty Á. Người đàn ông này cam kết trong vòng 02 tháng sẽ xóa thế chấp và rút hồ sơ gốc cho T và T sẽ đưa thêm 900.000.000 đồng (chín trăm triệu đồng) còn lại cho người bán.
Hai chiếc xe ô tô tải nêu trên sau khi mua đến tháng 5/2022, T bán lại cho 01 người đàn ông (không rõ lai lịch) ở tỉnh Sơn La với giá 2.400.000.000 đồng (hai tỷ bốn trăm triệu đồng). Theo thỏa thuận người này trả trước cho T 1.500.000.000 đồng (một tỷ năm trăm triệu đồng), T cam kết trong vòng 02 tháng sẽ rút hồ sơ gốc và nhận số tiền 900.000.000 đồng (chín trăm triệu đồng). T viết giấy bán xe và giao xe cho người này cùng số giấy tờ như trên. Đến tháng 6/2022, T đã nhiều lần liên hệ người đàn ông ở tỉnh Đồng Nai để nhận hồ sơ gốc của 02 xe này nhưng không được. Do không có hồ sơ gốc để bàn giao cho người mua xe ở Sơn La nên T đã nảy sinh ý định mua giấy tờ giả để làm hồ sơ xin rút hồ sơ gốc, sang tên tỉnh khác đối với 02 xe ô tô tải nói trên, mục đích là để cung cấp cho người mua xe ở tỉnh Sơn La và nhận số tiền 900.000.000 đồng (chín trăm triệu đồng) còn lại.
Sau khi nảy sinh ý định làm tài liệu giả, T nhờ các mối quan hệ quen biết tra cứu thông tin đăng ký thế chấp, biết được nguồn gốc 02 xe ô tô tải nêu trên do Công ty TNHH MTV cho thuê tài chính Ngân hàng S đứng tên chủ sở hữu cho Công ty Cổ phần Á (địa chỉ: C H, phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng) thuê xe. Khoảng ngày 14 đến ngày 15/6/2023, T lên mạng Google để tìm dịch vụ làm tài liệu giả và sử dụng zalo “Trung Lenin” được đăng ký theo số điện thoại 0987.517.xxx để đặt mua 01 thông báo xóa thế chấp xe ô tô biển kiểm soát: 43H-001.86; 01 thông báo xóa thế chấp xe đối với xe ô tô biển kiểm soát: 43H-002.68 với giá 3.000.000 đồng (ba triệu đồng).
Khoảng ngày 19 - 20/6/2023, có một người đàn ông (không rõ lai lịch) liên hệ với T qua zalo và giao tài liệu giả tại đoạn đường ở xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, T trả tiền mặt trực tiếp cho người giao.
Sau đó, qua giới thiệu của bạn bè, Trung liên hệ với chị Ngô Thị Thanh H để nhờ chị H rút hồ sơ gốc của 02 xe ô tô nói trên. Đồng thời, T dùng quyển hóa đơn của Công ty TNHH T4 (mã số thuế: 0314690185, địa chỉ: 5 đường C, khu phố G, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh), có ký hiệu: TV/17P, quyển số 2, từ số 0000051 đến số 0000100 mà T đã mua từ trước và nhờ người tên T2 (không rõ lai lịch) viết giúp 02 hóa đơn số 0000091 và 0000092 xuất bán 02 xe ô tô biển kiểm soát: 43H-001.86 và biển kiểm soát 43H-002.68 cho người tên Huỳnh Thanh D (địa chỉ: 4 L, phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh). Về Huỳnh Thanh D, T không có mối quan hệ quen biết gì với D, T được người quen (không rõ lai lịch) cho T bản photo căn cước công dân của Huỳnh Thanh D nên T đã sử dụng thông tin của D để ghi thông tin hóa đơn, hợp thức hồ sơ mua bán xe cũ.
Ngày 30/6/2023, qua dịch vụ bưu điện, T gửi 02 thông báo xóa thế chấp giả, 02 hóa đơn GTGT số 0000091, 0000092 của Công ty T4 nói trên và bản cà số khung, số máy của xe ô tô biển kiểm soát: 43H-001.86 và xe ô tô biển kiểm soát: 43H-002.68 cho chị H và nói dối chị H là đã làm mất Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô.
