|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 171/2024/DS-PT Ngày 22/4/2024 V/v Tranh chấp về quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu. |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Quỳnh;
Các Thẩm phán: Ông Đặng Đình Lực;
Ông Phạm Việt Hà.
Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Cẩm Ly, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn Hữu- Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 551/2023/TLPT-DS ngày 25 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp về quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu”, do có kháng cáo của đại diện theo ủy quyền của bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2022/DS-ST ngày 21 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 4323/2024/QĐ-PT ngày 05/4/2024 của Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: ông Lê Lương Y, sinh năm 1947; địa chỉ: khu G, thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt.
- Bị đơn: ông Kiều Văn B (tên gọi khác Kiều H), sinh năm 1942; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1940; địa chỉ: khu G, thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Kiều Văn L, sinh năm 1977, có mặt.
- - Anh Kiều Văn L1, sinh năm 1982, vắng mặt.
- - Bà Kiều Thị H1, sinh năm 1967; địa chỉ: khu F, L, xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt.
- Người làm chứng:
- - Ông Nguyễn Quốc H2, sinh năm 1950; địa chỉ: khu E, L, xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt.
- - Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1957; địa chỉ: khu G, L, xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: bà Trần Thị N và ông Nguyễn Chí D là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh V. Bà Trần Thị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Kiều Văn B: anh Kiều Văn B1, sinh năm 1984; địa chỉ: khu G, thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bà T là bà Lê Thị Thu H, sinh năm 1982; địa chỉ: đường L, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt.
Đều ở địa chỉ: khu G, thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.
Người đại diện theo ủy quyền anh L1 là bà Lê Thị Thu H, sinh năm 1982; địa chỉ: đường L, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt.
UBND huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Văn T1, Chủ tịch UBND huyện Y; địa chỉ: thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Người đại diện theo ủy quyền: ông Hà Thái D1- Phó Chủ tịch UBND huyện Y, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 30 tháng 5 năm 2017, đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện và những lời khai tiếp theo nguyên đơn ông Lê Lương Y trình bày:
Năm 1973, ông Y nhận chuyển nhượng của ông Kiều Như A là người cùng thôn thửa đất số 397, tờ bản đồ số 2, diện tích lúc nhận chuyển nhượng là 320m² tại thôn G, L, xã Y, huyện Y. Năm 1986, ông Y tiếp tục nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Kiều Việt C và vợ là bà Nguyễn Thị T2 51,50m² một dải đất liền kề phía bờ ao hiện nay là giáp đất nhà ông L1. Hai bên không làm thủ tục chuyển nhượng đất qua chính quyền địa phương mà chỉ là giấy viết tay với nhau. Tại giấy viết tay chuyển nhượng đất giữa ông Y với ông bà Cường T3, thể hiện phần đất chuyển nhượng là 2m đất ao bằng 2 thước, 51,5m².
Năm 1998, ông Y lại tiếp tục nhận chuyển nhượng đất của bà Kiều Thị H1 cùng thôn diện tích 31,5m², ông Y và bà H1 cũng không làm thủ tục chuyển nhượng qua chính quyền địa phương mà chỉ viết tay với nhau về việc chuyển nhượng đất, có ông Nguyễn Quốc H2 ký chứng kiến. Tại giấy viết tay chuyển nhượng đất giữa ông Y với bà H1 thể hiện phần đất chuyển nhượng có các chiều cạnh tiếp giáp: phía Đông giáp nhà bác Yên T4 (nhà ông Y); phía Tây giáp đường dân sinh, phía Nam giáp đường dân sinh, phía Bắc giáp nhà Yên T4.
Sau khi nhận chuyển nhượng đất của ông A, của ông C bà T3 và bà H1, gia đình ông Y đã xây tường bao loan xung quanh, xây chuồng trại chăn nuôi và nhà ở trên đất. Đến năm 1999, ông Y vào M làm ăn, chính quyền địa phương có chủ trương các hộ dân kê khai để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do ông Y đi vắng nên gia đình ông Y không có ai đi kê khai đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. UBND xã Y tự kiểm tra hiện trạng rồi đề nghị UBND huyện Y cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Y. Ngày 30/9/2001, ông Y được UBND huyện Y cấp giấy chứng nhận, trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Y, UBND huyện Y cấp sai về tên đệm; diện tích và số thửa. Sau khi ông Y nhận giấy chứng nhận, ông Y biết sai nên đã nhiều lần làm đơn yêu cầu UBND xã Y và UBND huyện Y đính chính. Đến năm 2014 UBND huyện Y mới chỉ đính chính cho ông Y về tên đệm còn diện tích và số thửa thì chưa đính chính. Ông Y yêu cầu thì được trả lời là phần đất mà ông Y yêu cầu đính chính đang nằm trong phần đất của nhà ông B và ông B đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không đính chính cho ông Y.
Ông Y xác định phần đất hiện nay ông B đang chiếm giữ của ông gồm 5,87m² là một phần diện tích đất của gia đình ông C bà T3 đã chuyển nhượng lại cho ông vào năm 1986 và diện tích đất 31,50m² ông B chuyển nhượng cho bà H1 năm 1997, bà H1 chuyển nhượng lại cho ông năm 1998. Vì vậy, ông Y yêu cầu Tòa án buộc ông B phải trả lại cho ông phần đất đã lấn chiếm ở trên, theo biên bản xem xét thẩm định ngày 10/8/2017 là 37,39m².
Đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R644148 của UBND huyện Y cấp cho hộ ông Kiều Văn B ngày 30/9/2001 với diện tích là 407m² là sai. Vì trong phần diện tích đất mà ông B được cấp có 31,50m² là đất của ông đã nhận chuyển nhượng nên ông đề nghị Tòa án hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R644148 của UBND huyện Y cấp cho hộ ông Kiều Văn B ngày 30/9/2001.
Đề nghị tòa án không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị T về việc tuyên hợp đồng chuyển nhượng đất giữa ông Kiều Văn B và bà Kiều Thị H1 vô hiệu.
Tại đơn yêu cầu bổ sung ông Y đề nghị Tòa án buộc ông B phải bồi thường bức tường bị phá hủy nhưng sau đó đã rút yêu cầu bổ sung, chỉ đề nghị Tòa án buộc ông Kiều Văn B phải trả cho ông diện tích 37,39m² đất đã lấn chiếm và hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất R644148 của ông B.
Quá trình giải quyết vụ án, ông Y có đề nghị mặc dù phần diện tích 5,87m² là ông đã mua của ông bà Cường T3, nhưng để hài hòa giữa hai bên gia đình ông và ông B nên ông Y tự nguyện mua lại phần diện tích đất trên theo giá tiền đất đã được Hội đồng định giá huyện Y định giá ngày 24/11/2020.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: thống nhất đề nghị của nguyên đơn, đề nghị Tòa án giải quyết để bảo vệ quyền lợi chính đáng của nguyên đơn.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn, anh Kiều Văn B1 trình bày: anh thừa nhận gia đình anh có 01 thửa đất 42m² giáp ranh, liền kề với đất của ông Lê Lương Y. Nguồn gốc thửa đất trên là do ông cha để lại cho bố mẹ anh là ông Kiều Văn B, bà Nguyễn Thị T. Sau khi bố anh xây dựng gia đình, ông Kiều Văn S là bác ruột của bố anh giao đất của bố mẹ ông B để lại cho vợ chồng ông B quản lý, sử dụng. Diện tích 42m² trên bố anh đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2001 tại thửa đất số 396, tờ bản đồ số 02 thôn L, xã Y. Việc ông B có chuyển nhượng đất cho bà H1 31,50m² hay không thì anh và gia đình anh không biết. Anh xác định phần diện tích đất 31,50m² là tài sản chung của ông B và bà T nên ông B không có quyền tự mình quyết định chuyển nhượng đất cho bà H1 mà không có sự đồng ý của bà T là mẹ anh. Vì vậy anh đề nghị Tòa án xem xét giá trị pháp lý của hợp đồng chuyển nhượng viết tay giữa bà H1 và ông B năm 1997.
Nay ông Y khởi kiện yêu cầu gia đình anh phải trả 5,87m² đất, 31,52m² thuộc thửa đất số 396, tờ bản đồ 02 và yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 644148 do UBND huyện Y cho hộ ông Kiều Văn B ngày 30/9/2001 là không có cơ sở, không rõ ràng; ông Y chưa sử dụng đất đã nhận chuyển nhượng, chưa xây dựng công trình nên anh không đồng ý trả lại phần đất đó cho gia đình ông Y. Việc ông B được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với 42m² là hoàn toàn hợp pháp nên anh không đồng ý yêu cầu của ông Y đề nghị Tòa án tuyên bố hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ gia đình anh.
Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập bà Nguyễn Thị T và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Kiều Văn L1 là bà Lê Thị Thu H trình bày: về nguồn gốc thửa đất bà xác định như anh B1 con trai ông B trình bày là đúng. Quá trình sử dụng đất năm 1997, ông B tự ý viết giao kèo nhượng đất cho bà H1 31,50m² đất trong tổng số 42m² trên nhưng không được sự đồng ý của bà T và anh L vì đây là tài sản chung của gia đình ông B bà T. Việc giao kèo nhượng đất chưa rõ cụ thể, gia đình vẫn còn 10,5m² nhưng không rõ ở đâu. Do vậy đối với những yêu cầu nêu trên của ông Y, bà không đồng ý. Bà T yêu cầu độc lập tuyên bố văn bản giao kèo nhượng đất giữa bà Kiều Thị H1 với ông Kiều Hùng B2 viết năm 1997 là vô hiệu và yêu cầu ông Lê Lương Y phải trả phần đất 37,39m² cho vợ chồng ông bà tại thôn L, xã Y, huyện Y.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Kiều Thị H1 trình bày: năm 1997 do bà không có chỗ ở và biết ông Kiều Hùng B2 có thửa đất số 396, tờ bản đồ số 02 tại khu G, L, xã Y, huyện Y (giáp đất hộ ông Lê Lương Y) không có nhu cầu sử dụng nên bà hỏi mua và được gia đình ông B2 đồng ý bán, cụ thể hai bên thỏa thuận ông B2 đồng ý chuyển nhượng cho bà H1 diện tích 31,50m² tại khu G, xã Y với giá 3.150.000đ và hai bên thỏa thuận viết giấy mua bán vào ngày 28/3/1997 nhưng không xin xác nhận và báo cáo chính quyền địa phương. Do diện tích đất nhỏ khó xây nhà nên ngày 26/5/1998 bà H1 lại chuyển nhượng thửa đất trên cho ông Lê Lương Y diện tích đất trên giá 3.450.000đ, hai bên có lập hợp đồng chuyển nhượng đất có ông Nguyễn Quốc H2 ký người làm chứng, nhưng không xin xác nhận của chính quyền địa phương. Nay bà Nguyễn Thị T yêu cầu tuyên bố văn bản giao kèo nhượng đất giữa ông K Hùng Biện với bà H1 viết ngày 28/3/1997 là vô hiệu và yêu cầu ông Lê Lương Y phải trả một phần đất lấn chiếm bất hợp pháp, bà H1 không đồng ý.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan UBND huyện Y trình bày: thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 396, tờ bản đồ 02, diện tích 42m2 tại xã Y, huyện Y cho hộ ông Kiều Văn B căn cứ vào bản đồ đo đạc năm 1996, sổ mục kê, sổ địa chính, đơn đăng ký quyền sử dụng đất của ông Kiều Hùng B2 và các giấy tờ khác. Trình tự thủ tục của hồ sơ cấp GCNQSDĐ năm 2001 của xã Y, trong đó có hộ ông Kiều Hùng B2 được thực hiện theo quy định của pháp luật.
Người làm chứng là bà Nguyễn Thị T2 vắng mặt, quá trình tòa án giải quyết vụ án, trình bày: bà là vợ ông Kiều Việt C, bà xác định năm 1986 gia đình bà có một thửa đất liền kề với thừa đất của ông Lê Lương Y tại khu G, xã Y, huyện Y. Do gia đình bà không có nhu cầu sử dụng nên vợ chồng bà đã chuyển nhượng cho ông Y một phần diện tích đất khoảng 51,50m² đất ao, dọc theo đất nhà ông Y, thời điểm chuyển nhượng chồng bà là ông C làm hợp đồng chuyển nhượng với ông Y nhưng không xin xác nhận và báo cáo chính quyền địa phương. Vợ chồng bà đã bàn giao đất cho ông Y sử dụng, bà xác định phần diện tích đất 5,3m² đất (đo thực tế ngày 10/8/2017 là 5,87m²) ông Y đang khởi kiện ông B2 là thuộc phần đất của gia đình bà đã chuyển nhượng cho ông Y (BL46).
Ông Nguyễn Quốc H2 trình bày: ông đều có quan hệ họ hàng với gia đình hai bên ông Y và ông B2. Liên quan đến thửa đất ông B2 chuyển nhượng cho bà H1 ngày 28/3/1997 ông là người được mời chứng kiến và ký vào hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông B2 và bà H1 tại nhà ông B2. Hôm đó gia đình ông B2 đều có mặt đầy đủ, sau khi hai bên lập hợp đồng chuyển nhượng xong ông H2, bà H1 được gia đình ông B2 mời ở lại ăn cơm cùng với gia đình và sau này bà H1 chuyển nhượng diện tích trên cho ông Y, ông H2 cũng là người được mời chứng kiến việc hai bên chuyển nhượng diện tích đất này. Tuy nhiên ông trình bày không nhất quán về việc chuyển nhượng diện tích đất về chiều cạnh từ ông B2 cho bà H1 và từ bà H1 cho ông Y (thể hiện trong giấy chuyển nhượng đất).
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 19/2018 DS- ST ngày 27 tháng 9 năm 2018, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã xử (sơ thẩm lần 1):
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Lương Y buộc gia đình ông Kiều Văn B (tên gọi khác Kiều Hùng B2) phải trả 37,39m² đất và tháo dỡ tường bao loan trên đất tại khu G, thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc (có sơ đồ chi tiết kèm theo).
- Chấp nhận yêu cầu huỷ một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R644148 do UBND huyện Y cấp cho hộ ông Kiều Văn B ngày 30/9/2001 đối với thửa đất số 396 tờ bản đồ số 2 diện tích 42m² (đo đạc thực tế 37,39m²) tại thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc và một phần quyết định số 528/QĐ-UB ngày 13/11/2001 của Chủ tịch UBND huyện Y về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở cho chủ sử dụng đất tại xã Y đối với thửa đất số 396 tờ bản đồ số 2 diện tích 42m² tại thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đình chỉ yêu cầu của bà Nguyễn Thị T buộc gia đình ông Lê Lương Y phải trả lại phần đất chiếm giữ bất hợp pháp là 31,5m² tại thôn L, xã Y, huyện Y.
- Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị T về việc yêu cầu tuyên bố văn bản giao kèo nhượng đất giữa bà Kiều Thị H1 với ông Kiều Văn B (tên gọi khác Kiều Hùng B2) viết năm 1997 là vô hiệu.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về thi hành án, chi phí thẩm định, định giá, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử, bị đơn kháng cáo.
Tại bản án dân sự phúc thẩm số 135/2019/DSPT ngày 13/9/2019, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội (xét xử phúc thẩm lần 1) quyết định hủy án sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại vụ án.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2022/DS-ST ngày 21/6/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc (xét xử sơ thẩm lần 2) đã quyết định: áp dụng Điều 26, Điều 34, Điều 37 và Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 166, Điều 357, 468 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Án lệ số: 04/2016/AL ngày 06/4/2016 được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua, quyết định:
- Công nhận việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Kiều Văn B (Kiều Hùng B2) bà Nguyễn Thị H3, và giữa bà Nguyễn Thị H3 với ông Lê Lương Y là hợp pháp.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Lương Y, buộc gia đình ông Kiều Văn B (tên gọi khác Kiều Hùng B2) phải trả 37,39m² đất cho ông Lê Lương Y và phải tháo dỡ, di dời toàn bộ tường bao loan, cây cối lâm lộc, tài sản khác (nếu có) trên phần diện tích đất 37,39m² đất tại khu G, thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc để trả cho ông Lê Lương Y (có sơ đồ chi tiết kèm theo).
- Chấp nhận yêu cầu huỷ một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R644148 do UBND huyện Y cấp cho hộ ông Kiều Văn B ngày 30/9/2001 đối với thửa đất số 396 tờ bản đồ số 2 diện tích 42m² (đo đạc thực tế 37,39m²) tại thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc và một phần quyết định số 528/QĐ-UB ngày 13/11/2001 của Chủ tịch UBND huyện Y về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở cho chủ sử dụng đất tại xã Y đối với thửa đất số 396 tờ bản đồ số 2 diện tích 42m² tại thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Chấp nhận sự tự nguyện thanh toán bằng tiền đối với diện tích 5,87m² đất của ông Lê Lương Y cho ông Kiều Văn B. Chi phí thẩm định, định giá tài sản ông Kiều Văn B (tên gọi khác Kiều Hùng B2) phải chịu và trả cho ông Lê Lương Y. Đối trừ hai khoản tiền này, buộc ông Lê Lương Y phải thanh toán cho ông Kiều Văn B là 1.874.000đồng.
- Kể từ ngày ông Kiều Văn B (Kiều Hùng B2) có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Lê Lương Y không thanh toán số tiền trên thì hàng tháng phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án tương ứng với thời gian chậm thanh toán theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Đình chỉ yêu cầu của bà Nguyễn Thị T buộc gia đình ông Lê Lương Y phải trả lại phần đất chiếm giữ bất hợp pháp là 31,5 m² tại thôn L, xã Y huyện Y.
- Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị T về việc yêu cầu tuyên bố văn bản giao kèo nhượng đất giữa bà Kiều Thị H1 với ông Kiều Văn B (tên gọi khác Kiều Hùng B2) viết năm 1997 là vô hiệu.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng, tuyên quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 02/7/2022, anh Kiều Văn B1 - người đại diện theo ủy quyền của bị đơn và anh Kiều Văn L- người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Ngày 05/7/2022, đại diện theo ủy quyền của bị đơn là chị Lê Thị Thu H kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Ngày 05/7/2022, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc kháng nghị toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm, Người đại diện hợp pháp của bị đơn là anh Kiều Văn B1 giữ nguyên kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm huỷ án sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại và cho rằng ông Nguyễn Quốc H2 là người làm chứng có quan hệ yêu đương với bà Kiều Thị H1.
Anh Kiều Văn L giữ nguyên kháng cáo và cho rằng việc mua bán với ông Kiều N1 A không đúng, lời khai của bà Nguyễn Thị T2- là người làm chứng bị chỉnh sửa.
Chị Lê Thị Thu H giữ nguyên kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử huỷ bản án sơ thẩm để xét xử lại.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa phúc thẩm xác định lại chỉ kháng nghị một phần Bản án sơ thẩm, về phần quyết định đối với diện tích 5,87m² vì giấy mua bán chỉ bán 31,5m². Do đó, phải xác định 5,8m² là của Bị đơn chưa chuyển nhượng.
Nguyên đơn: ông Lê Lương Y không đồng ý với kháng cáo của bị đơn, người có quyền lợi, nghiã vụ liên quan và không đồng ý với Kháng nghị của Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, nghe lời trình bày của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Ngày 21/6/2022, TAND tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm vụ án. Ngày 02/7/2022, ông Kiều Văn B1- là người đại diện theo ủy quyền của ông Kiều Văn B và ông Kiều Văn L – là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn kháng cáo. Ngày 05/7/2022 bà Lê Thị Thu H là người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị T có đơn kháng cáo. Ông B1, Ông L và bà H kháng cáo trong thời hạn quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự và đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm (BL567-579). Ngày 05/7/2022, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc có Kháng nghị phúc thẩm số 959/QĐ-VKS-DS đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2022/DS-ST của TAND tỉnh Vĩnh Phúc là trong thời hạn quy định tại Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm đối với vụ án này là đúng quy định pháp luật.
[2] Về việc chuyển nhượng đất giữa ông Kiều Hùng B2 với bà Kiều Thị H1, giữa bà Kiều Thị H1 với ông Lê Lương Y: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì có việc ngày 28/3/1997 ông Kiều Hùng B2 đã chuyển nhượng cho cháu gái là Kiều Thị H1 31,5m² tại thửa đất số 396 Tờ bản đồ số 02 tại khu G Thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc với giá 3.100.000 đồng. Ông B2 đã nhận đủ tiền và giao đất cho bà H1 ngay sau khi viết “văn tự giao kèo nhượng đất” (BL 15, 32, 33). Ngày 26/5/1998 bà Kiều Thị H1 lại chuyển nhượng lại toàn bộ diện tích 31.5m² đất này cho ông Lê Lương Y với giá 3.450.000 đồng (BL 29). Việc chuyển nhượng đối với Thửa đất trên cả 02 lần đều có ông Nguyễn Quốc H2 chứng kiến nhưng cả hai hợp đồng chuyển nhượng đều không làm thủ tục tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Sau khi mua lại đất của bà H1, ông Y đã xây tường bao, quản lý và sử dụng đất công khai, liên tục từ năm 1998 không ai có ý kiến gì, hộ gia đình ông B2 gần nhà ông Y (chỉ cách đường dân sinh) cũng không có ý kiến gì. Đến năm 2018 (sau 20 năm) thì gia đình ông Kiều Văn B chiếm giữ và xây tường bao quanh đất. Như vậy, việc chuyển nhượng quyền sử dụng Thửa đất số 396 giữa ông B và bà H1, giữa bà H1 và ông Y tuy không tuân thủ về mặt hình thức (không có chứng nhận của Công chứng Nhà nước hoặc chứng thực của UBND cấp có thẩm quyền); khi chuyển nhượng đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng Thửa đất đủ điều kiện được cấp giấy và sau đó đất đã được cấp giấy chứng nhận. Căn cứ điểm b.2 tiết b tiểu mục 2.3 mục 2 phần II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 hướng dẫn áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình thì không coi các Hợp đồng chuyển nhượng trên là vô hiệu. Tại phiên toà phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội cũng đề nghị công nhận các Hợp đồng chuyển nhượng này. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm công nhận các hợp đồng chuyển nhượng đất giữa ông B và bà H1, giữa bà H1 và ông Y là có căn cứ.
[3] Về yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị T đề nghị Tòa án tuyên bố thỏa thuận giữa bà H1 với ông B là vô hiệu vì cho rằng B3 không ký giấy chuyển nhượng cho bà H1 ngày 28/3/1997: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện: ông Nguyễn Quang H4 (BL517) và bà Kiều Thị H1 (BL 394) trình bày ông B và bà H1 ký giao kèo chuyển nhượng đất ngày 28/3/1997 tại nhà ông B, có bà Nguyễn Thị T (vợ ông B) ở nhà; sau khi hai bên lập giao kèo chuyển nhượng đất gia đình ông B còn mời ông H4 cùng bà H1 ở lại ăn cơm cùng gia đình. Gia đình bà T, ông B cho rằng lời khai của ông H4 là không khách quan vì ông H4 có quan hệ tình cảm với bà H1 là không có cơ sở chấp nhận. Sau khi bà H1 nhận chuyển nhượng đất của gia đình ông B, ngày 26/5/1998 bà H1 chuyển nhượng lại thửa đất trên cho ông Y. Khoảng năm 1998, ông Y đã xây tường rào, các công trình phụ trên đất và sử dụng ổn định từ đó đến khi hai bên gia đình xảy ra chấp (khoảng từ năm 2012 và 2017) thì bà T mới có ý kiến liên quan đến việc ông B chuyển nhượng đất cho bà H1. Như vậy, tuy bà Nguyễn Thị T không ký vào biên bản giao kèo chuyển nhượng đất cho bà H1 ngày 28/3/1997, nhưng bà T đã biết việc chuyển nhượng trên và không có ý kiến gì ngay cả khi ông Y xây tường rào bao quanh đất, các công trình phụ trên diện tích đất (Gia đình ông B và các thành viên là bà T, anh L, anh L1 ở gần phần diện tích đất đã chuyển nhượng cho bà H1 và sau này bà H1 chuyển nhượng cho ông Y, chỉ cách một con đường dân sinh rộng khoảng 02m đến 03m gần cổng đi của gia đình ông B, hàng ngày thường xuyên thấy gia đình ông Y sử dụng diện tích đất này). Việc ông B chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà H1 tại thời điểm 28/3/1997 là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc gì, ông B đã nhận đủ số tiền chuyển nhượng, bà T và các thành viên trong gia đình đã biết và không có ý kiến gì. Căn cứ Án lệ số: 04/2016/AL thì phải xác định ý thức của bà T là đã đồng ý để ông B chuyển nhượng đất cho bà H1. Do vậy, không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị T về việc yêu cầu tuyên bố văn bản giao kèo nhượng đất giữa bà Kiều Thị H1 với ông Kiều Hùng B2 viết năm 1997 là vô hiệu.
[4] Đối với yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng Thửa đất 396 cấp cho ông Kiều Văn B năm 2001, thấy rằng: Ông B đã chuyển nhượng đất cho bà H1 ngày 28/3/1997 và bà H1 bán lại cho ông Y. Tuy nhiên, hộ gia đình ông B không thông báo cho chính quyền địa phương biết về việc đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên cho bà H1 mà vẫn đề nghị cấp giấy chứng nhận thửa đất trên là không trung thực. UBND xã Y chỉ căn cứ vào kê khai diện tích đất của hộ gia đình ông B không xuống thực tế xác minh ai là người đang quản lý, sử dụng đất, không kiểm tra, đo đạc lại thửa đất là vi phạm theo quy định Thông tư số: 346/TT-TCĐC ngày 16 tháng 3 năm 1998 của Tổng cục Địa chính về hướng dẫn thủ tục đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai năm 1993. Tại biên bản xác minh ngày 07/9/2018 tại UBND xã Y và P - Môi trường huyện Y đã thể hiện rõ việc lập hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông B đối với thửa số 396, tờ bản đồ số 02 diện tích 42m² tại thôn L, xã Y không xem xét ai là người đang thực tế quản lý sử dụng đất, không kiểm tra đo đạc diện tích là không đúng quy định của pháp luật. Từ các căn cứ phân tích như trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử chấp nhận yêu cầu huỷ một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R644148 được UBND huyện Y cấp ngày 30/9/2001 cho hộ ông Kiều Văn B đối với thửa đất số 396 tờ bản đồ số 2 diện tích 42m² là có căn cứ.
[5] Về diện tích và vị trí đất được chuyển nhượng: Theo giấy chuyển nhượng ngày 28/3/1997 (BL33) thì ông B có thửa đất diện tích 42m² nằm ở dệ đường cái phía T, Nam giáp nhà Ba V; Đông giáp nhà bác Y, T5 giáp nhà bác Chuyên Đ, nay chuyển nhượng cho bà H1 diện tích 31,5 m², còn lại 10,5m². Giấy chuyển nhượng cho bà H1 không chỉ rõ bán cho bà H1 phần đất chiều cạnh cụ thể như thế nào, tiếp giáp với phần đất nào và cũng không thể hiện để lại phần đất 10,5m² ở vị trí nào, chiều cạnh như thế nào.
[6] Ngày 26/5/1998, bà H1 chuyển nhượng lại diện tích đất trên cho ông Lê Lương Y người cùng thôn. Tại giấy viết tay chuyển nhượng đất giữa ông Y với bà H1 (BL 29) thể hiện phần đất chuyển nhượng 31,5m², có đầy đủ các chiều cạnh (tứ cận) tiếp giáp: phía Đông giáp nhà bác Yên T4 (nhà ông Y); phía Tây giáp đường dân sinh, phía Nam giáp đường dân sinh, phía Bắc giáp nhà Yên T4 (nhà ông Y) mà cũng không ghi cụ thể chiều cạnh dài bao nhiêu mét. Như vậy, theo giấy chuyển nhượng này thì thửa đất chuyển nhượng có 02 cạnh giáp đường, 02 cạnh còn lại giáp đất nhà ông Y, hay nói cách khác là chuyển nhượng cả thửa đất.
[7] Đối với diện tích đất 5,87m² của Thửa đất số 396: Biên bản xác minh tại UBND xã Y, huyện Y ngày 24/4/2018 (BL 144) thể hiện:
[7.1] Thửa đất 396 theo Bản đồ 299 lập năm 1978 không thể hiện đứng tên ai là chủ sử dụng mà là một đường đất giáp ao của gia đình ông Kiều Như A và ông Kiều Việt C và đường dân sinh. Sau đó ông B đã kê khai để xin cấp giấy phần đất bờ ao giáp đất gia đình ông Kiều Như A, Kiều Việt C (sau này là ông A, ông C chuyển nhượng cho ông Y, gọi là đất ông Y)
[7.2] Đối với phần diện tích đất 5,87m² đang có tranh chấp giữa ông Y và ông B theo Bản đồ 299 lập năm 1978 không thể hiện đứng tên ai là chủ sử dụng mà là một đường đất giáp ao của gia đình ông Kiều Như A và ông Kiều Việt C và đường dân sinh. Đến năm 2001, ông B kê khai nên diện tích đất trên nằm trong Thửa đất 42m² thuộc thửa 396 Tờ bản đồ số 2 đứng tên ông B.
[8] Phần diện tích đất 5,87m² còn lại được xác định là phần đất phía Bắc của Thửa đất, nếu căn cứ văn bản nhượng đất giữa bà H1 và ông Y thì phía Bắc là đất của nhà ông Y. Điều này phù hợp với lời khai của bà Nguyễn Thị T2 khẳng định chồng bà là ông Kiều Việt C có chuyển nhượng cho ông Y 51,5m². Diện tích đất chuyển nhượng là một bờ ao dài dọc theo đất. Ông B là người có đất liền kề với phần đất vợ chồng bà chuyển nhượng cho gia đình ông Y. Về phần diện tích 5,3m² đất (đo đạc thực tế ngày 10/8/2017 là 5,87 m²), bà T2 trình bày “Bà xác định 5,3m² hiện nay ông Y cho rằng ông B đang lấn chiếm là đúng” (BL 46). Ông B1, anh L cho rằng lời khai của bà T2 bị chỉnh sửa nhưng văn bản ghi ý kiến của bà T2 được đánh máy và không có dấu hiệu bị chỉnh sửa, ông B1, anh L cũng không đưa ra được chứng cứ chứng minh có việc chỉnh sửa. Mặt khác, việc giải quyết vụ án không chỉ căn cứ vào lời khai của bà T2, lời khai của bà T2 được xem xét vì phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
[9] Các bên đương sự đều không thể chỉ rõ ngoài diện tích đất ông Y nhận chuyển nhượng 31,5m² thì phần diện tích đất 5,87m² (thừa trên thực tế) nằm ở vị trí nào chiều cạnh ra sao. Ông Y, bà T2 và bà H1 cho rằng đó là phần đất ông Y mua của ông C, bà T2; phía bà H1 xác nhận bán hết phần đất mà mình mua của ông B cho ông Y.
[10] Ông B cho rằng mình chỉ chuyển nhượng 31,5m² đất, tuy nhiên khi chuyển nhượng 31,5m² cho bà H1 thì không thỏa thuận rõ chuyển nhượng ở đâu vị trí nào, tương tự không xác định rõ còn 10,5m² thì chiều cạnh cụ thể ra sao. Xét về vị trí thửa đất thì thửa đất có 02 cạnh (phía Bắc và Đ1) theo miêu tả đều giáp đất ông Y, phía Nam và phía Tây giáp đường dân sinh, ông B không có đất giáp với thửa 396, nên không có lý do gì ông B lại giữ lại 10,5m² nếu thửa đất còn đủ 42m² theo giấy tờ tại thời điểm ông B bán cho bà H1. Căn cứ vào vị trí diện tích đất chuyển nhượng, miêu tả về các cạnh tiếp giáp theo Hợp đồng chuyển nhượng giữa bà H1 và ông Y thì là chuyển nhượng toàn bộ thửa đất.
[11] Từ khi ông Y nhận chuyển nhượng đất trên của ông C, bà T2 và của bà H1, thì ông Y đã quản lý, sử dụng thực tế, công khai, liên tục cả thửa đất trong nhiều năm từ khi nhận chuyển nhượng. Ông Y đã xây dựng công trình phụ, xây tường bao từ những năm 1998, 2000 (trước thời điểm ông B được cấp GCN QSDĐ) và quản lý sử dụng toàn bộ thửa đất trên (toàn bộ diện tích 37,39m² đang tranh chấp với gia đình ông B) các hộ gia đình liền kề và hộ ông B gần nhà ông Y (chỉ cách đường dân sinh) không ai có ý kiến gì. Từ đầu năm 2018, gia đình ông Kiều Văn B mới chiếm giữ và quản lý cho đến nay.
[13] Mặt khác phần diện tích đất tranh chấp 5,87m² là rất nhỏ không phù hợp cho việc sử dụng ở nông thôn. Ông Y tự nguyện thanh toán bằng tiền cho ông B với phần diện tích 5,87m² là đã bảo đảm quyền lợi của ông B. Việc Tòa án ghi nhận sự tự nguyện của ông Y không có nghĩa là buộc ông B phải nhận khoản tiền trên để giao diện tích đất 5,87m². Ông B có thể từ chối việc nhận khoản tiền này, còn việc buộc ông B giao 5,87m² là do Tòa án xác định diện tích đất này là đất của gia đình ông Y mua của ông bà Cường T3.
[14] Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của anh Kiều Văn L, Kiều Văn B1, chị Lê Thị Thu H và không có căn cứ chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, X:
- Không chấp nhận kháng cáo của anh Kiều Văn L, Kiều Văn B1, chị Lê Thị Thu H; không chấp nhận Kháng nghị số 959/QĐ-VKS-DS ngày 05/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2022/DS-ST ngày 21/6/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
- Về án phí phúc thẩm: các anh Kiều Văn L, Kiều Văn B1, chị Lê Thị Thu H mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| CÁC THẨM PHÁN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Đặng Đình Lực |
Trần Thị Quỳnh |
|
Phạm Việt Hà |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Quỳnh |
Bản án số 171/2024/DS-PT ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về tranh chấp về quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu.
- Số bản án: 171/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu.
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Lương Y - Kiều Văn B về việc Tranh chấp về quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu
