|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 171/2021/HS-ST Ngày 25-3-2021 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Duyên
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lôi Liên Minh
- Bà Thiều Thị Phi Loan
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Tiến – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Điểu Thị Hồng – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2021, tại Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 153/2021/TLST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2021; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 124/2021/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2021, đối với:
- Bị cáo: Trịnh Phong L, sinh năm 1981 tại tỉnh Hà Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Tổ 13, khu phố 5A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: Không có nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Văn L1 và bà Nguyễn Thị N; gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất và chưa có vợ con.
Tiền án: Không; tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt ngày 24/11/2020, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Biên Hòa (có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trịnh Phong L là đối tượng nghiện ma túy, để có ma túy sử dụng, khoảng 19 giờ ngày 24/11/2020, L một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda biển số 16F2-7578 đi đến khu vực cây xăng 26, thuộc khu phố 11, phường T1, thành phố B gặp một người thanh niên tên C (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 01 (một) gói ma túy đá với giá 1.500.000 đồng (một triệu, năm năm nghìn đồng) và được C cho thêm 01 (một) gói ma túy đá, mua xong L bỏ 02 (hai) gói ma túy trên vào túi nilong rồi treo trên ba ga xe mô tô. Sau đó, L điều khiển xe mô tô đi về phòng trọ của mình để sử dụng. Khi đến khu vực Tổ 20, Khu phố 2, phường T, thành phố B thì bị Công an phường T kiểm tra phát hiện bắt quả tang về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Công an phường T lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa điều tra xử lý.
Vật chứng gồm:
- 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda biển số 16F2-7578 L sử dụng đi mua ma túy. Quá trình điều tra, L khai chiếc xe mô tô trên là L mượn của một người tên Thắng (không rõ họ, địa chỉ). Qua xác minh nguồn gốc chiếc xe mô tô trên tại Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Đồng Nai thì chủ sở hữu là chị Vũ Thị Ngọc H, địa chỉ: 4/30, phường D, quận L1, thành phố Hải Phòng.
- 02 (hai) gói nilong bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng (L cho biết là ma túy dạng đá).
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, số Imei 863294049568475, sim thuê bao: 0973799288 và số tiền 2.800.000 (hai triệu, tám trăm nghìn đồng) tạm giữ của Trịnh Phong L. Quá trình điều tra xác định số tài sản trên là của L không có liên quan đến hành vi phạm tội.
Tại Kết luận giám định số 2717/KLGĐ-PC09 ngày 30/11/2020 xác định: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong và có chữ ký của Trịnh Phong L gửi đến giám định là ma túy có khối lượng 2,4550gam, loại Methamphetamine.
Tại Cáo trạng số: 188/CT-VKSBH ngày 10/3/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Trịnh Phong L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c, Khoản 1, Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự; các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ.
[2] Về hành vi bị truy tố, tội danh và các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:
Tại phiên tòa, bị cáo Trịnh Phong L thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố. Khoảng 19 giờ ngày 24/11/2020 tại khu vực Tổ 20, Khu phố 2, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Trịnh Phong L đang có hành vi tàng trữ 2,4550gam ma túy loại Methamphetamine thì bị lực lượng công an phát hiện bắt quả tang.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đủ khả năng nhận thức nhưng vẫn tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại Điểm s, Khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trịnh Phong L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng Điểm c, Khoản 1, Điều 249, Điểm s, Khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Xử phạt bị cáo Trịnh Phong L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù được tính từ ngày 24 tháng 11 năm 2020.
- Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số lượng 2,4042 gam ma túy còn lại sau giám định. Trả lại 01 điện thoại di động Vivo và số tiền 2.800.000 đồng cho bị cáo.
- Về án phí: Buộc bị cáo Trịnh Phong L phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Duyên |
Bản án số 171/2021/HS-ST ngày 25/03/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 171/2021/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2021
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trịnh Phong L bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c, Khoản 1 Điều 249 BLHS
