Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

Bản án số: 171/2024/DS-PT

Ngày: 20-8-2024

V/v “T/c về thừa kế tài sản”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Huệ
Các Thẩm phán: Ông Cao Minh Vỹ
Ông Cao Xuân Long

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoa – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu: Bà Nguyễn Thị Thanh Thuỷ – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 20-8-2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 319/2023/TLPT-DS ngày 20-12-2023 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 74/2023/DS-ST ngày 12-9-2023 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu bị kháng cáo, kháng nghị theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2024/QĐ-PT ngày 28-02-2024, Quyết định hoãn phiên toà số 55/2024/QĐ-PT ngày 28-3-2024, Quyết định tạm ngừng phiên toà số 45A/2024/QĐ-PT ngày 08-5-2024, Thông báo mở lại phiên toà số 110/2024/TB-TA ngày 31-7-2024 và Quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng số 147/2024/QĐ-TA ngày 20-8-2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1941 (chết ngày 29-4-2023).
  2. Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1965 (vắng mặt).

    Địa chỉ: Số nhà B, tổ A, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

    Người đại diện hợp pháp của bà Đ: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1982; địa chỉ Tổ E, khu phố P, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu - là đại diện uỷ quyền theo Giấy uỷ quyền ngày 18-5-2023 (có mặt).

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Thị Đ: Ông Lê Văn N – Luật sư của Văn phòng L2 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; địa chỉ B T, phường L, TP B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).

  3. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1963; Địa chỉ Tổ A, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt),
  4. Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Lê Tuấn T1, sinh năm 1994; địa chỉ: Khu phố X, thị trấn P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu - là đại diện uỷ quyền theo Giấy uỷ quyền ngày 22-8-2022 (có mặt).

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Đoàn Thị L, sinh năm 1970; Địa chỉ Tổ A, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).
    2. Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1952; Địa chỉ: Tổ A, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt, xin giải quyết vắng mặt).
    3. Bà Phạm Thị T3, sinh năm 1931; Địa chỉ: Số nhà B, tổ A, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt, xin giải quyết vắng mặt).
    4. Ông Nguyễn Văn T4, sinh năm 1967; Địa chỉ: Tổ A, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).
    5. Bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1961; Địa chỉ: D, tổ A, khu phố L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).
    6. Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1971; Địa chỉ: Tổ A, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Thị C1 và bà Nguyễn Thị N1: Ông Hoàng Đăng Vĩnh H1 – Luật sư trợ giúp pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B (có mặt).

  6. Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Đ - là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn.
  7. Kháng nghị: Quyết định kháng nghị số 182/QĐKNPT-VKS-DS ngày 25-9-2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị C, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Đ, thông qua người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Văn H trình bày:

Quyền sử dụng đất thuộc thửa 1178 và 135, tờ bản đồ số 57, thị trấn Đ, huyện Đ do cha mẹ của bà C là ông Nguyễn Văn U (chết năm 1966) và bà Đỗ Thị L1 (chết năm 1969) để lại không có di chúc.

Ông Ú, bà L1 có hai người con là bà C và ông Nguyễn Văn I. Năm 1972 ông I chết, vợ ông I là bà Phạm Thị T3 quản lý, sử dụng nhà đất đến khoảng năm 1973 thì bà T3 ra ngoài ở với người chồng sau. Con ông I, bà T3 là ông Nguyễn Văn T vẫn ở trên đất cùng với bà C đến năm 18 tuổi thì đi nghĩa vụ quân sự, năm 1986 ông T trở về ở với bà C, sau đó ông T lập gia đình.

Sau này ông T tự ý kê khai xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên mà không cho bà C biết. Ngày 11-5-1996, Ủy ban nhân dân huyện L đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 966066 cho ông T, diện tích 4.500m² thửa đất số 124, tờ bản đồ số 38, xã P, huyện L (nay là huyện Đ).

Ngày 28-01-2008, Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp đổi thành giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 936936, diện tích tăng thành 5.202m², thuộc thửa đất số 135, tờ bản đồ số 57, thị trấn Đ, huyện Đ.

