Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 170/2023/HS-ST

Ngày: 27/12/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC - TỈNH KIÊN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Thoa

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Ngô Rạng Đông
  2. Bà Nguyễn Hồng Tươi

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Cẩm Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Quốc Nam - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 165/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 170/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Cao Hữu Phú Q- Giới tính: Nam.

Tên gọi khác: Không có.

Sinh ngày 12 tháng 12 năm 1993, tại: C, tỉnh An Giang.

Nơi ĐKTT và chỗ ở hiện nay: ấp B, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Tài xế. Trình độ học vấn: 12/12.

Cha: Cao Văn P, sinh năm 1958, còn sống.

Mẹ: Ngô Thị Kim H, sinh năm 1966, còn sống.

Anh, chị, em: Không có

Bị cáo có vợ tên Lê Thị Thúy H1, sinh năm 1993 đã ly hôn.

Con: Cao Thiên B, sinh năm 2014.

Tiền án, tiền sự: Không.

Tạm giữ, tạm giam ngày 30/4/2023.

Bị cáo có mặt tại phiên toà.

2. Họ và tên: Võ Hoàng D- Giới tính: Nam.

Tên gọi khác: Không có.

Sinh ngày 02 tháng 02 năm 1995, tại: P, Kiên Giang.

Nơi ĐKTT và chỗ ở hiện nay: Ấp S, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Tài xế. Trình độ học vấn: 9/12.

Cha: Võ Văn P1, sinh năm 1968, còn sống.

Mẹ: Đỗ Thị Bé T, sinh năm 1972, còn sống.

Em: 01 người sinh năm 1999.

Vợ: Trần Thị Bích T1, sinh năm 1989.

Con: 01 người, sinh năm 2019.

Tiền án, tiền sự: Không.

Tạm giữ, tạm giam ngày 30/4/2023.

Bị cáo có mặt tại phiên toà.

3. Họ và tên: Huỳnh Quốc S- Giới tính: Nam.

Tên gọi khác: Không có.

Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1984, tại: P, Kiên Giang.

Nơi ĐKTT và chỗ ở hiện nay: Ấp S, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Tài xế. Trình độ học vấn: 11/12.

Cha: Huỳnh Tấn H2, sinh năm 1944, đã chết.

Mẹ: Trần Thị H3, sinh năm 1949, còn sống.

Anh, chị: có 05 người, lớn sinh năm 1970, nhỏ sinh năm 1982.

Vợ: Trần Kim L, sinh năm 1990.

Con: 02 người, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2018.

Tiền án, tiền sự: Không.

Tạm giữ, tạm giam ngày 30/4/2023.

Bị cáo có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ ngày 30/4/2023, Cao Hữu Phú Q, Võ Hoàng DHuỳnh Quốc S uống bia tại quán Đ thuộc tổ I, ấp C, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày thì nghỉ. Q rủ D và S đến Khách sạn P2 cùng tổ 1, ấp C Ngoài để thuê phòng sử dụng ma túy thì D và S đồng ý. Khi đến Khách sạn P2, Q trực tiếp gặp một người tên S1 là lễ tân của khách sạn (chưa xác định rõ nhân thân, lai lịch) nói thuê phòng để nghe nhạc và sử dụng ma tuý thì được S1 đồng ý và dẫn Q, D và S vào phòng số 109 thuê với giá thoả

thuận là 2.000.000 đồng. Sau khi vào phòng thì S1 hỏi Q, D và S có cần nhân viên nữ phục vụ không thì Q, D và S đều đồng ý. Khi S1 đi ra khỏi phòng thì Q yêu cầu D và S mỗi người hùn 500.000 đồng để mua ma túy thì D, S đồng ý và đưa tiền cho Q. Q cầm tiền đi ra phía trước Khách sạn P2 gặp một người đàn ông (chưa xác định rõ nhân thân, lai lịch), Q hỏi mua 1.000.000 đồng ma túy loại Ketamine, người đàn ông này đồng ý và bán cho Q một bịch ma túy loại Ketamine. Mua được ma túy Q đem vào phòng 109, để ma túy lên trên bàn, D lấy bịch ma túy Q vừa mua đổ ra đĩa có sẵn trong phòng, dùng thẻ nhựa có sẵn trên bàn cà, chia nhỏ ma tuý ra nhiều phần, để sử dụng. Lúc này Lưu Nguyễn Tường V, sinh ngày 02/06/2005 đến phục vụ, V nói số tiền phục vụ là 1.000.000 đồng thì Q, D và S đồng ý để V vào phục vụ và cùng sử dụng ma tuý. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, lực lượng Công an thành phố P kiểm tra phòng 109 Khách sạn P2, phát hiện Q, D và S đang tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý cho V cùng sử dụng nên tiến hành lập biên bản bắt quả tang cùng tang vật. Đến ngày 08/5/2023, Cao Hữu Phú Q, Võ Hoàng DHuỳnh Quốc S bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố P khởi tố, tạm giam để điều tra.

* Thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu:

  • 01 bịch nylon có rãnh gài viền đỏ, kích thước 04cm x 7,3cm bên trong chứa các hạt tinh thể rắn, màu trắng không đồng nhất, đã được niêm phong;
  • 01 đĩa sứ màu trắng, hình tròn, đã qua sử dụng;
  • 01 ống hút được quấn bằng tờ tiền Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng, đã qua sử dụng;
  • 01 thẻ nhựa màu nâu có chữ CHARLER & KETTH, đã qua sử dụng.
  • 01 loa hát nhạc hiệu JBL, màu đen, đã qua sử dụng;
  • 01 đèn Laser màu đen, đã qua sử dụng.
  • 01 đèn nền màu đen, đã qua sử dụng.

Tại bản kết luận giám định số 430 KL-KTHS ngày 08/5/2023 của Phòng K Công an tỉnh K, kết luận: Các hạt tinh thể màu trắng, không đồng nhất chứa trong 01 (một) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Ketamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,2792 gam.

Ketamine là chất ma túy nằm trong danh mục III, STT 40, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ”

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định số 430 KL-KTHS ngày 08/5/2023 của Phòng K - Công an tỉnh K.

Tại bản cáo trạng số: 172/CT-VKSPQ ngày 23 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố các bị cáo Cao Hữu Phú Q;

Võ Hoàng D; Huỳnh Quốc S về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 BLHS năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị các bị cáo Cao Hữu Phú Q; Võ Hoàng D; Huỳnh Quốc S về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 BLHS năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255 BLHS; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt:

  1. Cao Hữu Phú Q từ 08 năm đến 09 năm tù;
  2. Võ Hoàng D từ 07 năm đến 08 năm tù;

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255 BLHS; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt: Huỳnh Quốc S từ 07 năm đến 08 năm tù.

Về biện pháp tư pháp: Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý vật chứng theo quy định gồm:

  • Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì có ký hiệu vụ số 430/2023; 01 đĩa sứ màu trắng đã qua sử dụng; 01 thẻ nhựa màu nâu có chữ Charles & K, đã qua sử dụng; 01 (một) loa hát nhạc hiệu JBL, màu đen đã qua sử dụng; 01 (một) đèn laser, màu đen đã qua sử dụng; 01 (một) đèn nền màu đen đã qua sử dụng những tang vật này không có người nhận và không còn giá trị sử dụng.
  • Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 ống hút được quấn bằng tờ tiền có mệnh giá 10.000 đồng.

Đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo do không có thu nhập ổn định.

Tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến gì đối với bản cáo trạng và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã công bố và không tranh luận gì đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức án để sớm về lo cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ

tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã truy tố.

Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, tang vật thu giữ được trong vụ án, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Ma tuý là tang vật trong vụ án thu giữ còn trên đĩa đang sử dụng qua giám định là chất Kentamin có khối lượng 0,2792 gam.

Tại phiên toà các bị cáo thừa nhận ma tuý có được là do bị cáo Q yêu cầu bị cáo D và S hùn đưa tiền cho Q mua, mỗi người 500.000 đồng, Q mua của người đàn ông (chưa rõ nhân thân) tại khu vực gần khách sạn là 1.000.000 đồng cho cả nhóm sử dụng, khi sử dụng chưa hết thì bị bắt quả tang.

Đối với người sử dụng chung ma tuý với các bị cáo là Lưu Nguyễn Tường V, do lễ tân đưa tới các bị cáo đều đồng ý để V phục vụ, các bị cáo không biết V chưa đủ 18 tuổi và cũng chưa bị cáo nào trả tiền phục vụ cho V.

Đối với người đàn ông là lễ tân trong khách sạn, khi bị cáo Q vào hỏi thuê phòng để nghe nhạc và sử dụng ma tuý thì người này đồng ý và chỉ phòng 109 cho các bị cáo thuê với giá 2.000.000 đồng, các bị cáo chưa trả tiền phòng.

Khi vào trong phòng 109 thì các dụng cụ trong phòng đã có sẵn như đĩa sứ; thẻ nhựa; loa hát nhạc hiệu JBL; đèn laser; đèn nền màu đen đã qua sử dụng và được thu giữ tang vật trong vụ án.

Từ lời khai nhận và các chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên bị cáo Q đã rủ D và S đi tìm địa điểm là khách sạn để sử dụng, D và S đều đồng ý và hùn tiền cho Q mua, Q là người chủ động gặp lễ tân thuê phòng và đi mua ma tuý cho cả nhóm sử dụng, cả nhóm cùng đồng ý cho Lưu Nguyễn Tường V là người chưa đủ 18 tuổi sử dụng chung, trong lúc đang sử dụng ma tuý thì bị lực lượng Công an thành phố P bắt quả tang.

Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Cao Hữu Phú Q; Võ Hoàng D; Huỳnh Quốc S đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 BLHS năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, đây là hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý từ 02 người trở lên và tổ chức cho người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi sử dụng. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo về tội tổ chức sử dụng trái phép

chất ma tuý theo điểm b, c Điều 255 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật và có mức án từ 07 năm đến 15 năm tù.

Đối với số ma tuý thu giữ được qua giám định có khối lượng 0,2792 gam là chất Kentamin không đủ định lượng để khởi tố các bị cáo về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Đối với Lưu Nguyễn Tường V, sinh ngày 02/06/2005 là người cùng sử dụng trái phép chất ma tuý với các bị cáo, tại thời điểm sử dụng Vy chưa đủ 18 tuổi và đã bị Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi tại Cơ sở cai nghiện ma tuý đa chức năng tỉnh Kiên Giang.

Đối với người đàn ông (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đã bán ma túy cho Q; Cơ quan Cảnh sát điều tra đang tiếp tục điều tra làm rõ, khi nào điều tra được xử lý sau.

Đối với người đàn ông tên S1 (chưa rõ nhân thân) là lễ tân khách sạn, biết các bị cáo thuê phòng để nghe nhạc và sử dụng ma tuý, đồng thời S1 còn hỏi các bị cáo có cần phục vụ nữ hay không cho thấy người này đã biết các bị cáo tới để sử dụng ma tuý nhưng không ngăn cản là có yếu tố đồng phạm về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Tuy nhiên qua xác minh chủ khách sạn là ông Phạm Văn L1 xác định khách sạn không có ai tên S1, chỉ có người quản lý tên Q1 mới xin vào thử việc, chưa ký hợp đồng do khách sạn ông L1 mới thuê. Sau khi các bị cáo bị bắt nên ông L1 đã trả khách sạn, không thuê nữa nên không biết người quản lý tên Q1 đi đâu, làm gì không rõ. Cơ quan điều tra đã tách riêng đối tượng này khi nào bắt được xử lý sau.

[3]. Về tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Bị cáo Cao Hữu Phú Q là người chủ động rủ bị cáo Võ Hoàng D và bị cáo Huỳnh Quốc S đi sử dụng ma tuý, Q trực tiếp gặp lễ tân để thuê phòng và yêu cầu D, S đưa tiền cho Q trực tiếp đi mua ma tuý nên vai trò của bị cáo Q là chính trong vụ án; đối với bị cáo D và S khi được rủ đã đồng ý ngay và cùng hùn tiền để mua ma tuý sử dụng, do đó các bị cáo là đồng phạm trong vụ án tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Đối với người tên V do lễ tân kêu tới để phục vụ và cùng sử dụng ma tuý với các bị cáo, khi bắt quả tang, V chưa đủ 18 tuổi nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý cho người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm, các bị cáo nhận thức được ma tuý là loại độc dược được Nhà nước độc quyền quản lý, mọi hành vi như sản xuất, mua bán, tàng trữ, vận chuyển, chiếm đoạt, sử dụng, tổ chức sử dụng ....trái phép chất ma tuý đều bị nghiêm cấm. Vào thời điểm thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức được việc làm của mình, các bị cáo đã thuê địa

điểm; hùn tiền mua ma tuý, chi tiền thuê phòng để tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý cho nhiều người trong đó có cả người chưa đủ 18 tuổi là vi phạm pháp luật nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm cho hành vi phạm tội của mình. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, nên cần áp dụng Điều 38 Bộ luật hình sự cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục các bị cáo trở thành người tốt, đồng thời phòng ngừa chung cho xã hội đối với loại tội phạm này.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Cao Hữu Phú Q, Võ Hoàng DHuỳnh Quốc S đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hành vi phạm tội của mình nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; các bị cáo từ trước đến nay chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo Huỳnh Quốc S có cha là người có công với cách mạng nên áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 BLHS để xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo khi lượng hình.

[5]. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý vật chứng theo quy định gồm:

- Tịch thu tiêu hủy:

  • Mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì có ký hiệu vụ số 430/2023; 01 đĩa sứ màu trắng đã qua sử dụng; 01 thẻ nhựa màu nâu có chữ Charles & K, đã qua sử dụng; 01 (một) loa hát nhạc hiệu JBL, màu đen đã qua sử dụng; 01 (một) đèn laser, màu đen đã qua sử dụng; 01 (một) đèn nền màu đen đã qua sử dụng không ai nhận và không còn giá trị sử dụng.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:

  • 01 (một) ống hút được quấn bằng tờ tiền có mệnh giá 10.000 đồng.

[6]. Đối người đàn ông bán ma tuý cho Q (chưa rõ nhân thân) và lễ tân khách sạn (chưa rõ nhân thân), cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục làm rõ, khi nào bắt được xử lý sau.

[7]. Về quan điểm của Viện kiểm sát: Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đề nghị về tội danh, mức hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, biện pháp tư pháp đối với các bị cáo là có căn cứ, Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

[8]. Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị Cao Hữu Phú Q; Võ Hoàng D; Huỳnh Quốc S phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

2. Căn cứ pháp luật: Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt

Cao Hữu Phú Q: 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 30/4/2023.

Võ Hoàng D: 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 30/4/2023.

Huỳnh Quốc S: 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 30/4/2023.

3. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy:

Mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì có ký hiệu vụ số 430/2023; 01 đĩa sứ màu trắng đã qua sử dụng; 01 thẻ nhựa màu nâu có chữ Charles & K, đã qua sử dụng; 01 (một) loa hát nhạc hiệu JBL, màu đen đã qua sử dụng; 01 (một) đèn laser, màu đen đã qua sử dụng; 01 (một) đèn nền màu đen đã qua sử dụng không ai nhận và không còn giá trị sử dụng.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:

01 (một) ống hút được quấn bằng tờ tiền có mệnh giá 10.000 đồng.

(Tang vật trên đã được chuyển giao cho Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Phú Quốc theo quyết định chuyển giao vật chứng số: 129/QĐ-VKSPQ-HS ngày 23/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc và biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc ngày 29/11/2023).

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Bị cáo Cao Hữu Phú Q; Võ Hoàng D; Huỳnh Quốc S mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND TP. Phú Quốc;
  • - Nhà tạm giữ TP. Phú Quốc;
  • - Đội tổng hợp CA TP. Phú Quốc;
  • - CCTHA TP. Phú Quốc;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Phạm Thị Kim Thoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 170/2023/HS-ST ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG về hình sự sơ thẩm: tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 170/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: các bị cáo tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger