TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 170/2024/HS - ST Ngày: 31 - 7 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lưu Thị Hồng Vân.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Chu Thị Tuyết .
- Ông Nguyễn Quang Đạt.
Thư ký phiên toà: Ông Đặng Thanh Tùng - Thư ký Toà án nhân dân quận Thanh Xuân.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai Hương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 31/7/2024, tại Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 151/2024/TLST - HS ngày 11/7/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 168/2024/QĐXXST - HS ngày 17/7/2024 đối với bị cáo:
Trần Thị T, sinh ngày 21/11/1970 tại Nghệ An.
Nơi cư trú: bản T, xã M, huyện C, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thanh P (đã chết) và bà Trịnh Thị V (đã chết); có chồng là Nguyễn Huy T1 (đã chết) và 02 con (sinh năm 1989 và sinh năm 1996); tiền án: không; tiền sự: không;
Nhân thân:
- + Ngày 30/9/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An xử phạt 09 tháng tù, cho hưởng án treo thời gian thử thách 18 tháng về tội: “Đánh bạc” (bản án số 42/2015/HSST).
- + Ngày 22/4/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An xử phạt 06 tháng tù về tội: “Đánh bạc” (bản án số 11/2024/HSST).
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/01/2024, tạm giam từ ngày 26/01/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số II - Công an thành phố H. Có mặt.
Bị hại: Anh Trương Quang V1, sinh năm 1988; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: C K, phường H, quận T, thành phố Hà Nội; chỗ ở hiện nay: 17A, ngách D K, phường K, quận T, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Đức H, sinh năm 1987; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xóm H, xã H, huyện K, tỉnh Ninh Bình; chỗ ở hiện nay: B P, phường C, quận B, thành phố Hà Nội. Vắng mặt và có đơn xin xử vắng mặt.
- Anh Nguyễn Huy C, sinh năm 1996; nơi thường trú: bản T, xã M, huyện C, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 2000; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn X, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang; chỗ ở hiện nay: A, ngách D K, phường K, quận T, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
Người làm chứng: Cháu Trương Bảo L. Vắng mặt.
Người chứng kiến: Ông Đào Xuân M. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Thị T là người giúp việc của gia đình anh Trương Quang V1 từ khoảng tháng 9/2023. T cư trú cùng gia đình anh V1 tại địa chỉ nêu trên. Ở cùng nhà anh V1 còn có em gái song sinh của chị K là Nguyễn Thị T2 và con gái của anh V1 là cháu Trương Bảo L. Khoảng 18h00 ngày 12/01/2024, vợ chồng anh V1, chị K và chị T2 đi về quê tại Bắc Giang. Ở nhà chỉ có T và cháu L. Buổi trưa ngày 13/01/2024, T vào phòng của vợ chồng anh V1 tại tầng 3 để dọn dẹp (phòng có khóa mã số cửa nhưng T được cấp mã số “1988” để chủ động mở cửa dọn dẹp). Trong quá trình dọn nhà, T quan sát thấy trong ngăn kéo chiếc tủ ở vị trí đầu giường ngủ có nhiều tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng được dán băng dính thành một dây liền (T biết đó là dây tiền được để trong chiếc bánh sinh nhật, kéo lên để tạo bất ngờ do anh V1 tặng sinh nhật cho chị K vào mấy ngày trước đó). T đã rút số tiền này ra khỏi ngăn kéo và đếm nhanh được hơn 20 tờ mệnh giá 500.000 đồng nhưng thấy vẫn còn nhiều tiền, T ước chừng khoảng 30 triệu đồng nên không đếm nữa và nảy sinh ý định trộm cắp số tiền này. T vo tròn rồi cất giấu số tiền vào 01 chiếc túi nilon màu đen chuẩn bị từ trước định để đựng rác, sau đó T xách theo một túi nilon đen đựng rác ở trong phòng và túi nilon đen chứa dải tiền trên ra đặt ở góc cầu thang bộ tầng 3 để cất giấu tạm thời (do T biết cháu L thường không đi cầu thang bộ nên sẽ không để ý) rồi đi dọn dẹp tiếp. Khoảng 16h00 phút cùng ngày, thời điểm này cháu L đã đi học, không có ai ở nhà, T xuống tầng 3 cầm chiếc túi nilon màu đen đựng tiền trộm cắp và túi nilon đen đựng rác xuống tầng 1 đi ra khỏi nhà với mục đích là đi vứt rác, mua bánh mỳ cho cháu L và tìm chỗ vắng người để tháo băng dính của dải tiền đã trộm cắp được và mang đi cất giấu. T mang 02 túi nilon trên đi ra đường K, đi tiếp vào phố Hoàng Đạo T3 nhưng không tìm được chỗ nào vắng người qua lại nên khi đi đến gần chiếc xe gom rác để ở sát vỉa hè phố H, cạnh trụ sở UBND phường K (cách nhà anh V1 khoảng 300 mét), biết chiếc xe này buổi tối mới có người đến gom rác và cũng không biết giấu tiền ở đâu nên T đã vứt bỏ túi rác và cất giấu tạm chiếc túi nilong màu đen đựng số tiền trộm cắp được vào góc bên trong của xe rồi đi về đầu ngõ C H T3 để mua bánh mỳ cho cháu L. Mua bánh mỳ xong, T đi đến chỗ xe gom rác để lấy túi nilon đựng tiền thì không thấy chiếc xe nữa. Lúc này, T nhìn thấy cháu L dừng xe tại đầu chợ K1 để đón T, sợ cháu L phát hiện việc trộm cắp nên T đã không tìm kiếm chiếc xe rác nữa mà chạy ra chỗ cháu L để cháu L chở về nhà.
Ngày 15/01/2024, anh V1 từ Bắc Giang về nhà đã kiểm tra ngăn kéo phòng ngủ tầng 3 và phát hiện thấy bị mất dải tiền gồm 60 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, tổng số tiền là 30.000.000 đồng được anh V1 dán băng dính cất trong ngăn kéo, tiếp tục kiểm tra thì phát hiện bị mất thêm 01 nhẫn bằng vàng trắng 18K (anh V1 không nhớ khối lượng chiếc nhẫn là bao nhiêu), xung quanh nạm nhiều viên kim cương tự nhiên nhỏ, ở mặt nhẫn thiết kế thành hình chữ “H” và ở giữa có 01 (một) viên kim cương tự nhiên to đường kính 6.5 ly GIV độ tinh khiết VVS1 (viên kim cương tự nhiên đã được kiểm định và có giấy kiểm định hợp pháp theo giấy chứng thư số K 50183 do Viện đá quý - vàng và Trang sức Việt cấp), giá trị chiếc nhẫn: phần ổ nhẫn có giá 58.000.000 đồng và viên kim cương tự nhiên có giá là 145.000.000 đồng. Tổng giá trị chiếc nhẫn anh V1 bị mất là 203.000.000 đồng. Chiếc nhẫn trên được anh V1 mua vào ngày 05/10/2019 tại 01 cửa hàng trang sức trên phố H, H, Hà Nội (do thời gian đã lâu nên anh V1 không nhớ địa chỉ cụ thể). Thời điểm anh V1 mua thì có hóa đơn mua bán tuy nhiên sau đó đã bị thất lạc, chỉ còn giấy kiểm định kim cương tự nhiên đối với viên kim cương trong chiếc nhẫn. Thấy anh V1 bị mất trộm tài sản, chị T2 cũng kiểm tra lại tài sản của mình tại phòng ngủ tầng 05 thì phát hiện bị mất các tài sản gồm: 01 nhẫn vàng trắng, xung quanh nhẫn đính đá dạng kim cương, mặt nhẫn bên trên đính 01 viên đá dạng kim cương to, trước khi về quê ngày 12/01/2023, chị T2 tháo ra để trên kệ bên trái bàn trang điểm; 01 hộp vuông nắp gập bên trong đựng 02 (hai) nhẫn vàng trắng; 04 (bốn) nhẫn vàng tây; 02 (hai) dây chuyền vàng tây (toàn bộ trang sức của chị T2 đều được tặng, không cung cấp được giấy tờ mua bán). Chiếc hộp này chị T2 để trong ngăn kéo đầu tiên bên phải của bàn trang điểm trong phòng. Trị giá số tài sản trên của chị T2 khoảng 24.000.000 đồng. Do vậy, ngày 16/01/2024, anh V1, chị T2 đã đến cơ quan công an trình báo sự việc.
Biết anh V1 đã trình báo vụ việc nên T đã đến Cơ quan Công an đầu thú và khai nhận hành vi trộm cắp tài sản là số tiền 30.000.000 đồng như đã nêu trên, phù hợp với tài liệu điều tra thu thập được. T khai nhận, ngoài số tiền trên, T không trộm cắp tài sản nào khác của gia đình anh V1. Cơ quan công an đã thu giữ của T: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme 2 màu xanh, số imei: 861599042053636, imei2: 861599042053628, bên trong lắp sim số 0886389267, 0345968716.
Quá trình đấu tranh, T thừa nhận còn trộm cắp tài sản là 01 chiếc nhẫn vàng trắng, mặt nhẫn thiết kế hình chữ H của anh Trương Quang V1. T khai nhận: quá trình T làm giúp việc tại nhà anh V1, khoảng đầu tháng 12/2023 T phát hiện thấy 01 chiếc nhẫn chất liệu kim loại màu trắng, xung quanh có nạm nhiều viên đá nhỏ, ở mặt nhẫn thiết kế thành hình chữ “H”, ở giữa chiếc nhẫn được thiết kế lắp 01 viên đá lớn ở sàn nhà trước cửa phòng riêng của anh V1 tại tầng 3. Ý thức chủ quan của T biết đây là chiếc nhẫn của anh V1 vì trước đó T đã nhiều lần nhìn thấy anh V1 đeo trên tay và biết rõ chiếc nhẫn này có giá trị cao. Do cần tiền tiêu xài nên T đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc nhẫn này bán lấy tiền. Thực hiện ý định, T không báo cho anh V1 biết việc chiếc nhẫn bị rơi mà trộm cắp chiếc nhẫn và cất giấu tại ngăn kéo ở bàn cạnh chân giường phòng riêng của T tại tầng 5. Đến ngày 07/12/2023, T truy cập vào mạng xã hội Facebook và tìm thấy trang F “Chuyên thu mua vàng Tây, trang sức giá cao nhất tại thị trường Hà Nội", chủ trang Fanpage là anh Nguyễn Đức H. T sử dụng tài khoản Facebook “Phương Thanh” của mình nhắn tin với nội dung chào bán cho anh H chiếc nhẫn T đã trộm cắp của anh V1. Quá trình trao đổi, T và anh H thống nhất hẹn gặp giao dịch mua bán chiếc nhẫn trên tại đường K, quận T, thành phố Hà Nội. Khoảng 13h30' ngày 08/12/2023, T gặp anh H tại khu vực bờ tường bên cạnh trụ sở công an phường K, quận T, Hà Nội. Tại đây, T đã đưa cho anh H chiếc nhẫn nêu trên để kiểm tra. Sau khi cân trọng lượng và kiểm tra xong, anh Hợp đề n thu mua chiếc nhẫn trên với giá 14.500.000 đồng, T đồng ý. Anh H sử dụng tài khoản số 0491000096593 mở tại ngân hàng V3, chủ tài khoản Nguyễn Đức H chuyển khoản số tiền trên vào tài khoản số 9704229207367423666, mở tại ngân hàng M1 của T. Sau khi nhận được số tiền 14.500.000 đồng, T đã chi tiêu cá nhân hết. Ngoài ra, T khẳng định không trộm cắp tài sản của chị T2. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 77 ngày 09 tháng 04 năm 2024 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân quận T, TP . đã kết luận:
01 (một) chiếc nhẫn bằng vàng trắng 18K, xung quanh nạm nhiều viên kim cương tự nhiên nhỏ, mặt nhẫn thiết kế thành hình chữ "H", ở giữa đính 01 viên kim cương tự nhiên (có số chứng thư K50183 do V4 và trang sức V2 cung cấp; hình dạng: tròn, kiểu mới, tía mặt trời; trọng lượng 1.024 carat; độ tinh khiết VVS-1; đường kính 6.56mm) (Đã qua sử dụng, tài sản không thu được) trong đó:
- + Giá trị 01 viên kim cương tự nhiên (có số chứng thư K50183 do V4 và trang sức V2 cung cấp; hình dạng: tròn, kiểu mới, tỉa mặt trời; trọng lượng 1.024 carat; độ tinh khiết VVS-1; đường kính 6.56mm) là 203.000.000 đồng.
- + Giá trị chiếc nhẫn bằng vàng trắng 18K do không có khối lượng cụ thể nên không xác định được giá.
Kết luận về giá tài sản của Hội đồng (thời điểm định giá tháng 1/2024) là: 203.000.000 đồng (Hai trăm linh ba triệu đồng chẵn).
Quá trình điều tra, con trai của T là anh Nguyễn Huy C đã tự nguyện thay mẹ khắc phục hậu quả, bồi thường cho anh V1 số tiền 30.000.000 đồng Thanh đã trộm cắp. Anh V1 yêu cầu T phải bồi thường tiếp số tiền 203.000.000 đồng là giá trị chiếc nhẫn mà T đã trộm cắp đồng thời có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho T.
Bản Cáo trạng số 147/CT-VKSTX ngày 09/7/2024 Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội đã quyết định: truy tố bị cáo Trần Thị T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và luận tội có quan điểm vẫn giữ nguyên quan điểm như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; Điều 38; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thị T từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp với phần hình phạt 06 tháng tù tại Bản án số 11/2024/HSST ngày 22 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án từ 08 năm tù đến 08 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/01/2024, nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 21/12/2023 đến ngày 27/12/2023 tại Bản án số 11/2024/HSST ngày 22 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An, miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
- - Về biện pháp tư pháp: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47; khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
- + Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme 2 màu xanh, số Imeil: 861599042053636, Imei2: 861599042053628.
- + Tịch thu tiêu hủy 02 sim số điện thoại 0886.389.xxx và 0345.968.716
- - Về trách nhiệm dân sự: áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46; Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584 và Điều 589 Bộ luật Dân sự, xác định trách nhiệm bồi thường của bị cáo cho bị hại cụ thể: thiệt hại về tài sản do bị cáo đã chiếm đoạt của anh V1 theo kết quả của Hội đồng định giá tài sản đã xác định là 203.000.000 đồng.
Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận gì đối với luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và bị cáo nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật và xin được nhận mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]Về hành vi, quyết định tố tụng:
Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Đánh giá về hành vi của bị cáo theo tội danh, điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự mà Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân đã truy tố:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Thị T đều khai nhận: bản thân bị cáo là giúp việc trong nhà anh Trương Quang V1. Khoảng đầu tháng 12/2023 trong quá trình làm giúp việc thì bị cáo có thấy trước cửa phòng anh V1 có rơi 01 chiếc nhẫn. Bị cáo biết rằng đó là nhẫn của anh V1 do trước đó đã thấy anh V1 đeo nhiều lần. Do nổi sinh lòng tham, bị cáo đã không báo với anh V1 mà nhặt chiếc nhẫn giấu vào ngăn kéo tủ ở phòng riêng của bị cáo trên tầng 5. Đến ngày 07/12/2023, bị cáo có tìm trên Facebook để bán chiếc nhẫn trên và tìm được người mua nhẫn là anh Nguyễn Đức H, khoảng 13 giờ 30 phút ngày 08/12/2023, bị cáo và anh H có hẹn giao dịch với nhau tại bờ tường bên cạnh trụ sở của Công an phường K. Tại đây, bị cáo và anh H đã thống nhất với nhau giá mua là 14.500.000 đồng. Sau đó, anh H đã chuyển số tiền 14.500.000 đồng cho bị cáo. Trong quá trình mua bán, bị cáo không nói nhẫn là do trộm cắp được của anh V1. Tiếp đến ngày 12/01/2024 thì gia đình anh V1 đi về quê tại Bắc Giang ở nhà chỉ có bị cáo và cháu L. Trưa ngày 13/01/2024, khi đang dọn dẹp ở trong phòng vợ chồng anh V1 thì bị cáo thấy trong ngăn kéo tủ ở vị trí đầu giường có nhiều tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng được dính với nhau thành băng dính dải dài. Bị cáo đã rút số tiền này ra khỏi ngăn kéo và đếm nhanh được hơn 20.000.000 đồng nhưng thấy vẫn còn nhiều tiền nên bị cáo đã nảy sinh ý định trộm cắp số tiền này Bị cáo đã vo tròn tiền cho vào túi ni lông màu đen và xách túi ni lông ra đặt ở góc cầu thang bộ tầng 3. Khoảng 16 giờ cùng ngày lợi dụng lúc cháu L đi học và không có ai ở nhà bị cáo đã mang túi ni lông đựng số tiên trên đi tìm chỗ vắng người để cất giấu. Do không tìm được chỗ nào vắng người nên khi đi đến gần chiếc xe rác cạnh trụ sở UBND phường K bị cáo đã giấu tạm chiếc túi đựng tiền vào góc bên trong của xe rác rồi đi mua bánh mì cho cháu L. Khi mua bánh mỳ xong, bị cáo quay lại thì không thấy xe đâu nữa. Lúc này do cháu L không có chìa khóa vào nhà nên có gọi bị cáo và đợi đón bị cáo ở đầu chợ. Do lo sợ bị phát hiện nên bị cáo đã không tìm xe rác nữa và đi cùng cháu L về nhà.
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và những người làm chứng; lời khai của bị cáo cũng phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 77 ngày 09/4/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong Tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân quận T, thành phố Hà Nội kết luận:
“01 (một) chiếc nhẫn bằng vàng trắng 18K, xung quanh nạm nhiều viên kim cương tự nhiên nhỏ, mặt nhẫn thiết kế thành hình chữ "H", ở giữa đính 01 viên kim cương tự nhiên (có số chứng thư K50183 do V4 và trang sức V2 cung cấp; hình dạng: tròn, kiểu mới, tía mặt trời; trọng lượng 1.024 carat; độ tinh khiết VVS-1; đường kính 6.56mm) (Đã qua sử dụng, tài sản không thu được) trong đó:
- + Giá trị 01 viên kim cương tự nhiên (có số chứng thư K50183 do V4 và trang sức V2 cung cấp; hình dạng: tròn, kiểu mới, tỉa mặt trời; trọng lượng 1.024 carat; độ tinh khiết VVS-1; đường kính 6.56mm) là 203.000.000 đồng.
- + Giá trị chiếc nhẫn bằng vàng trắng 18K do không có khối lượng cụ thể nên không xác định được giá.
Kết luận về giá tài sản của Hội đồng (thời điểm định giá tháng 1/2024) là: 203.000.000 đồng (Hai trăm linh ba triệu đồng chẵn).”
Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: trong khoảng thời gian từ tháng 12/2023 đến ngày 12/01/2024, tại số nhà A, ngách D K, phường K, quận T, thành phố Hà Nội. Trần Thị T đã có hành vi trộm cắp tài sản là 30.000.000 đồng và 01 chiếc nhẫn vàng trắng, mặt nhẫn hình chữ “H”, đính kim cương, trị giá 203.000.000 đồng của anh Trương Quang V1. Tổng giá trị tài sản mà Trần Thị T trộm cắp là: 233.000.000 đồng.
Hành vi của bị cáo Trần Thị T đã phạm vào tội "Trộm cắp tài sản", tội danh và hình phạt quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, Bản cáo trạng số 147/CT-VKS ngày 09/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội và lời buộc tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, luận tội tại phiên tòa là có đủ cơ sở, cần được chấp nhận.
[3] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
- - Về nhân thân của bị cáo: bị cáo là người có nhân thân xấu khi đã 02 lần bị Tòa án xử phạt về hành vi: “Đánh bạc”.
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo T bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường số tiền 30.000.000 đồng cho bị hại; sau khi phạm tội bị cáo đã đầu thú và bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên cần cho hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình giải quyết vụ án, anh Trương Quang V1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền là 203.000.000 đồng là giá trị của chiếc nhẫn mà bị cáo đã chiếm đoạt theo kết luận của Hội đồng định giá. Xét thấy, đây là yêu cầu bồi thường chính đáng của bị hại. Căn cứ vào Điều 48 của Bộ luật Hình sự buộc bị cáo phải bồi thường cho anh V1 số tiền 203.000.000 đồng.
[5] Về hướng xử lý đối với bị cáo:
Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, bị cáo là người đã thành niên có đầy đủ nhận thức. Do đó, cần phải bị xử lý thật nghiêm trước pháp luật, như vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay. Căn cứ vào tính chất của vụ án, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo T ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nữa thì mới có điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội. Do bị cáo hiện nay không có công ăn việc làm ổn định nên miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng của vụ án các vấn đề khác của vụ án:
- - Đối với 01 chiếc điện thoại đã thu giữ của bị cáo, chiếc điện thoại trên liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
- - Đối với 02 sim có số điện thoại 0886.389.xxx và 0345.968.716 có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với anh H là người thu mua chiếc nhẫn gắn kim cương, mặt hình chữ “H” của T. Xét thấy, về ý thức chủ quan, anh H không biết chiếc nhẫn do T bán là do phạm tội mà có, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- - Đối với yêu cầu của chị T2, trình báo bị mất các tài sản và nghi ngờ T là người trộm cắp các tài sản trên, xét thấy chị T2 không cung cấp được giấy tờ mua bán các loại trang sức, không có tài liệu khác mô tả chính xác đặc điểm, chủng loại tài sản, chỉ cung cấp được hình ảnh chụp có đeo các tài sản trên nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để yêu cầu định giá tài sản. Quá trình điều tra, T khẳng định không trộm cắp tài sản của chị T2. Tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án không đủ căn cứ chứng minh T trộm cắp số trang sức nêu trên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[7] Về án phí:
Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật và phải chịu án phí về trách nhiệm bồi thường dân sự theo quy định của pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm a khoản 3 Điều 173; Điều 38; các điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47; Điều 48; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và khoản 2 Điều 56 của Bộ luật Hình sự;
- Điều 357; Điều 468; Điều 584; Điều 589 của Bộ luật Dân sự;
- Khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 260; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Điểm a, c khoản 1 Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: tuyên bố bị cáo Trần Thị T phạm tội: "Trộm cắp tài sản".
- Về hình phạt: xử phạt bị cáo Trần Thị T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, tổng hợp với hình phạt 06 (sáu) tháng tù tại Bản án số 11/2024/HSST ngày 22 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 08 (tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/01/2024, nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 21/12/2023 đến ngày 27/12/2023 tại Bản án số 11/2024/HSST ngày 22 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.
- Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo Trần Thị T phải bồi thường cho bị hại anh Trương Quang V1 số tiền là 203.000.000đ (hai trăm linh ba triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về biện pháp tư pháp:
- - Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme 2 màu xanh, số Imei1: 861599042053636; Imei2: 861599042053628.
- - Tịch thu tiêu hủy 02 sim số điện thoại 0886.389.xxx và 0345.968.716
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24/7/2024 giữa Công an quận T và Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Xuân)
- Về án phí: Bị cáo Trần Thị T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 10.150.000đ (mười triệu, một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Tổng cộng bị cáo T phải chịu 10.350.000đ (mười triệu, ba trăm năm mươi nghìn đồng) tiền án phí.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai./.
Nơi nhận:
- - Bị cáo, bị hại; NCQLNVLQ;
- - TAND thành phố Hà Nội;
- - Viện KSND quận Thanh Xuân;
- - Viện KSND thành phố Hà Nội;
- - Cơ quan điều tra CA quận Thanh Xuân;
- - Cơ quan THAHS CA quận Thanh Xuân;
- - Chi cục THADS quận Thanh Xuân;
- - Trại tạm giam số II - Công an TP. Hà Nội;
- - Lưu VT, HS, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lưu Thị Hồng Vân |
Bản án số 170/2024/HS - ST ngày 31/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 170/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trần Thị T phạm tội Trộm cắp tài sản