Ngày 03-6-2011, ông T và vợ là bà Đoàn Thị L đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn T2 một phần đất với diện tích 2.000m².

Diện tích đất còn lại, Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông T thành số BG 605565, ký ngày 18-8-2011 với diện tích 3.202m², thửa đất số 1178, tờ bản đồ số 57, thị trấn Đ, huyện Đ.

Trên đất của ông U, bà L1 để lại thì bà C đã được Nhà nước xây nhà tình thương trên đất.

Sau khi bà C biết đất đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng cho ông T đứng tên thì ông T nói với bà C là ông đã lỡ kê khai và nay giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vợ chồng ông T đang thế chấp vay Ngân hàng, khi nào lấy về vợ chồng ông T sẽ tách ra cho bà C sau.

Tuy nhiên ông T không chịu làm thủ tục tách đất cho bà C, ông T lại đưa ra Văn bản có nội dung bà C đã bán phần đất của bà cho ông T. Thực tế bà C không bán đất cho ông T vì bà C chỉ có căn nhà duy nhất trên đất, nếu bán cho ông T thì bà không có nơi ở.

Bà C khởi kiện về thừa kế, sau khi thay đổi yêu cầu khởi kiện thì ngày 14-6-2021, bà C có yêu cầu chính thức như sau:

  • - Công nhận diện tích đất 5.202m² thửa 1178 và 135, tờ bản đồ số 57, thị trấn Đ, huyện Đ do ông Nguyễn Văn U và bà Đỗ Thị L1 để lại là di sản thừa kế.
  • - Chia di sản thừa kế của ông U và bà L1 cho hàng thừa kế thứ nhất gồm ông I và bà C, theo đó bà C được hưởng ½ di sản thừa kế, cụ thể:
    • + Đối với diện tích đất 2.000m² vợ chồng ông T đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn T2 thì chia bà C ½ giá trị, các con ông Ích ½ giá trị.
  • + Đối với diện tích đất 3.202m² còn lại, chia theo hiện vật, nếu có sự chênh lệch về diện tích thì bên nhận hiện vật nhiều hơn phải trả lại phần trị giá chênh lệch theo giá thị trường theo kết quả định giá.

- Ông Lê Văn N là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho phía nguyên đơn trình bày:

Về nguồn gốc đất bà C nêu ở trên thì bị đơn đã thừa nhận là của ông U và bà L1 để lại; bị đơn cho rằng có khai hoang thêm đất là không phù hợp vì thời điểm ông I chết thì ông T là con mới được 09 tuổi. Bà C đã có nhà trên đất do được Nhà nước hỗ trợ xây nhà tình thương và tại các biên bản hòa giải tranh chấp đất ở thị trấn Đ đều đã xác định là đất của bà C.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn (nay bà Nguyễn Thị Đ kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng), chia cho bà Đ được hưởng ½ thửa đất 1178 và ½ trị giá thửa 135, tờ bản đồ số 57, thị trấn Đ, huyện Đ.

Bị đơn là ông Nguyễn Văn T, thông qua người đại diện hợp pháp là ông Nguyễn Văn D và ông Lê Tuấn T1 thống nhất trình bày:

Về nguồn gốc đất do ông bà nội ông T là ông Nguyễn Văn U (chết năm 1966) và bà Đỗ Thị L1 (chết năm 1969) để lại, tuy nhiên trong quá trình sử dụng thì ông T có khai phá thêm một phần đất. Ông T và bà L là người sử dụng đất, đã đăng ký, kê khai đất và được Nhà nước công nhận, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.

Nay phía bị đơn không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà C, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, hiện nay bà C đã chết nhưng trên đất vẫn còn căn nhà của bà C và hiện nay bà Nguyễn Thị Đ đang ở trên căn nhà trên, nên ông T và bà L có thiện chí tách cho bà Đ được quyền sử dụng một phần diện tích đất là 500m² (tại vị trí có nhà của bà C) thuộc một phần thửa 1178, tờ bản đồ số 57, thị trấn Đ, huyện Đ.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Bà Nguyễn Thị C1 trình bày:
  • Bà C1 là con ruột của ông Nguyễn Văn I (chết năm 1972) và bà Phạm Thị T3. Đất bà C đang yêu cầu chia là do ông bà nội bà C1 là ông Nguyễn Văn U và bà Đỗ Thị L1 để lại và cha, mẹ bà C1 là ông I, bà T3 quản lý đất. Sau khi cha bà C1 chết, mẹ bà C1 ra ngoài ở thì ông T tiếp tục quản lý, sử dụng đất.