Khi kiểm tra hồ sơ do T gửi, chị H yêu cầu phải bổ sung hóa đơn mua bán xe ô tô từ Công ty Á qua công ty T4, đơn báo mất Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô và người đứng tên mua xe phải có mặt nộp hồ sơ trực tiếp tại Phòng C Công an thành phố Đ. Do vậy, T đã liên hệ với Nguyễn Xuân H1 là người cùng xã T để nhờ H1 đứng tên và vào thành phố Đà Nẵng để rút hồ sơ gốc của 02 xe ô tô trên. H1 đồng ý, về chi phí thì sau khi thành công sẽ thỏa thuận trả sau. Đồng thời, T tiếp tục liên hệ qua zalo để đặt mua các loại tài liệu giả sau:
- - 01 hợp đồng mua bán xe ô tô biển kiểm soát 43H-001.86 giữa Nguyễn Xuân H1 và Huỳnh Thanh D (đã có chữ ký của người tên D và con dấu của văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh, chữ ký, dấu tên của công chứng viên do bên làm giả tài liệu làm sẵn).
- - 01 hợp đồng mua bán xe ô tô biển kiểm soát 43H-002.68 giữa Nguyễn Xuân H1 và Huỳnh Thanh D (đã có chữ ký của người tên D và con dấu của văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh, chữ ký, dấu tên của công chứng viên do bên làm giả tài liệu làm sẵn).
- - 01 đơn trình báo mất đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 43H-001.86 (đã có sẵn xác nhận, chữ ký, con dấu của Công an thị trấn Y do bên làm giả tài liệu làm sẵn), đơn đứng tên Nguyễn Xuân H1.
- - 01 đơn trình báo mất đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 43H-002.68 (đã có sẵn xác nhận, chữ ký, con dấu của Công an thị trấn Y do bên làm giả tài liệu làm sẵn), đơn đứng tên Nguyễn Xuân H1.
- - 04 bản sao hóa đơn chứng thực mua bán 02 xe ô tô biển kiểm soát 43H-001.86 và biển kiểm soát 43H-002.68 của Công ty Á cho Công ty T4 (có dấu chứng thực bản sao, con dấu của văn phòng C, thành phố Hồ Chí Minh, chữ ký, dấu tên của công chứng viên do bên làm giả tài liệu làm sẵn).
Ngày 15/7/2023, người đàn ông mà T đặt làm giả lần trước gọi qua zalo cho T và giao cho T giấy tờ giả tại đoạn đường ở xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. T trả tiền mặt trực tiếp cho người giao với số tiền là 5.000.000 đồng. Sau đó, T đến nhà H1, đưa cho H1 ký vào phần người mua trên 02 hợp đồng mua bán xe ô tô và phần người làm đơn trên 02 đơn trình báo mất đăng ký xe ô tô. Sau khi H1 ký vào các các giấy tờ trên, thì H1 cầm hợp đồng và đơn báo mất trực tiếp đi vào Đà Nẵng gặp chị H để làm thủ tục rút hồ sơ gốc của 02 xe ô tô. Ngày 17/7/2023, sau khi H1 đi Đà Nẵng, T quên nhờ H1 cầm theo 04 bản sao hóa đơn chứng thực mua bán xe từ Công ty Á qua Công ty T4 (tài liệu giả T đã mua nêu trên) vào cho chị H nên T đã đến dịch vụ giao hàng N2 để gửi chuyển phát nhanh cho chị H. Ngày 18/7/2023, chị H tập hợp hồ sơ và đi chứng thực thêm hóa đơn mua bán xe (02 hóa đơn từ Công ty T4 bán xe cho Huỳnh Thanh D), hợp đồng mua bán xe (02 hợp đồng bán xe từ Huỳnh Thanh D cho Nguyễn Xuân H1) mỗi loại tài liệu 01 bản sao chứng thực tại UBND phường T, quận T. Sau khi có đầy đủ hồ sơ thì chị H đã đưa cho H1 cầm theo toàn bộ hồ sơ đến Phòng C Công an thành phố Đ làm thủ tục rút hồ sơ gốc thì bị phát hiện.
Tang, tài vật thu giữ:
- - 01 bộ hồ sơ xin thu hồi đăng ký, biển số xe của xe ô tô tải ben mang biển kiểm soát 43H-001.86, gồm: 01 bản cà số khung, số máy; 01 giấy chứng nhận thu hồi đăng ký, biển số xe; 01 văn bản thông báo về việc xóa thế chấp phương tiện giao thông số 894/TT2-TB ngày 22/02/2023; 01 đơn trình báo mất đăng ký xe ô tô; 02 bản sao chứng thực hóa đơn GTGT số 0000625 ngày 12/6/2021 của Công ty cổ phần Á bán xe cho Công ty trách nhiệm hữu hạn T4; 01 hóa đơn GTGT số 0000092 ngày 26/11/2021 của Công ty TNHH T4 bán xe cho Huỳnh Thanh D; 01 bản sao chứng thực hóa đơn GTGT số 0000092 ngày 26/11/2021 của Công ty TNHH T4 bán xe cho Huỳnh Thanh D; 01 hợp đồng mua bán xe ô tô giữa Huỳnh Thanh D và Nguyễn Xuân H1; 01 bản sao chứng thực của tài liệu giả hợp đồng mua bán xe ô tô giữa Huỳnh Thanh D và Nguyễn Xuân H1 nêu trên.
- - 01 bộ hồ sơ xin thu hồi đăng ký, biển số xe của xe ô tô tải ben mang biển kiểm soát 43H-002.68, gồm: 01 bản cà số khung, số máy; 01 giấy chứng nhận thu hồi đăng ký, biển số xe; 01 văn bản thông báo về việc xóa thế chấp phương tiện giao thông số 893/TT2-TB ngày 22/02/2023; 01 đơn trình báo mất đăng ký xe ô tô; 02 bản sao chứng thực hóa đơn GTGT số 0000625 ngày 12/6/2021 của Công ty CP Á bán xe cho Công ty TNHH T4; 01 hóa đơn GTGT số 0000091 ngày 26/11/2021 của Công ty TNHH T4 bán xe cho Huỳnh Thanh D; 01 bản sao chứng thực hóa đơn GTGT số 0000091 ngày 26/11/2021 của Công ty TNHH T4 bán xe cho Huỳnh Thanh D; 01 hợp đồng mua bán xe ô tô giữa Huỳnh Thanh D và Nguyễn Xuân H1; 01 bản sao chứng thực của tài liệu giả hợp đồng mua bán xe ô tô giữa Huỳnh Thanh D và Nguyễn Xuân H1.
- - 01 điện thoại di động N4 màu đen, loại nắp trượt, có gắn sim số 0912.746.555 của Nguyễn Văn T;
- - 01 điện thoại di động hiệu OPPO, số EMEI 1: 865858061324377, số EMEI 2: 865858061324369, gắn sim số 0913.524.068 của Nguyễn Xuân H1.
- - 01 quyển hóa đơn của Công ty TNHH T4 ký hiệu: TV/17P, quyển số 2, từ số 0000051 đến số 0000100.
Xác minh tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh xác định: Cả 02 xe ô tô tải biển kiểm soát 43H-001.86 và biển kiểm soát 43H-002.68 hiện vẫn đang là tài sản bảo đảm, chưa được xóa thế chấp. Đồng thời, Trung tâm không phát hành văn bản Thông báo xóa thế chấp phương tiện giao thông số 839 ngày 22/02/2023 và Thông báo số 894 ngày 20/02/2023.
Hợp đồng mua bán xe được lập tại Văn phòng C địa chỉ 445 - D Hồ N, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh do Công chứng viên Vi Thị Hồng H2 thực hiện. Tuy nhiên, Văn phòng C có Công văn số 85 ngày 24/7/2023 xác định không thực hiện công chứng mua bán 02 xe ô tô trên và không có người nào tên Vi Thị Hồng H2.
Tại Bản kết luận giám định số 833/KL-KTHS ngày 02/10/2023 của Phòng kỹ thuận Hình sự Công an thành phố Đ kết luận:
- - Chữ ký mang tên Quách Thu T3 trên các mẫu cần giám định ký hiệu A1 và A2 được đóng dấu, không phải do người có mẫu chữ ký đứng tên Quách Thu T3 trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M3 ký ra.
- - Hình dấu có nội dung vòng trong “TRUNG TÂM ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH TÀI SẢN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH” trên các mẫu cần gián định ký hiệu A1 và A2 so với hình dấu có nội dung vòng trong “TRUNG TÂM ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH TÀI SẢN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH” trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M4 không phải do cùng một con dấu đóng ra.
- - Chữ ký mang tên Phan Đăng Q trên các mẫu cần giám định ký hiệu A3 và A4 so với chữ ký đứng tên Phan Đăng Q trên mẫu so sánh ký hiệu M5 không đồng dạng, không đủ cơ sở kết luận có phải do cùng một người ký ra hay không.
- - Hình dấu có nội dung: CÔNG AN YÊN THÀNH NGHỆ AN * CÔNG AN THỊ TRẤN YÊN THÀNH” trên các mẫu cần giám định ký hiệu A3 và A4 so với hình dấu có nội CÔNG AN H. YÊN THÀNH – T.NGHỆ AN * CÔNG AN THỊ TRẤN YÊN THÀNH” trên mẫu so sánh ký hiệu M6 không phải do cùng con dấu đóng ra.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2024/HS-ST ngày 04/6/2024 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng đã quyết định:
Căn cứ: điểm a khoản 3, khoản 4 Điều 341; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Văn T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam, ngày 06/10/2023.
Phạt bổ sung Nguyễn Văn T số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
Bản án sơ thẩm còn quyết định về phần dân sự, xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo.
Ngày 08/6/2024, bị cáo Nguyễn Văn T có đơn kháng cáo với nội dung: xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn T đã thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm quy kết, bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo đề nghị HĐXX cấp phúc thẩm xem xét cho hoàn cảnh gia đình của bị cáo khó khăn, các con còn nhỏ, mẹ đã già, bị cáo là lao động chính, qua đó bị cáo xin được giảm một phần hình phạt để có ít thời gian cải tạo, sớm được trở về với gia đình làm ăn, nuôi dạy con cái, chăm sóc mẹ già.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:
Về thủ tục: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T có đầy đủ nội dung theo thủ tục kháng cáo và trong thời hạn nên đảm bảo hợp lệ.
Về nội dung: Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức " theo điểm a khoản 3, khoản 4 Điều 341 Bộ luật Hình sự là có cơ sở, đúng pháp luật.
luật. Xét mức án 03 năm tù đối với bị cáo T là đúng người đúng tội, không nặng đề nghị HĐXX phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã nhận thức rõ hành vi sai trái pháp luật của mình, xin HĐXX giảm nhẹ mức hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: Trong khoảng thời gian từ ngày 14/6/2023 đến ngày 15/7/2023, Nguyễn Văn T khai nhận đã 02 lần sử dụng tài khoản zalo tên “Trung Lê N3” liên hệ với đối tượng không rõ lai lịch, cung cấp thông tin đặt làm giả các giấy tờ, tài liệu gồm: 01 thông báo xóa thế chấp xe ô tô biển kiểm soát 43H-001.86; 01 thông báo xóa thế chấp xe đối với xe ô tô biển kiểm soát 43H-002.68; 01 hợp đồng mua bán xe ô tô biển kiểm soát 43H-001.86 giữa Nguyễn Xuân H1 và Huỳnh Thanh D; 01 hợp đồng mua bán xe ô tô biển kiểm soát 43H-002.68 giữa Nguyễn Xuân H1 và Huỳnh Thanh D; 01 đơn trình báo mất đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 43H-001.86; 01 đơn trình báo mất đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 43H-002.68; 04 bản sao hóa đơn chứng thực mua bán 02 xe ô tô biển kiểm sát 43H-001.86 và biển kiểm soát 43H-002.68 của Công ty Á cho Công ty T4 nhằm hợp thức hồ sơ, làm thủ tục rút hồ sơ gốc, sang tên khác tỉnh đối với 02 xe ô tô tải ben biển kiểm soát 43H-001.86 và biển kiểm soát 43H-002.68.
Để hoàn thiện hồ sơ, T nhờ Nguyễn Xuân H1 ký tên vào phần người mua trong 02 Hợp đồng mua bán xe và phần người làm đơn trong 02 đơn trình báo mất đăng ký 02 xe ô tô biển kiểm soát 43H-001.86 và biển kiểm soát 43H-002.68. Sau đó, T và H1 sử dụng bộ hồ sơ giả nói trên để làm thủ tục sang tên khác tỉnh đối với 02 xe ô tô nêu trên tại Phòng Cảnh sát giao thông Công an thành phố Đ bị phát hiện. Như vậy, hành vi của T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức” được quy định tại điểm a khoản 3, khoản 4 Điều 341 BLHS như Bản án số 57/2024/HS-ST ngày 04/6/2024 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2] Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T, HĐXX thấy rằng:
Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Bị cáo có đủ khả năng nhận thức, biết được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện.
Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để xử phạt tù có thời hạn, đồng thời cách ly bị cáo ra ngoài xã hội để cải tạo, giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội là cần thiết. Tuy nhiên, tại giai đoạn sơ thẩm, bị cáo đã tác động gia đình nộp án phí sơ thẩm và tiền phạt bổ sung thể hiện sự ăn năn hối cải, chấp hành quyết định của bản án sơ thẩm. Bên cạnh đó, bị cáo cung cấp các tài liệu thể hiện gia đình bị cáo có công cách mạng, bản thân bị cáo có thành tích xuất sắc trong phong trào xây dựng nông thôn mới năm 2015 theo Giấy khen của Chủ tịch UBND huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, đây là những tình giảm nhẹ mới mà cấp sơ thẩm chưa áp dụng. Vì vậy, HĐXX áp dụng điểm s, v khoản 1 khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 BLHS giảm nhẹ thêm một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
[3] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
sự.
I. Căn cứ:
Điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình
I.1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T; sửa Bản án sơ thẩm.
II. Căn cứ:
Điểm a khoản 3 Điều 341; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T: 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án 06/10/2023.
III. Về án phí:
Bị cáo Nguyễn Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
IV. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
V. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hữu Vinh |
|
Thẩm phán Phan Vĩnh Chuyển |
Bản án số 171/2024/HS-PT ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 171/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 144/2024/TLPT-HS
