|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 171/2024/HS-PT Ngày: 03-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | ông Trần Quốc Cường |
| Các Thẩm phán: | ông Nguyễn Cường |
| ông Đinh Phước Hoà | |
| - Thư ký phiên tòa: ông Phạm Văn Phong - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng | |
| - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Chiến - Kiểm sát viên. | |
Ngày 03 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 148/2024/TLPT-HS ngày 01 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo Đào Nguyên N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2024/HS-ST ngày 19 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 621/2024/QĐXXPT-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024.
- Bị cáo có kháng cáo:
- Người bào chữa cho bị cáo:
Họ và tên: Đào Nguyên N, sinh năm 1982 tại tỉnh Thanh Hóa; nơi ĐKNKTT: tổ B, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; chỗ ở trước khi bị bắt: Phòng 0818 V, xã Đ, huyện G, Thành phố Hà Nội; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; trình độ văn hoá: 12/12; nghề nghiệp: lao động phổ thông; con ông Đào Nguyên H và con bà Hà Thị C; có vợ tên là Trương Thị Nam P và có 03 con; con lớn sinh năm 2011 và con nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: không.
Bị bắt tạm giam từ ngày 28 tháng 02 năm 2023, có mặt tại phiên tòa.
Luật sư Lê Hữu P1-Công ty L và Cộng sự, thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đ; địa chỉ: I N, phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng, có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ ngày 13 tháng 9 năm 2022, Đào Nguyên N liên lạc với Công ty TNHH T3 (Công ty), địa chỉ: A L, phường V, quận T, thành phố Đà Nẵng (do anh Bùi Viết Thanh Q làm Giám đốc) để hỏi thuê xe ô tô cao cấp. Đến khoảng 09 giờ ngày 14 tháng 9 năm 2022, Đào Nguyên N đến Công ty gặp chị Phạm Thị Hồng T (là nhân viên công ty) ký Hợp đồng thuê xe ô tô biển kiểm soát 43A-486.52, thời hạn thuê từ 09 giờ ngày 14 tháng 9 năm 2022 đến 21 giờ 30 phút ngày 15 tháng 9 năm 2022. Xe ô tô này thuộc sở hữu của chị Phạm Lê Phương T1, chị T1 giao xe cho anh Q để cho khách thuê nhưng khi giao xe ô tô cho anh Q, chị T1 để quên trên xe ô tô một số giấy tờ, gồm: Bằng lái xe ô tô mang tên Phạm Lê Phương T1 và Giấy đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 43A-486.52 (bản photo công chứng).
Sau khi thuê xe ô tô, N liên lạc với bà Phạm Thị Ngọc Á hỏi mượn số tiền 700.000.000 đồng để đáo hạn Ngân hàng và thế chấp xe ô tô biển kiểm soát 43A-486.52 cho bà Á, hẹn ngày 17 tháng 9 năm 2022 sẽ trả tiền cho bà Á. N nói với bà Á xe ô tô trên do vợ của N là Phạm Lê Phương T1 đăng ký chủ sở hữu. Bà Á yêu cầu phải có vợ của N đến nhà bà viết Giấy mượn tiền, N đồng ý. Khoảng 15 giờ cùng ngày, N đến nhà bà Á và nói dối là vợ của N bận không đến được, N đưa một tờ Giấy mượn tiền có nội dung: bà Phạm Lê Phương T1 và ông N có mượn của bà Á số tiền 700.000.000 đồng, hẹn ngày 17 tháng 9 năm 2022 trả tiền và để lại xe ô tô biển kiểm soát 43A-486.52, 01 Giấy phép lái xe tên Đào Nguyên N và 01 Giấy phép lái xe tên Phạm Lê Phương T1 để làm tin. Bà Á đồng ý và chuyển tiền từ tài khoản Ngân hàng của bà Á vào tài khoản Ngân hàng của N số tiền 693.000.000 đồng. Ngay sau khi nhận tiền chuyển khoản từ bà Á, N đã chuyển khoản trả nợ cho ông Trần Văn C1 số tiền 502.000.000 đồng, trả nợ cho ông Nguyễn Quốc Trung T2 số tiền 100.000.000 đồng và chi tiêu cá nhân hết.
Đến hẹn không thấy N trả tiền, bà Á không liên lạc được với N. Đồng thời, lúc này Công ty TNHH T3 phát hiện N đem xe ô tô đã thuê cầm cố vay tiền của bà Á. Ngày 22 tháng 9 năm 2022, N liên lạc với bà Á nói do N mắc nợ nhiều người và bị nhiều người tìm đòi nợ nên đã nhờ mẹ, vợ và bạn của N hẹn gặp bà Á và Công ty TNHH T3 để viết Giấy cam kết trả nợ cho bà Á và xin nhận lại xe ô tô để trả cho TNHH T3. Bà Phạm Lê Phương T1 đã nhận lại xe ô tô biển kiểm soát 43A-486.52.
Kết luận giám định số 57/KL-KTHS ngày 16 tháng 01 năm 2023 của Phòng K Công an thành phố Đ kết luận: chữ viết, chữ ký trong Giấy mượn tiền ghi ngày 14 tháng 9 năm 2022 so với chữ viết, chữ ký của bà Phạm Lê Phương T1 không phải do cùng một người viết ra. Không đủ cơ sở kết luận chữ ký mang tên Phạm Lê Phương T1 trên tài liệu cần giám định so với chữ ký của Phạm Lê Phương T1 trên tài liệu mẫu so sánh có phải do cùng một người ký ra hay không.
Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đà Nẵng xác định xe ô tô biển kiểm soát 43A-486.52 có giá trị 1.614.949.000đ.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2024/HS-ST ngày 19 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Đào Nguyên N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đào Nguyên N 12 (mười hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 28 tháng 02 năm 2023.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo.
Ngày 25 tháng 01 năm 2024, bị cáo Đào Nguyên N kháng cáo bản án sơ thẩm xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Đào Nguyên N trình bày giữ nguyên kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng phát biểu:
Về tố tụng: kháng cáo của các bị cáo Đào Nguyên N là trong thời hạn luật định.
Về nội dung: Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Đào Nguyên N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và xử phạt 12 năm tù là có căn cứ, đúng tội. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo N không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, do đó đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Đào Nguyên N trình bày: bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho bị hại, bị hại xin giảm nhẹ cho bị cáo, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo thống nhất phát biểu của Luật sư, bổ sung hoàn cảnh gia đình khó khăn, có tham gia công tác hỗ trợ trong chống dịch bệnh tại Đà Nẵng.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, sau khi thảo luận và nghị án:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng:
- Xét kháng cáo của bị cáo:
- Về hành vi phạm tội:
Ngày 25 tháng 01 năm 2024, bị cáo Đào Nguyên N kháng cáo Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2024/HS-ST ngày 19 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xin giảm nhẹ hình phạt. Như vậy, kháng cáo của bị cáo là trong thời hạn luật định, Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Quá trình điều tra, xét xử sơ thẩm và phúc thẩm hôm nay bị cáo Đào Nguyên N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thể hiện: do cần tiền để trả nợ vì bị nhiều chủ nợ thúc ép, Đào Nguyên N đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản là xe ô tô của Công ty TNHH T3. Ngày 14 tháng 9 năm 2022, Nghị liên hệ và thuê xe ô tô biển kiểm soát 43A-486.52 của Công ty TNHH T3 Vàng trị với thời hạn thuê từ 09 giờ ngày 14 tháng 9 năm 2022 đến 21 giờ 30 phút ngày 15 tháng 9 năm 2022. Sau khi có xe ô tô, chiều ngày 14 tháng 9 năm 2022, N mang
xe ô tô kiểm soát 43A-486.52 đi thế chấp cho bà Phạm Thị Ngọc Á để vay 700.000.000 và dùng số tiền này trả nợ cho những chủ nợ khác, tiêu xài cá nhân hết. Quá thời hạn thoả thuận, N không trả tiền cho bà Á và không có xe trả cho Công ty TNHH T3. Như vậy, lời khai nhận tội của bị cáo Đào Nguyên N tại phiên toà phúc thẩm phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm; phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm có căn cứ khẳng định: Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Đào Nguyên N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng tội.
- Về điều luật áp dụng, mức hình phạt:
Bị cáo Đào Nguyên N đã đưa ra thông tin gian dối chiếm đoạt tài sản là xe ô tô kiểm soát 43A-486.52 của Công ty TNHH T3 trị giá 1.614.949.000 đồng, nên đã phạm vào điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định khung hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân. Hành vi phạm tội của bị cáo N là nguy hiểm cho xã hội, phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân và ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương.
Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận định, đánh giá về hành vi thực hiện tội phạm, nhân thân và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là đúng pháp luật. Từ đó xử phạt bị cáo Đào Nguyên N 12 (mười hai) năm tù là thỏa đáng, không nặng.
- Tại phiên toà xét xử phúc thẩm hôm nay, bị cáo Đào Nguyên N cung cấp chứng cứ mới thể hiện có cha là ông Đào Nguyên H được tặng thưởng Huân chương kháng chiến và có chú ruột là Đào Trọng V là liệt sỹ. Tuy nhiên, đối chiếu tình tiết mới này với hành vi phạm tội và hậu quả mà bị cáo gây ra là không đáng kể để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Án phí hình sự phúc thẩm:
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
bị cáo Đào Nguyên N phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đào Nguyên N, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Tuyên bố bị cáo Đào Nguyên N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đào Nguyên N 12 (mười hai) năm
tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 28 tháng 02 năm 2023.
- Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Đào Nguyên N phải chịu 200.000₫.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Thành viên Hội đồng xét xử |
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa |
|
(Đã ký) |
(Đã ký) |
|
Nguyễn Cường Đinh Phước Hoà |
Trần Quốc Cường |
Bản án số 171/2024/HS-PT ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 171/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đào Nguyên N, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