    Bà C1 đề nghị Tòa án chia di sản thừa kế của ông bà nội bà C1 là ông Nguyễn Văn U và bà Đỗ Thị L1 để lại theo quy định pháp luật, cụ thể bà C1 đề nghị được chia 150m² đất.

  • - Bà Nguyễn Thị N1 trình bày: Bà Nghĩa là con ruột của ông Nguyễn Văn I (chết năm 1972) và bà Phạm Thị T3. Bà N1 thống nhất toàn bộ lời trình bày của bà

Nguyễn Thị C1. Bà N1 đề nghị được chia 150m² đất là di sản thừa kế của ông bà nội là ông Nguyễn Văn U và bà Đỗ Thị L1 để lại.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà C1 và bà Nghĩa là ông Hoàng Đăng Vĩnh H1 trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn và đề nghị chia cho bà C1, bà N1 một phần đất, mỗi người là 150m².

  • - Ông Nguyễn Văn T4 trình bày: Ông T4 là con ruột của ông Nguyễn Văn I (chết năm 1972) và bà Phạm Thị T3. Ông T4 không yêu cầu gì trong vụ án, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
  • - Bà Nguyễn Thị T5 trình bày:
  • Bà T5 là vợ ông Nguyễn Văn I (đã chết), là mẹ của ông Nguyễn Văn T, mẹ chồng của bà L và là chị dâu của bà C.

    Thửa đất 135 và 1178 trước đây là của cha mẹ chồng bà T5 là ông Nguyễn Văn U và bà Đỗ Thị L1, nhưng từ khi ông U và bà L1 còn sống đã giao cho vợ chồng bà T5 canh tác, sau khi ông U và bà L1 chết thì giao lại cho ông T, bà L sử dụng.

    Bà T5 là con dâu, sau này bà lập gia đình mới nên đã giao lại đất cho vợ chồng ông T canh tác sử dụng và ông T đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử đụng dất. Vợ chồng ông T cũng đã chia cho bà C đất nhưng bà C đã bán lại phần của mình cho vợ chồng ông T nên đất trên là của vợ chồng ông T. Bà T5 không có yêu cầu gì trong vụ án, đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt bà T5.

  • - Ông Nguyễn Văn T2 trình bày:
  • Ngày 03-6-2011, ông T2 nhận chuyển nhượng của ông T và bà L diện tích đất 2.000m² thuộc một phần thửa 135, tờ bản đồ số 57, thị trấn Đ, huyện Đ theo giấy chứng nhận số AK 936936 ngày 28-01-2008. Giá chuyển nhượng là 220.000.000 đồng và ông T2 đã giao đủ tiền, ông T và bà L đã giao đất cho ông T2 sử dụng từ đó đến nay. Ông T2 đã được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới số BG 605564 ngày 18-8-2011 đối với thửa đất nhận chuyển nhượng.

    Ông T2 nhận chuyển nhượng thửa đất trên là hợp pháp và đã được cấp giấy chứng nhận, nay bà C khởi kiện yêu cầu chia thừa kế trong đó có cả phần đất ông T2 nhận chuyển nhượng nhưng bà C chỉ yêu cầu chia trị giá đối với phần đất ông T2 nhận chuyển nhượng và chia đất đối với phần ông T và bà L đang đứng tên. Do đó diện tích đất ông T2 nhận chuyển nhượng không bị ảnh hưởng nên ông T2 không có yêu cầu gì trong vụ án. Đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định pháp luật và xin vắng mặt.

  • - Bà Đoàn Thị L trình bày: Bà L là vợ của ông Nguyễn Văn T, bà thống nhất với lời trình bày của ông T.

Bản án dân sự sơ thẩm số 74/2023/DS-ST ngày 12-9-2023 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã tuyên xử:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị C (bà Nguyễn Thị Đ là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Nguyễn Thị C) đối với bị đơn là ông Nguyễn Văn T về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản” quyền sử dụng đất diện tích 5.185,5m² (theo đo đạc thực tế) thuộc các thửa 135 và 1178, tờ bản đồ số 57, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Ghi nhận sự tự nguyện của bị đơn là ông Nguyễn Văn T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Đoàn Thị L về việc bà Nguyễn Thị Đ được quyền sử dụng diện tích đất 500m² (tại vị trí đất có nhà của bà Nguyễn Thị C) thuộc một phần thửa 1178, tờ bản đồ số 57, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Kháng cáo:

Ngày 19-9-2023, bà Nguyễn Thị Đ là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn kháng cáo Bản án sơ thẩm với lý do Toà án cấp sơ thẩm nhận định không đúng về tài liệu chứng cứ, tình tiết vụ án nên áp dụng pháp luật không đúng. Yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Kháng nghị:

Ngày 25-9-2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ có Quyết định kháng nghị số 182/QĐKNPT-VKS-DS, kháng nghị Bản án sơ thẩm với lý do Toà án cấp sơ thẩm nhận định quyền sử dụng đất thửa 135, 1178 tờ bản đồ số 57, thị trấn Đ, huyện Đ không phải di sản ông U, bà L1 để lại vì ông U, bà L1 không kê khai, đăng ký, đứng tên trên giấy tờ liên quan tới quyền sử dụng đất là không phù hợp với chứng cứ tại phiên toà. Bởi vì ông U, bà L1 chết năm 1966 và 1969 thì không thể đăng ký giấy tờ chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng tại Đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T đã khai nguồn gốc đất là của ông bà để lại, quá trình giải quyết vụ án thì ông T cũng thừa nhận nguồn đất của ông bà để lại. Đồng thời những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng đã thống nhất nguồn gốc đất như trên.

Lời khai của bà C về thời điểm bà ở trên đất là trước năm 1973, khi ông I chết thì bà C đang ở trên đất là có căn cứ, lời khai của bà C về quá trình sử dụng đất phù hợp với quá trình sử dụng đất hơn ông T. Các chứng cứ thể hiện bà C và ông T cùng ở trên đất và cùng sử dụng đất cho đến khi bà C chết, nhưng chỉ có ông T được đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không phù hợp.

Do vậy, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án. Cụ thể như sau:

Căn cứ Mảnh xử lý nội nghiệp bản đồ địa chính số 573-2023 ký ngày 30-7-2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, ông Nguyễn Văn H - người đại diện theo uỷ quyền của bà Nguyễn Thị Đ là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là ông Lê Văn N; người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn là ông Lê Tuấn T1; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm ông Nguyễn Văn T4, bà Nguyễn Thị C1, bà Nguyễn Thị N1, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Thị C1 và bà Nguyễn Thị Nghĩa 1 ông Hoàng Đăng Vĩnh H1 thống nhất như sau:

  1. Thống nhất không tranh chấp đối với diện tích đất 2.000m² thuộc thửa đất số 135, tờ bản đồ số 57, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu mà ông Nguyễn Văn T và vợ là bà Đoàn Thị L đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn T2 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BG 605564 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp cho ông Nguyễn Văn T2 ngày 18-8-2011.
  2. Thống nhất chia di sản thừa kế của cụ U và cụ L1 để lại như sau:
    • - Bà Nguyễn Thị Đ được hưởng diện tích 700m² và được quyền sở hữu 02 căn nhà có diện tích 28,4m² và diện tích 46m²; các cây bơ trên đất thuộc một phần thửa đất số 1178, tờ bản đồ số 57, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (ký hiệu là Lô A), hiện đang nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BG 605565 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 18-8-2011 đứng tên ông Nguyễn Văn T và bà Đoàn Thị L.
    • - Ông Nguyễn Văn T được quyền sở hữu hàng rào lưới B40 và các cây trồng trên đất (trừ các cây bơ) trên diện tích đất 700m² bà Nguyễn Thị Đ được hưởng nêu trên. Ông T, bà L có trách nhiệm di dời hàng rào và các cây trồng ra khỏi diện tích đất này.
    • - Ông Nguyễn Văn T được hưởng diện tích đất 1.075,5m² (ký hiệu là VT1) và diện tích đất 1.308,8m² (ký hiệu là VT3) cùng toàn bộ tài sản gắn liền với các phần đất nêu trên, thuộc một phần thửa đất số 1178, tờ bản đồ số 57, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, hiện đang nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BG 605565 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 18-8-2011 đứng tên ông Nguyễn Văn T và bà Đoàn Thị L.
    • - Diện tích đất 108,7m² thuộc một phần thửa đất số 1178, tờ bản đồ số 57, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (ký hiệu là VT2), hiện đang nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BG 605565 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 18-8-2011 đứng tên ông Nguyễn Văn T và bà Đoàn Thị L được sử dụng làm lối đi chung của gia đình ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị Đ.
    1. Bà Nguyễn Thị Đ, ông Nguyễn Văn T và bà Đoàn Thị L có trách nhiệm liên hệ với cơ quan có thẩm quyền về quản lý đất đai để kê khai, đăng ký biến động quyền sử dụng đất thửa đất số 1178, tờ bản đồ số 57, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo nội dung các mục 2.1, 2.2, 2.3 của Bản án này và theo quy định pháp luật.
    2. Ông Nguyễn Văn T và bà Đoàn Thị L phải nộp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BG 605565 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 18-8-2011 cho ông Nguyễn Văn T và bà Đoàn Thị L cho cơ quan có thẩm quyền quản lý đất đai để chỉnh lý biến động quyền sử dụng đất thửa số 1178, tờ bản đồ số 57, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo nội dung các mục 2.1, 2.2, 2.3 của Bản án này và theo quy định pháp luật. Trường hợp ông Nguyễn Văn T và bà Đoàn Thị L không nộp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BG 605565 nêu trên thì cơ quan quản lý đất đai hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này, thực hiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các đương sự theo nội dung Bản án này và theo quy định pháp luật.
    3. Ông Nguyễn Văn T có nghĩa vụ giao cho bà Nguyễn Thị C1 50.000.000₫ (Năm mươi triệu đồng) và giao cho bà Nguyễn Thị N1 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng).

Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không chịu trả số tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải trả thêm cho bên được thi hành án số tiền lãi 10%/năm của khoản tiền chậm thi hành án, tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

  1. Chi phí đo vẽ, thẩm định, định giá đất tranh chấp tại Tòa án cấp sơ thẩm là 14.335.000đ (Mười bốn triệu, ba trăm ba mươi lăm ngàn đồng) và phúc thẩm là 2.200.000đ (Hai triệu, hai trăm ngàn đồng), tổng cộng 16.535.000đ (Mười sáu triệu, năm trăm ba mươi lăm ngàn đồng). Bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Văn T mỗi người tự nguyện chịu ½ chi phí là 8.267.500đ (Tám triệu, hai trăm sáu mươi bảy ngàn, năm trăm đồng). Bà Nguyễn Thị Đ đã tạm ứng nên ông Nguyễn Văn T có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Đ số tiền 8.267.500đ (Tám triệu, hai trăm sáu mươi bảy ngàn, năm trăm đồng).
  2. Án phí dân sự sơ thẩm:
    • - Ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị C1, bà Nguyễn Thị N1 được miễn án phí.
    • - Bà Nguyễn Thị Đ phải chịu án phí là 6.125.000₫ (Sáu triệu, một trăm hai mươi lăm ngàn đồng).
  3. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Đ phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng).
  1. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (20-8-2024).

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh BR-VT;
  • - TAND h Đ;
  • - Chi cục THADS h Đ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Đào Thị Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 171/2024/DS-PT ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Số bản án: 171/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hòa giải thành tại Tòa án cấp phúc thẩm theo hướng chia tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger