Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH SÓC TRĂNG

Bản án số: 171/2024/DS-PT

Ngày 16/7/2024

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

về ranh đất

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Vĩnh Khương

Các Thẩm phán: Bà Tôn Thị Thanh Thúy

Ông Nguyễn Văn Toàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa:

Ông Sơn Cươl - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 10, 16 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 172/2023/TLPT-DS ngày 05 tháng 10 năm 2023 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất về ranh đất.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 35/2023/DS-ST ngày 12 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 55/2024/QĐ-PT ngày 01 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nhâm T, sinh năm 1936. Địa chỉ: Số E, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (chết ngày 04/3/2024)

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nhâm T:

  1. Bà Trương Thị Ngọc A, sinh năm 1941. Địa chỉ: số E, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
  2. Bà Nhâm Thị Mỹ Q, sinh năm 1964. Địa chỉ: số E, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
  3. Ông Nhâm Văn T1, sinh năm 1966. Địa chỉ: số A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
  4. Ông Nhâm Anh K, sinh năm 1968. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
  5. Ông Nhâm Thanh T2, sinh năm 1970. Địa chỉ: số E, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
  6. Ông Nhâm Thanh T3, sinh năm 1972. Địa chỉ: số E, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
  7. Bà Nhâm Thị Bình M, sinh năm 1975. Địa chỉ: số E, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
  8. Bà Nhâm Thị Thanh T4, sinh năm 1978. Địa chỉ: ấp C, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
  9. Bà Nhâm Thị Lệ Q1, sinh năm 1980. Địa chỉ: ấp C, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)

- Bị đơn: Bà Trương Thị Ngọc Y, sinh năm 1950. Địa chỉ: Số B, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Lý Thị Ngọc Đ. Địa chỉ: Số B, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
  2. Ông Phạm Tấn L. Địa chỉ: Số B, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
  3. Bà Lý Thu T5. Địa chỉ: ấp C, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
  4. Ông Lý Văn T6. Địa chỉ: Số B, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
  5. Ông Lý Văn N. Địa chỉ: Số B, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
  6. Ông Lý Ngọc C. Địa chỉ: Số B, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
  7. Ông Lý Thanh H. Địa chỉ: ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
  8. Ông Lý Hoàng K1. Địa chỉ: ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)
  9. Ông Lý Hoàng K2. Địa chỉ: thôn P, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. (vắng mặt)

Người đại diện theo ủy quyền của ông Lý Văn T6, ông Lý Văn N, ông Lý Ngọc C, ông Lý Thanh H, ông Lý Hoàng K1, ông Lý Hoàng K2: Bà Trương Thị Ngọc Y, sinh năm 1950. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (theo các văn bản ủy quyền ngày 03/01/2024, ngày 04/01/2024). (có mặt)

- Người làm chứng:

  1. Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1950. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
  2. Ông Nguyễn Văn T7, sinh năm 1949. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
  3. Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1945. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
  4. Ông Nguyễn Văn S1, sinh năm 1950. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
  5. Ông Trương Văn C1, sinh năm 1963. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
  6. Ông Trương Văn N1, sinh năm 1962. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
  7. Ông Trương Văn D, sinh năm 1975. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
  8. Bà Trương Thị Ngọc L1, sinh năm 1965. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
  9. Ông Đinh Văn B1, sinh năm 1947. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
  10. Ông Đinh Văn Đ1, sinh năm 1951. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
  11. Ông Lê Văn S2, sinh năm 1965. Địa chỉ: số A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
  12. Ông Lê Văn P, sinh năm 1961. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
  13. Ông Huỳnh Văn Q2, sinh năm 1957. Địa chỉ: số A ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)

- Người kháng cáo: Ông Nhâm T, là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án được tóm tắt như sau:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 04/5/2016 và trong quá trình giải quyết vụ án, ông Nhâm T trình bày:

Ông Nhâm T có quyền sử dụng thửa đất số 160, diện tích 15.028m² và thửa đất số 119, diện tích 3.860m², tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng đã được Ủy ban nhân dân huyện M cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C00143 ngày 21/6/1993. Quá trình sử dụng, thửa đất số 160 đã bị bà Trương Thị Ngọc Y lấn chiếm diện tích 50m² (ngang 0,5m dài 100m). Còn thửa số 119, ở hướng Tây giáp với thửa số 109 của bà Y cũng bị bà Y lấn chiếm diện tích khoảng 732m², cụ thể là hướng Đông Bắc dài 60m, hướng T dài 12m, hướng Tây Nam dài 51m, hướng Đông Nam dài 16m.

Ông Nhâm T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Trương Thị Ngọc Y trả lại diện tích đất đã lấn chiếm nêu trên. Đến ngày 24/10/2016, ông T rút lại yêu cầu khởi kiện đối với thửa đất số 160. Tại phiên tòa sơ thẩm, phía nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện thành buộc bà Y trả lại diện tích đất 341,7m² đã lấn chiếm thuộc một phần của thửa đất số 119, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Nguyên đơn đồng ý trừ phần diện tích đất tranh chấp gắn liền với phần căn nhà của bà Lý Thị Ngọc Đ và ổn định cho bà Đ tiếp tục sử dụng diện tích đất này.

- Theo trình bày của bà Trương Thị Ngọc Y trong quá trình giải quyết vụ án:

Bà Trương Thị Ngọc Y không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Nhâm T vì phía ông T đã trồng cây Bạch đàn ở hai đầu đất nên xác định phần đất của ông T chỉ đến cây Bạch đàn.

- Tại bản án dân sự sơ thẩm số 35/2023/DS-ST ngày 12/7/2023, Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng đã quyết định như sau:

“Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 5 Điều 70 và khoản 1 Điều 91, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ vào khoản 1, 3 Điều 26 và khoản 1 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nhâm T về việc yêu cầu bị đơn trả lại phần đất tranh chấp 341,7m² thuộc thửa số 119, tờ bản đồ số 02 tọa lạc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.

  1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Nhâm T đối với tranh chấp phần đất 50m², thuộc thửa 160, tờ bản đồ số 02, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Ông Nhâm T được quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm ông Nhâm T phải chịu là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm và được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 684.250 (Sáu trăm tám mươi bốn nghìn hai trăm năm mươi) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000861 ngày 03/10/2016. Do đó hoàn trả cho ông Nhâm T số tiền tạm ứng án phí còn thừa là 384.250 (Ba trăm tám mươi bốn nghìn hai trăm năm mươi) đồng. Bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
  3. Về các chi phí tố tụng khác ông Nhâm T phải chịu là: 11.404.211 (Mười một triệu, bốn trăm lẻ bốn nghìn, hai trăm mười một) đồng và đã thực hiện xong. Các đương sự khác không phải chịu.”

Ngoài ra, án sơ thẩm còn thông báo quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật.

- Vào ngày 20/7/2024, ông Nhâm T kháng cáo, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết, sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T; buộc bà Trương Thị Ngọc Y và bà Lý Thị Ngọc Đ chấm dứt hành vi ngăn cản quyền sử dụng đất, hành vi lấn chiếm, di dời tài sản, cây trồng, vật kiến trúc trên phần đất tranh chấp để trả ông T diện tích đất 341,7m² tại thửa đất số 119 theo sơ đồ vị trí thửa đất của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T năm 2019.

- Tại phiên tòa phúc thẩm:

+ Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn là ông Nhâm Thanh T2, bà Nhâm Thị Bình M, bà Nhâm Thị Thanh T4, bà Nhâm Thị Lệ Q1 không rút lại đơn khởi kiện, nhưng thay đổi nội dung kháng cáo thành yêu cầu bà Y và bà Đ chấm dứt hành vi ngăn cản quyền sử dụng đất, hành vi lấn chiếm, di dời tài sản, cây trồng, vật kiến trúc trên phần đất tranh chấp để trả lại ông T phần đất có diện tích 139,4m² tại thửa đất số 119, tờ bản đồ số 02 tọa lạc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng theo Sơ đồ đo đạc hiện trạng thửa đất của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh S ngày 17/01/2024.

+ Các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

+ Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về tính có căn cứ và hợp pháp của kháng cáo, về việc tuân thủ và chấp hành pháp luật tố tụng của những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự để giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Người kháng cáo, nội dung và hình thức đơn kháng cáo, thời hạn kháng cáo của ông Nhâm T phù hợp quy định tại Điều 271, Điều 272 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trương Thị Ngọc A, bà Nhâm Thị Mỹ Q, ông Nhâm Văn T1, ông Nhâm Anh K, ông Nhâm Thanh T3 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2, 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự để tiếp tục xét xử vụ án.

[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn là ông Nhâm Thanh T2, bà Nhâm Thị Bình M, bà Nhâm Thị Thanh T4, bà Nhâm Thị Lệ Q1 thay đổi nội dung kháng cáo thành buộc bà Trương Thị Ngọc Y, bà Lý Thị Ngọc Đ trả lại nguyên đơn diện tích đất 139,4m² thuộc thửa đất số 119, tờ bản đồ số 02, tọa lạc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng theo Sơ đồ đo đạc hiện trạng thửa đất của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh S ngày 17/01/2024. Do việc thay đổi yêu cầu kháng cáo này không vượt quá phạm vi kháng cáo ban đầu nên được xem xét, giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều 284 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[4] Đối với nội dung kháng cáo của ông Nhâm T yêu cầu bà Y, bà Đ chấm dứt hành vi ngăn cản quyền sử dụng đất, hành vi lấn chiếm, di dời tài sản, cây trồng, vật kiến trúc trên phần đất tranh chấp, Hội đồng xét xử thấy rằng yêu cầu khởi kiện của ông T này chưa được Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý nên phần kháng cáo này không được cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều 284 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[5] Xét kháng cáo của ông Nhâm T, nhận thấy:

[5.1] Theo ông Nhâm T thì thửa đất số 119, tờ bản đồ số 02 hiện nay có diện tích không đủ 3.860,0m² đã được Ủy ban nhân dân huyện M công nhận tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C00143 ngày 21/6/1993, từ đó cho rằng phần đất tranh chấp nằm trong thửa đất này và yêu cầu bà Trương Thị Ngọc Y trả lại cho ông T. Còn bà Y xác định phần đất tranh chấp trước đây là đường nước và được hình thành từ việc sạt lỡ do người dân trong vùng dẫn dắt trâu lội nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông T.

[5.2] Theo phân công của Ủy ban nhân dân huyện T, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T đã xác định tại Công văn số 65/PTNMT ngày 06/4/2023 các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông N2 Tính ngày 21/6/1993 đối với thửa đất số 119, tờ bản đồ số 02, diện tích 3.860,0 m² và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Lý Thanh D1 ngày 13/12/1993 đối với thửa đất số 109, tờ bản đồ số 02, diện tích 1.600,0m², cùng tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện M (nay là huyện T), tỉnh Sóc Trăng theo kê khai của các bên và việc cấp giấy là đúng chủ thể, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tại thời điểm cấp. Nhưng hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thể hiện khi cấp giấy chứng nhận, Ủy ban nhân dân huyện M chỉ căn cứ theo kê khai của hai bên và không tiến hành đo đạc thực tế, không xác định ranh giới, mốc giới thửa đất nên không có số đo từng cạnh.

[5.3] Hồ sơ vụ án thể hiện thực tế sử dụng 02 thửa đất trên của 02 bên cũng như với các phần đất giáp ranh không có cọc, ranh cố định để xác định vị trí, diện tích của từng thửa. Từ đó, dẫn đến số liệu qua 03 lần đo đạc hoàn toàn khác nhau, cụ thể:

[5.3.1] Theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 24/11/2016 của Toà án nhân dân huyện Trần Đề và P1 xác nhận kết quả đo đạc kèm theo của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện T thì diện tích thửa đất số 119 là 2.777,1m²; thửa đất số 109 là 1.493,8m²; diện tích đất tranh chấp là 159,5m² và trên phần đất này có 01 đường nước chạy dài từ kênh thủy lợi lên phía Bắc (thửa đất số 118).

[5.3.2] Theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 06/6/2018 của Toà án nhân dân huyện Trần Đề và P1 xác nhận kết quả đo đạc, Sơ đồ vị trí đất của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện T diện tích thửa số 119 là 2.597,7m²; thửa số 109 là 1.429,7m²; phần đất tranh chấp có diện tích 341,7m².

[5.3.3] Theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 12/01/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng và Sơ đồ đo đạc hiện trạng ngày 17/01/2024 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh S thì diện tích thửa đất số 119 là 2.932,5m²; thửa số 109 là 1.739,5m²; phần đất tranh chấp có diện tích 139,4m².

[5.3.4] Vì vậy, phía nguyên đơn cho rằng phần đất của nguyên đơn còn thiếu chiều ngang và diện tích đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn là không có căn cứ.

[6] Quá trình giải quyết vụ án, bà Trương Thị Ngọc Y trình bày phần đất tranh chấp nằm giữa hai thửa đất số 119 và số 109 là mương nước đã có từ trước do người dân địa phương dẫn, dắt trâu lâu ngày gây sạt lỡ tạo nên. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Nhâm Thị Bình M, bà Nhâm Thị Thanh T4 trình bày mương nước này là do ông Nhâm T đào và khai thác từ khoảng năm 1976 đến nay nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh. Trong khi ông Nguyễn Văn B (là Tập đoàn T8 vào khoảng năm 1985) và ông Trần Quốc X (là thành viên của Hội đồng tư vấn hòa giải của xã T) cùng trình bày vào khoảng năm 1985 - 1986, phần đất tranh chấp giáp ranh giữa ông T và bà Y là đường mương do bà con trong xóm dẫn trâu lên xuống nhiều năm, làm đất hai bên lỡ và hình thành con mương có chiều ngang khoảng 05 mét, chiều dài hết đất. Khoảng năm 1995 - 1996, Nhà nước nạo vét kênh X, lấy đất đấp thành bờ và hiện nay là đường đal nằm trên đất của hai bên đang tranh chấp. Quá trình sử dụng, hai bên lấp mương dần và hiện nay con mương đã thu hẹp lại.

[7] Cũng tại phiên tòa phúc thẩm, những người đã từng sử dụng đường nước trên trong thời gian dài để dắt trâu, lòi lúa và chôn cất người thân ở các phần đất phía trong là ông Trương Văn N1, ông Trương Văn C1, ông Nguyễn Văn T7, ông Nguyễn Văn S1, ông Lê Văn P, ông Nguyễn Văn S, ông Đinh Văn B1, ông Huỳnh Văn Q2, ông Đinh Văn Đ1, ông Trương Văn D, ông Lê Văn S2 đều xác nhận mương nước này đã tồn tại trên 30 năm và từ trước đến nay, phần đất mà gia đình ông T và gia đình bà Y sử dụng chỉ đến bờ của mương nước mỗi bên nên đủ cơ sở xác định mương nước đã trở thành ranh giới sử dụng đất giữa hai bên.

[8] Theo quy định tại khoản 1 Điều 175 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì ranh giới giữa các bất động sản liền kề có thể được xác định theo ranh giới đã tồn tại từ 30 năm trở lên mà không có tranh chấp và mọi người có nghĩa vụ tôn trọng, duy trì ranh giới chung; không được lấn, chiếm, thay đổi mốc giới ngăn cách, kể cả trường hợp ranh giới là kênh, mương, hào, rãnh, bờ ruộng. Sau khi kháng cáo, phía ông Nhâm T không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh bà Trương Thị Ngọc Y đã lấn chiếm phần đất tranh chấp. Vì vậy, ông T kháng cáo cho rằng phần đất tranh chấp 139,4m² theo Sơ đồ đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 17/01/2024 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh S thuộc quyền sử dụng của ông T và yêu cầu bà Y trả lại cho ông T diện tích đất này là không có cơ sở chấp nhận.

[9] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu kháng cáo của ông Nhâm T và ý kiến của người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông T là không có căn cứ chấp nhận.

[10] Đại diện Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn và áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự để giữ nguyên bản án sơ thẩm là có căn cứ, nên được chấp nhận.

[11] Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[12] Ông Nhâm T phải chịu 300.000 đồng án phí phúc thẩm do án sơ thẩm được giữ nguyên theo quy định tại khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng ông T là người cao tuổi và có yêu cầu miễn án phí nên Hội đồng xét xử cho ông T được miễn nộp khoản tiền này theo tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do ông Nhâm T đã được miễn nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên không đặt ra xem xét, xử lý khoản tiền này.

[13] Ông Nhâm T phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản ở giai đoạn phúc thẩm tổng cộng là 8.302.279 đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 157, Điều 158, khoản 1 Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 và khoản 6 Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Nhâm T.
  2. Giữ nguyên Bản án số 35/2023/DS-ST ngày 12/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng như sau:
    1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Nhâm T đối với tranh chấp phần đất 50m², thuộc thửa 160, tờ bản đồ số 02, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Ông Nhâm T được quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật.
    2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nhâm T về việc yêu cầu bị đơn trả lại phần đất tranh chấp có diện tích 139,4m² thuộc thửa số 119, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
    3. Về án phí, chi phí tố tụng khác ở giai đoạn sơ thẩm:
    4. Ông Nhâm T phải chịu là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm và được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 684.250 (Sáu trăm tám mươi bốn nghìn hai trăm năm mươi) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000861 ngày 03/10/2016, trả lại cho ông N2 Tính số tiền tạm ứng án phí còn thừa là 384.250 (Ba trăm tám mươi bốn nghìn hai trăm năm mươi) đồng.

      Chi phí tố tụng khác ông Nhâm T phải chịu là 11.404.211 (Mười một triệu, bốn trăm lẻ bốn nghìn, hai trăm mười một) đồng và đã thực hiện xong. Các đương sự khác không phải chịu.

    5. Về án phí, chi phí tố tụng khác ở giai đoạn phúc thẩm:
    6. Ông Nhâm T được miễn nộp 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.

      Ông Nhâm T phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản tổng cộng là 8.302.279 đồng; ông Nhâm T đã nộp xong.

  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND huyện Trần Đề;
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - Chi cục THADS huyện Trần Đề;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, Tòa Dân sự, Phòng KTNV&THA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Vĩnh Khương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 171/2024/DS-PT ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp quyền sử dụng đất về ranh đất

  • Số bản án: 171/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất về ranh đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger