Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 170/2024/HS-ST

Ngày: 29-8-2024

 

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,

TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thanh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Bình

Bà Nguyễn Thị Minh Trâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Uyên Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 149/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 166/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Dương Quốc D, sinh năm 1993 tại Ninh Thuận.

Nơi cư trú: Khu phố D, phường M, thành phố P- T, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn B, sinh năm 1972 và bà Dương Phạm Bích T, sinh năm 1972; có vợ tên Nguyễn Thị Thu S, sinh năm 1995 và có 01 người con sinh năm 2021.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • Ngày 14/11/2013, Trần Dương Quốc D bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang-T xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tại Bản án số: 105/2013/HS-ST, đến ngày 23/5/2014 chấp hành xong hình phạt tù.
  • Ngày 13/12/2014 Trần Dương Quốc D bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang-T xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tại Bản án số 135/2014/HSST.
  • Ngày 09/02/2015 Trần Dương Quốc D bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang-T xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tại bản án số 06/2015/HSST. Tổng hợp với bản án số 135/2014/HSST là 02 năm 03 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/8/2016.

Bị cáo hiện đang chấp hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Bà Nguyễn Anh T1, sinh năm 1981 (vắng mặt). Nơi cư trú: Khu phố E, phường T, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
  • Bà Võ Thị H, sinh năm 1966 (vắng mặt). Nơi cư trú: Khu phố F, phường T, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
  • Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1973 (vắng mặt). Nơi cư trú: Khu phố F, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
  • Bà Lê Thị Tuyết H1, sinh năm 1967 (vắng mặt). Nơi cư trú: Khu phố C, phường T, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
  • Bà Lê Thị Xuân T2, sinh năm 1958 (vắng mặt). Nơi cư trú: Khu phố C, phường M, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
  • Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1987 (vắng mặt). Nơi cư trú: Khu phố A, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 18 giờ 35 phút ngày 29/01/2024, Công an thành phố P-T tiến hành tuần tra kiểm soát phòng chống tội phạm trên tuyến đường B thuộc khu phố C, phường M, phát hiện Trần Dương Quốc D đang điều khiển xe mô tô biển số 85B1 – 672.09 nhãn hiệu Exciter, màu đỏ đen có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu D dừng xe mô tô kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện trong cốp xe mô tô của D có 01 cuốn sổ ghi nội dung thể hiện việc D cho nhiều người vay tiền để lấy lãi nên tổ tuần tra tiến hành lập biên bản, tạm giữ: 01 cuốn sổ kẻ ô vuông hiệu The Bicycle có 07 tờ giấy ghi nội dung cho vay tiền; 01 xe mô tô biển số 85B1 – 672.09, nhãn hiệu Exciter, màu đỏ đen và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5s, màu bạc.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã xác định được Trần Dương Quốc D cho vay và lấy lãi, như sau:

Do muốn thu lợi từ việc cho người khác vay tiền, nên trong khoảng thời gian thời gian từ tháng 11/2022 đến ngày 29/01/2024, D đã cho nhiều người trên địa bàn thành phố P - T vay tiền lấy lãi với lãi suất từ 182.5%/năm đến 456%/năm, cao gấp 09 lần đến 22.8 lần so với mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự, hình thức cho vay tiền đứng và vay trả góp, tiền lãi được tính và trả theo ngày dựa theo số tiền gốc, lãi suất theo thoả thuận giữa hai bên. Khi cần vay tiền, người vay liên hệ với D qua điện thoại để thỏa thuận cụ thể số tiền vay và lãi suất vay. Người vay tiền không phải thế chấp tài sản hay làm giấy tờ, hợp đồng gì cả. D sử dụng điện thoại di động hiệu Iphone 5s, màu bạc và xe mô tô biển số 85C1-262.79, nhãn hiệu Nouvo màu xanh trắng làm phương tiện để liên lạc và đi lấy tiền gốc, lãi của những người vay, cụ thể:

  1. Chị Nguyễn Anh T1 (sinh năm: 1981, cư trú tại: Khu phố E, phường T): Từ ngày 14/11/2022 đến ngày 21/01/2024, chị T1 đã vay tiền của D 09 lần, với tổng số tiền 105.000.000 đồng với hình thức vay đứng và vay trả góp với lãi suất từ 182.5% đến 347%/năm). D đã thu tiền lãi của T1 với số tiền là 63.300.000 đồng (trong đó số tiền thu lợi hợp pháp là 3.876.712 đồng, số tiền thu lợi bất hợp pháp là 59.423.288 đồng). Chị T1 đã nợ gốc cho D số tiền 92.400.000 đồng, tiền gốc chưa trả là 12.600.000 đồng.
  2. Bà Võ Thị H (sinh năm: 1966, cư trú tại: Khu phố F, phường T): Từ ngày 27/11/2023 đến ngày 15/1/2024, bà H đã vay tiền của D 01 lần với số tiền 5.000.000 đồng, lãi suất 365%/năm, D thu lãi của bà H với số tiền số tiền 2.450.000 đồng (trong đó số tiền thu lợi hợp pháp là 134.247 đồng, tiền thu lợi bất chính là 2.315.753 đồng). Bà H chưa trả tiền nợ gốc cho D.
  3. Bà Nguyễn Thị L (sinh năm: 1973, cư trú tại: Khu phố F, phường P): Từ ngày 11/11/2023 đến ngày 07/12/2023, bà L đã vay tiền của D 01 lần với số tiền 5.000.000 đồng, lãi suất 365%/năm, D đã thu lãi của bà L với số tiền 1.300.000 đồng (trong đó số tiền thu lợi hợp pháp là 71.233 đồng, số tiền thu lợi bất hợp pháp là 1.228.767 đồng). Bà L đã trả hết tiền nợ gốc cho D.
  4. Chị Nguyễn Thị L1 ( sinh năm: 1987, cư trú tại: Khu phố A, phường P): Từ ngày 03/11/2023 đến ngày 29/01/2024, chị L1 vay tiền của D 01 lần với số tiền 7.000.000 đồng, lãi suất 365%/năm, D đã thu lãi của chị L1 với số tiền là 6.090.000 đồng (trong đó số tiền thu lợi hợp pháp là 333.699 đồng, số tiền thu lợi bất hợp pháp là 5.756.301 đồng). Bà L1 chưa trả tiền nợ gốc cho D.
  5. Bà Lê Thị Tuyết H1 (sinh năm: 1967, cư trú tại: Khu phố C, phường T): Từ ngày 03/11/2023 đến ngày 29/1/2024, bà H1 đã vay tiền của D 02 lần với tổng số tiền là 7.000.000 đồng, lãi suất 365%/năm, D đã thu lãi của bà H1 với số tiền 5.390.000 đồng (trong đó, số tiền thu lợi hợp pháp là 295.342 đồng, số tiền thu lợi bất hợp pháp là 5.094.658 đồng). Bà H1 chưa trả tiền nợ gốc cho D.
  6. Bà Lê Thị Xuân T2 (sinh năm: 1958, cư trú tại: Khu phố C, phường M): Từ ngày 06/11/2023 đến ngày 02/12/2023, bà T2 đã vay tiền của D 01 lần với số tiền 5.000.000 đồng, lãi suất 365%/năm, D đã thu lãi của bà T2 với số tiền 1.300.000 đồng (trong đó, số tiền thu lợi hợp pháp là 71.233 đồng, số tiền thu lợi bất hợp pháp là 1.228.767 đồng). Bà T2 đã trả hết tiền nợ gốc cho D.

Ngoài ra, bị can D khai nhận đã cho chị Nguyễn Hồ Thái N (sinh năm: 1989, thường trú tại Khu phố B, phường Đ), vay số tiền 7.000.000 đồng với lãi suất 365%/năm. Tuy nhiên, quá trình điều tra xác minh cho thấy chị N đã bỏ đi khỏi địa phương nên đến nay Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa làm việc được với chị N.

Căn cứ Nghị Quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao xác định: Trần Dương Quốc D đã thực hiện hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự đối với 06 người, với tổng số tiền cho vay là 134.000.000 đồng, đã thu lợi bất chính số tiền 75.047.534 đồng. (Kèm theo Bảng thống kê chi tiết)

(Bút lục số: 22-83; 144-148; 152-154; 157-181; 01 đĩa DVD chứa kết quả giám định dữ liệu điện tử liên quan vụ án).

Cáo trạng số: 152/CT-VKSPRTC ngày 16/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận truy tố bị cáo Trần Dương Quốc D về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 của Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng nêu trên.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang-T, tỉnh Ninh Thuận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố: Bị cáo Trần Dương Quốc D phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

- Áp dụng: Khoản 1, khoản 3 Điều 201; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Dương Quốc D mức án từ 15 (mười lăm) đến 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ. Đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo D từ 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) đến 40 (bốn mươi triệu đồng).

- Về biện pháp tư pháp: Căn cứ các Điều 46, 47, Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

  • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5s. Đây là phương tiện Trần Dương Quốc D sử dụng vào việc phạm tội.
  • - Đối với 01 xe mô tô biển số 85B1 – 672.09 nhãn hiệu Exciter, màu đỏ đen do bị can D là chủ sở hữu, không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho D là có căn cứ.
  • - Đối với xe mô tô biển số 85C1-262.79, hiệu Nouvo SX, màu trắng xanh là phương tiện bị can D sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Qua điều tra xác định ban đầu, xe mô tô trên thuộc sở hữu của bà bà Nguyễn Thị Kim H2, sinh năm: 1970, cư trú tại: thôn K, xã T, huyện N (là mẹ vợ của bị can D). Bà H2 không biết việc D lấy xe dùng vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu giữ và đề nghị xử lý là phù hợp.
  • - Buộc bị cáo D phải nộp lại số tiền 102.400.000 đồng là tiền bị cáo sử dụng cho vay mà người vay đã trả và số tiền 4.782.466 đồng là tiền thu lợi hợp pháp để sung vào Ngân sách nhà nước.
  • - Buộc bị cáo D trả lại số tiền thu lợi bất chính cho những người vay tổng số tiền 75.047.534 đồng, cụ thể:
    • + Trả lại cho bà Nguyễn Anh T1 số tiền 59.423.288 đồng
    • + Trả lại cho bà Võ Thị H số tiền 2.315.753 đồng
    • + Trả lại cho bà Nguyễn Thị L số tiền 1.228.767 đồng
    • + Trả lại cho bà Nguyễn Thị L1 số tiền 5.756.301 đồng
    • + Trả lại cho bà Lê Thị Tuyết H1 số tiền 5.094.658 đồng
    • + Trả lại cho bà Lê Thị Xuân T2 số tiền 1.228.767 đồng
  • - Buộc những người vay phải giao nộp tổng số tiền 31.600.000 đồng là tiền bị can D sử dụng cho vay nhưng người vay chưa trả để sung vào Ngân sách nhà nước. Cụ thể:
    • + Buộc bà Nguyễn Anh T1 phải nộp số tiền 12.600.000 đồng
    • + Buộc bà Võ Thị H phải nộp số tiền 5000.000 đồng
    • + Buộc bà Nguyễn Thị L1 phải nộp số tiền 7.000.000 đồng
    • + Buộc bà Lê Thị Tuyết H1 phải nộp số tiền 7.000.000 đồng
  • - Đề nghị Cơ quan thi hành án dân sự tiếp tục tạm giữ số tiền 10.000.000 đồng mà bị can D đã nộp để đảm bảo thi hành án.

Bị cáo không tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố P - T; Cơ quan điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa nên có cơ sở xác định: Trong khoảng thời gian từ ngày 14/11/2022 đến ngày 29/01/2024, trên địa bàn thành phố P - T, Trần Dương Quốc D đã thực hiện hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự đối với 06 người, với tổng số tiền cho vay là 134.000.000 đồng, mức lãi suất từ 182,5% đến 456%/năm vượt gấp 09 lần đến 22,8 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính với tổng số tiền 75.047.534 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự. Do đó Cáo trạng số: 152/CT-VKSPRTC ngày 16/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang-T truy tố bị cáo Trần Dương Quốc D về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 của Bộ luật hình sự là có cơ sở, đúng pháp luật.

[3] Bị cáo là người đã trưởng thành, có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, biết rõ hành vi cho vay lãi nặng là vi phạm pháp luật nhưng vì tư lợi bị cáo đã lợi dụng khó khăn về tài chính của người khác để thu lợi bất chính từ việc cho vay lãi nặng. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, coi thường pháp luật, tham lam tư lợi cá nhân, không những xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực tài chính tiền tệ mà còn xâm phạm đến quyền lợi của công dân được pháp luật bảo vệ, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương nên Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tương ứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo có nhân thân xấu; Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tự nguyện nộp 10.000.000 đồng để sung Ngân sách Nhà nước. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt:

Trên cơ sở phân tích, đánh giá mức độ nguy hiểm về hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như xem xét đầy đủ về nhân thân, các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo là phù hợp với quy định của Điều 36 Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội vì mục đích lợi nhuận, thu lợi bất chính nên cần áp dụng khoản 3 Điều 201 Bộ luật Hình sự phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền nộp vào ngân sách Nhà nước.

[7] Về khấu trừ thu nhập: Theo quy định của pháp luật, bị cáo phải nộp lại khoản tiền dùng để cho vay, tiền lãi theo mức lãi suất cao nhất của Bộ luật Dân sự mà các bị cáo đã thu để sung Ngân sách Nhà nước; tiền thu lợi bất chính mà bị cáo đã thu để trả lại cho những người vay và đã áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo nên miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

[8] Về biện pháp tư pháp:

[8.1] Đối với 01 cuốn sổ kẻ ô vuông hiệu The Bicycle có 07 tờ giấy có ghi các chữ số thể hiện nội dung bị can Trần Dương Quốc D cho những người trên vay tiền, là chứng cứ nên tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án.

[8.2] Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5s, màu bạc; đây là phương tiện Trần Dương Quốc D sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

[8.3] Đối với 01 xe mô tô biển số 85B1 – 672.09 nhãn hiệu Exciter, màu đỏ đen do bị cáo D là chủ sở hữu, không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho D là có căn cứ.

[8.4] Đối với xe mô tô biển số 85C1-262.79, hiệu Nouvo SX, màu trắng xanh là phương tiện bị cáo D sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Qua điều tra xác định ban đầu, xe mô tô trên thuộc sở hữu của bà bà Nguyễn Thị Kim H2, sinh năm: 1970, cư trú tại: thôn K, xã T, huyện N (là mẹ vợ của bị can D). Bà H2 không biết việc D lấy xe dùng vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu giữ và đề nghị xử lý là phù hợp.

[8.5] Đối với số tiền gốc 134.000.000 đồng mà bị cáo dùng để cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự là phương tiện phạm tội nên tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước. Trong đó:

[8.5.1] Số tiền vay gốc những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã trả cho bị cáo là 102.400.000 đồng gồm bà Nguyễn Anh T1 đã trả 92.400.000 đồng, bà Nguyễn Thị L đã trả 5.000.000 đồng, bà Lê Thị Xuân T2 đã trả 5.000.000 đồng. Do đó, buộc bị cáo có nghĩa vụ nộp lại số tiền 102.400.000 đồng sung Ngân sách Nhà nước.

[8.5.2] Số tiền vay gốc mà những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chưa trả cho bị cáo gồm bà Nguyễn Anh T1 còn nợ gốc 12.600.000 đồng; bà Võ Thị H còn nợ gốc 5.000.000 đồng; bà Nguyễn Thị L1 còn nợ gốc 7.000.000 đồng, bà Lê Thị Tuyết H1 còn nợ gốc 7.000.000 đồng nên truy thu của bà Nguyễn Anh T1, bà Võ Thị H, bà Nguyễn Thị L1 và bà Lê Thị Tuyết H1 tương ứng với số tiền đã vay chưa trả cho bị cáo D để nộp Ngân sách Nhà nước.

[8.6] Đối với số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo D đã thu lãi của những người vay là 4.782.466 đồng là khoản tiền phát sinh từ tội phạm nên buộc bị cáo nộp lại để sung ngân sách nhà nước.

[8.7] Đối với số tiền thu lợi bất chính 75.047.534 đồng, buộc bị cáo phải trả lại cho những người vay gồm: trả lại cho bà Nguyễn Anh T1 số tiền 59.423.288 đồng; trả lại cho bà Võ Thị H số tiền 2.315.753 đồng; trả lại cho bà Nguyễn Thị L số tiền 1.228.767 đồng; trả lại cho bà Nguyễn Thị L1 số tiền 5.756.301 đồng; trả lại cho bà Lê Thị Tuyết H1 số tiền 5.094.658 đồng; trả lại cho bà Lê Thị Xuân T2 số tiền 1.228.767 đồng.

[8.8] Tiếp tục tạm giữ số tiền 10.000.000 đồng mà bị cáo đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0001546 ngày 23/7/2024 và số 0001610 ngày 22/8/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Rang – T để đảm bảo thi hành án.

[9] Xét quan điểm của Viện Kiểm sát về việc định tội và định khung hình phạt; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt áp dụng đối với bị cáo là cơ bản phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[10] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng:

Khoản 1,3 Điều 201; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Dương Quốc D phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Dương Quốc D 24 (Hai mươi bốn) tháng cải tạo không giam giữ.

Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Trần Dương Quốc D cho Ủy ban nhân dân phường M là nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Về hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo Trần Dương Quốc D số tiền 30 triệu đồng (Ba mươi triệu đồng).

2. Về biện pháp tư pháp:

Áp dụng: Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

2.1. Tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án đối với 01 cuốn sổ kẻ ô vuông hiệu The Bicycle có 07 tờ giấy có ghi các chữ, số thể hiện nội dung bị can Trần Dương Quốc D cho những người trên vay tiền.

2.2. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5s, màu bạc theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 01/8/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P – T và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Rang – T.

2.3. Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước tổng số tiền 138.782.466 đồng (Một trăm ba mươi tám triệu bảy trăm tám mươi hai nghìn bốn trăm sáu mươi sáu đồng), cụ thể các khoản như sau:

  • - Truy thu của bị cáo Trần Dương Quốc D số tiền 102.400.000 đồng là tiền vay gốc những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã trả cho bị cáo và số tiền 4.782.466 đồng là tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo D đã thu lãi của những người vay, tổng cộng là 107.182.466 đồng (Một trăm lẻ bảy triệu một trăm tám mươi hai nghìn bốn trăm sáu mươi sáu đồng) để sung vào Ngân sách Nhà nước. Tiếp tục tạm giữ số tiền 10.000.000 đồng mà bị cáo đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0001546 ngày 23/7/2024 và số 0001610 ngày 22/8/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Rang – T để đảm bảo thi hành án.
  • - Buộc bà Nguyễn Anh T1 nộp lại số tiền vay gốc chưa trả là 12.600.000 đồng (Mười hai triệu sáu trăm nghìn đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
  • - Buộc bà Võ Thị H nộp lại số tiền vay gốc chưa trả là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
  • - Buộc bà Nguyễn Thị L1 nộp lại số tiền vay gốc chưa trả là 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
  • - Buộc bà Lê Thị Tuyết H1 nộp lại số tiền vay gốc chưa trả là 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.

2.4. Buộc bị cáo Trần Dương Quốc D phải trả lại cho những người vay số tiền thu lợi bất chính, cụ thể như sau:

  • - Buộc bị cáo phải trả lại cho bà Nguyễn Anh T1 số tiền 59.423.288 đồng (Năm mươi chín triệu bốn trăm hai mươi ba nghìn hai trăm tám mươi tám đồng).
  • - Buộc bị cáo phải trả lại cho bà Võ Thị H số tiền 2.315.753 đồng (Hai triệu ba trăm mười lăm nghìn bảy trăm năm mươi ba đồng).
  • - Buộc bị cáo phải trả lại cho bà Nguyễn Thị L số tiền 1.228.767 đồng (Một triệu hai trăm hai mươi tám nghìn bảy trăm sáu mươi bảy đồng).
  • - Buộc bị cáo phải trả lại cho bà Nguyễn Thị L1 số tiền 5.756.301 đồng (Năm triệu bảy trăm năm mươi sáu nghìn ba trăm lẻ một đồng).
  • - Buộc bị cáo phải trả lại cho bà Lê Thị Tuyết H1 số tiền 5.094.658 đồng (Năm triệu không trăm chín mươi bốn nghìn sáu trăm năm mươi tám đồng).
  • - Buộc bị cáo phải trả lại cho bà Lê Thị Xuân T2 số tiền 1.228.767 đồng (Một triệu hai trăm hai mươi tám nghìn bảy trăm sáu mươi bảy đồng).

3. Về án phí:

Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Trần Dương Quốc D phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm; bị cáo có mặt quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND TP.PR-TC;
  • - Công an TP.PR-TC;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Chi cục THADS TP.PR-TC;
  • - Sở Tư pháp tỉnh;
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thanh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 170/2024/HS-ST ngày 29/08/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận về hình sự: cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 170/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Dương Quốc D phạm tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger