TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 170/2023/HS-ST Ngày: 28 - 12 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Diệu Oanh
Các hội thẩm nhân dân: Bà Đinh Thị Hồng Phúc
Bà Phạm Ngọc Lợi
- Thư ký phiên toà: Bà Tô Thị Phương Liên - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Bùi Hoàng Thao - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 163/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 168/2023/QĐXXST- HS ngày 13 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Ngọc T, sinh ngày 15 tháng 4 năm 1983 tại Ninh Bình. Nơi cư trú: Phố V, phường T, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Bùi Ngọc T1 (Đã chết) và con bà Nguyễn Thị D; vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân (5): Ngày 14/01/2006, Công an phường T, thành phố N quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Bản án số 144 ngày 19/6/2006, Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Quyết định số 380 ngày 26/7/2012 UBND tỉnh N quyết định đưa đối tượng vào cơ sở giáo dục. Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 49/QĐ-XPHC ngày 03/8/2017, Công an phường B, thành phố N phạt tiền 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy. Quyết định số 40/QĐ-TA ngày 31/12/2019, Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng; bị tạm giữ từ ngày 07/9/2023 đến ngày 13/9/2023 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N cho đến nay “có mặt”.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Hồng T2, sinh năm 1985, nơi cư trú: Số nhà B, ngõ B P, phố H, phường N, thành phố N “có mặt”.
Người chứng kiến:
+ Anh Phạm Thanh T3, nơi cư trú: Phố E, phường Đ, thành phố N, tỉnh Ninh Bình “vắng mặt”.
+ Anh Bùi Trung K, nơi cư trú: Phố K, phường N, thành phố N “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Ngọc T là người nghiện ma túy. Khoảng 07 giờ ngày 07/9/2023 do có nhu cầu sử dụng ma tuý T đã sử dụng điện thoại nhãn hiệu Mobell lắp sim số 0968.789.565 gọi đến số điện thoại 0906.195.xxx của một người tên S (không rõ họ, tên đệm, địa chỉ) hỏi mua ma tuys Heroine để sử dụng. T hỏi mua 100.000 đồng thì S đồng ý và hẹn T đến khu vực ngõ B đường H thuộc phố P, phường P, thành phố N để bán ma tuý. Sau khi gọi điện cho S, T đi bộ đến khu vực đã hẹn. Đến khoảng 07 giờ 40 phút cùng ngày, khi T đi đến đầu ngõ B đường H thì gặp anh Nguyễn Hồng T2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision mầu xanh, biển kiểm soát 35B1-983.37, T nhờ anh T2 chở về nhà thì anh T2 đồng ý, T hẹn anh T2 đứng đợi. Sau đó T một mình đi vào trong ngõ gặp S, T đưa cho S 100.000 đồng, S cầm tiền và đưa lại cho T 01 gói giấy bạc mầu trắng rồi bỏ đi. T cầm gói giấy bạc trên tay trái, đi bộ ra chỗ anh T2 đang đứng đợi. Khi T vừa lên xe của anh T2 thì gặp tổ công tác Công an phường N phối hợp với Công an phường P làm nhiệm vụ, thấy T và T2 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, T tự giác giao nộp gói giấy bạc đang cầm ở tay trái cho tổ công tác. Kiểm tra gói giấy bạc, bên trong chứa chất bột dạng cục mầu trắng, T khai nhận đây là ma tuý H vừa mua được của người tên S để về sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành niêm phong gói giấy bạc bên trong chứa chất bột dạng cục mầu trắng vào trong một phong bì thư gián kín có chữ ký của những người liên quan theo quy định của pháp luật, đưa tang vật và mời người làm chứng về trụ sở Công an phường P bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra còn thu giữ trong túi quần phía trước bên trái của T 01 điện thoại nhãn hiệu Mobell lắp sim số 0968.789.565, T khai sử dụng để liên lạc mua ma tuý; 02 bơm kim tiêm chưa qua sử dụng; 01 lọ nước cất; Thu giữ của T2 một xe mô tô Honda Vision mầu xanh, biển kiểm soát 35B1-983.37.
Tiến hành cân xác định khối lượng chất bột dạng cục mầu trắng thu giữ của Bùi Ngọc T4 có khối lượng là 0,165 gam ký hiệu M1 gửi đi giám định để xác định khối lượng chất ma túy, loại chất ma túy.
Tại Bản kết luận giám định số 728/KL-KTHS-MT ngày 12/9/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: Mẫu chất bột dạng cục mầu trắng gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,1621 gam, là ma túy, loại Heroine (H). Heroine (H) có tên khoa học là D1, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và là chất ma túy được quy định tại Danh mục IA, số thứ tự 9 Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ. H1 lại đối tượng giám định gồm: Mẫu ký hiệu M1 còn lại có khối lượng 0,1365 gam, là ma túy loại Heroine; toàn bộ vỏ bao gói niêm phong. Tất cả được niêm phong trong phong bì “Mẫu vật hoàn trả sau giám định” ghi số 728/KL-KTHS-MT.
Tại bản Cáo trạng số 164/CT-VKSTPNB ngày 28/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố bị cáo Bùi Ngọc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Bùi Ngọc T đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Hồng T2 khai: Khoảng 07 giờ 35 phút ngày 07/9/2023 anh T2 điều khiển xe máy nhãn hiệu Vision mầu xanh, biển kiểm soát 35B1-983.37 đi làm. Khi đi qua khu vực đầu ngõ B đường H phố P, phường P, thành phố N thì gặp Bùi Ngọc T là người quen, T nhờ anh chở về nhà ở phường T, anh T2 đồng ý, T bảo anh T2 đứng chờ rồi T đi vào ngõ B. Khoảng 03 phút sau T đi ra và lên xe máy của anh, khi T vừa ngồi lên xe máy thì có lực lượng công an đến kiểm tra, quá trình kiểm tra anh thấy T5 dùng tay trái giao nộp cho các anh công an 01 gói giấy bạc mầu trắng và khai nhận đây là gói ma túy (Heroin) mà T vừa mua được của một người đàn ông tên là S (không rõ địa chỉ) tại khu vực gần cổng trường trung học phổ thông N phố P, phường P, thành phố N về cất giấu để sử dụng. Kiểm tra tại túi quần phía trước bên trái của T phát hiện 01 lọ nước cất và 02 bơm kim tiêm chưa qua sử dụng, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Mobell mầu đen, công an tiến hành niêm phong vào các phong bì theo quy định. Khi T nhờ anh T2 đồng ý chở T về nhà, anh không hề biết trong người T có ma túy. Anh T2 đã được cơ quan điều tra trả lại chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision, anh không có yêu cầu đề nghị gì khác.
Tại các lời khai trong quá trình điều tra, người chứng kiến anh Phạm Thanh T3 và anh Bùi Trung K khai: Khoảng 07 giờ 40 phút ngày 07/9/2023, anh T3, anh K đi qua khu vực trước ngõ B đường H, phố P, phường P, thành phố N, tỉnh Ninh Bình thì thấy lực lượng công an đang kiểm tra 02 người nam giới đang ngồi trên xe máy nhãn hiệu Honda Vision mầu xanh, biển kiểm soát 35B1-98337. Lúc này, các anh thấy người nam giới ngồi phía trước khai tên là Nguyễn Hồng T2, người nam giới ngồi phía sau khai tên là Bùi Ngọc T đồng thời T dùng tay trái giao nộp 01 gói giấy bạc mầu trắng. Các anh công an mở gói giấy ra kiểm tra thấy bên trong có chứa chất bột dạng cục mầu trắng, T cho biết đây là ma túy H mà T vừa mua của người đàn ông tên S với giá 100.000 đồng tại khu vực gần cổng trường trung học phổ thông N phố P, phường P, thành phố N về cất giấu để sử dụng. Công an kiểm tra túi quần phía trước bên trái của T phát hiện 01 lọ nước cất chưa qua sử dụng, 02 bơm kim tiêm chưa qua sử dụng, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Mobell mầu đen. Nguyễn Hồng T2 khai nhận trên đường đi làm đi qua khu vực đầu ngõ B đường H thì gặp T, T có nhờ anh T2 chở về nhà, anh T2 không biết trong người T có ma túy. Các anh công an tiến hành niêm phong tang vật vào các phong bì thư ký hiệu T1, T2, T3 theo đúng quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Bùi Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Ngọc T từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 07/9/2023.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu, tiêu hủy: Mẫu vật hoàn trả sau giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,1365 gam, là ma túy, loại Heroine; 02 bơm kim tiêm (loại xilanh nhựa), 01 lọ nước cất; mảnh giấy bạc mầu trắng; toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; phong bì, vỏ gói niêm phong ban đầu.
- - Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Mobell mầu đen, bên trong có lắp sim.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Bùi Ngọc T phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Bùi Ngọc T trình bày nhất trí với nội dung luận tội, không tự bào chữa, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Trong lời nói sau cùng bị cáo Bùi Ngọc T đề nghị Tòa án xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Tại phiên toà bị cáo Bùi Ngọc T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 07 giờ 40 phút, ngày 07/9/2023 tại ngõ B, đường H, phố P, phường P, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; Bùi Ngọc T có hành vi cất giấu trái phép 0,1621 gam ma túy loại Heroine nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c) Heroine, C, Methamphetamine, A, MDMA hoặc XLR 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
...”
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố bị cáo với tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, bị cáo có bố được tặng thưởng Huân chương chiến sỹ vẻ vang nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính, bị xét xử, bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính do sử dụng trái phép chất ma túy, tàng trữ trái phép chất ma tuý.
[2] Về hình phạt: Xét tính chất mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, làm ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn hóa, lành mạnh tại địa phương, tiềm ẩn nguy cơ gây ra các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính, bị xét xử, bị áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính do sử dụng trái phép chất ma túy, tàng trữ trái phép chất ma tuý nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, việc áp dụng hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết nhằm tiếp tục giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Khi quyết định mức hình phạt cũng cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[3] Xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:
Đối với các vật chứng bao gồm: Mẫu vật hoàn trả sau giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,1365 gam, là ma túy, loại Heroine; 02 bơm kim tiêm (loại xilanh nhựa), 01 lọ nước cất, mảnh giấy bạc mầu trắng; toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; vỏ túi nilon, phong bì niêm phong ban đầu cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Mobell có lắp sim là tài sản của Bùi Ngọc T, được T sử dụng để liên lạc mua ma túy, còn giá trị sử dụng cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision mầu xanh, biển kiểm soát 35B1-983.37, quá trình điều tra xác định là tài sản của vợ chồng anh Nguyễn Hồng T2 và chị Đinh Thị Thu H2. Ngày 07/9/2023 anh T2 đồng ý cho T đi nhờ về nhà, anh T2 không biết việc T đi mua và cất giấu ma tuý, Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản trên cho anh T2 là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Về nguồn gốc ma túy: Bùi Ngọc T khai nhận mua của một người nam giới tên S, sử dụng số điện thoại 0906.195.xxx. Quá trình điều tra xác định, chủ thuê bao số điện thoại trên mang tên anh Đoàn Ngọc D2, sinh năm 1989, trú tại thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Anh D2 khai đăng ký và sử dụng số điện thoại trên từ tháng 2/2017 đến cuối tháng 8/2023 thì không sử dụng nữa do bị rơi mất sim, hiện anh không sử dụng số thuê bao này nữa, anh không quen biết T. Do đó, không có cơ sở điều tra xác minh làm rõ người đàn ông đã bán ma túy cho T.
[5] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi và các quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện công khai, hợp pháp đúng pháp luật.
[6] Về án phí và quyền kháng cáo: Do bị tuyên có tội nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Tuyên bố: Bị cáo Bùi Ngọc T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Bùi Ngọc T 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 07/9/2023.
- Xử lý vật chứng:
- - Tịch thu, tiêu hủy: Mẫu vật hoàn trả sau giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,1365 gam, là ma túy, loại Heroine; 02 bơm kim tiêm (loại xilanh nhựa), 01 lọ nước cất; mảnh giấy bạc mầu trắng; toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; phong bì, vỏ gói niêm phong ban đầu.
- - Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Mobell mầu đen, bên trong có lắp sim.
(Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 08 tháng 12 năm 2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình).
- Về án phí: Buộc bị cáo Bùi Ngọc T phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA PHẠM DIỆU OANH (Đã ký) |
Bản án số 170/2023/HS-ST ngày 28/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 170/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 07 giờ 40 phút, ngày 07/9/2023 Bùi Ngọc T có hành vi cất giấu trái phép 0,1621 gam ma túy loại Heroine nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.
