TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC TỈNH SƠN LA | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 170/2024/HSST
Ngày 27-8-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SƠN LA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lò Mai Xiêng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Mai và bà Lê Bích Thuận.
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Tiến Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện TC tham gia phiên toà: Ông Lầu A Thống - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân huyện TC, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 175/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 181/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Lò Văn T, tên gọi khác: Không; sinh năm 1982 tại huyện TC, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: bản Pá Ban, xã MB, huyện TC, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn Xôm (đã chết) và bà Lò Thị On (đã chết); bị cáo có vợ là Lò Thị Biển, sinh năm 1981 và 03 con, con lớn nhất sinh năm 1998, con nhỏ nhất sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 26 tháng 4 năm 2024. Có mặt.
Người phiên dịch cho bị cáo Lò Văn T là bà: Lò Thị Hiền, sinh năm 1999; trú tại: bản Pa Bói, xã Thanh Yên, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ 40 phút ngày 26/4/2024, Tổ công tác Công an huyện TC, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ tại khu vực bản Nà Cẩu, xã MB, huyện TC, phát hiện bắt quả tang Lò Văn T có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) gói nilon màu xanh bên trong có chứa chất bột cục màu trăng nghi là Heroine; 01 (một) túi nilon màu xanh bên trong có chứa 200 (hai trăm) viên nén màu hồng nghi là ma túy tổng hợp (theo Lò Văn T khai là Heroine và ma túy tổng hợp).
Hồi 15 giờ 30 phút ngày 26/4/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Châu đã tiến hành bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng và lấy mẫu giám định, kết quả: số chất bột cục màu trắng nghi là Heroine bên trong gói nilon màu xanh có khối lượng 4,48 gam. Trích 0,60 gam trong tổng số 4,48 gam chất bột cục màu trắng, ký hiệu T1 gửi giám định. Còn lại 3,88 gam chất bột cục màu trắng nghi là Heroine, ký hiệu T2. Cân tịnh 200 (hai trăm) viên nén màu hồng nghi là ma túy tổng hợp trong túi nilon màu xanh, có khối lượng 18,28 gam. Trích 05 (năm) niên nén màu hồng nghi là ma túy tổng hợp có khối lượng 0,45 gam trong tổng số 18,28 gam viên nén màu hồng, ký hiệu T3 gửi giám định. Còn lại 195 (một trăm chín mươi lăm) viên nén màu hồng nghi là ma túy tổng hợp, có khối lượng 17,83 gam, ký hiệu T4.
Kết luận giám định số: 988/KL-KTHS ngày 30/4/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu T1 là ma túy; loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,60 gam. Mẫu gửi giám định ký hiệu T3 là ma túy, loại loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,45 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ 4,48 gam, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine và 18,28 gam; loại Methamphetamine. Hoàn lại đối tượng giám định: mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lò Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 08 giờ 00 phút, ngày 26/4/2024, Lò Văn T đi bộ một mình từ nhà ở bản Pá Ban, xã MB, huyện TC, tỉnh Sơn La lên bản Hua Pí, xã Xuân Lao, huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên với mục đích đi tìm mua ma túy về để sử dụng và bán kiếm lời. Khi T đi đến khu vực bản Hua Pí, Xuân Lao, huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên, T gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc mông (T không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể ở đâu) một gói ma túy gói bằng nilon màu xanh bên trong có chứa Heroine và một gói ma túy gói bằng túi nilon màu xanh bên trong có chứa 200 (hai trăm) viên nén màu hồng là ma túy tổng hợp với giá 5.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T cất giấu ma túy vừa mua được vào túi quân đằng trước bên phải đang mặc, rồi đi về xã MB, huyện TC để tìm chỗ bán ma túy. Khi T đi đến khu vực bản Nà Cẩu, xã MB, huyện TC thì bị tổ công tác Công an huyện Thuận Châu phát hiện, bắt quả tang và thu giữ cùng vật chứng.
Tại bản Cáo trạng số: 132/CT- VKSTC ngày 14 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TC đã truy tố bị cáo Lò Văn T về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo Lò Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện TC đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội Mua bán trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân huyện TC giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Lò Văn T từ 12 (mười hai) năm tù đến 13 (mười ba) năm tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ Luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 3,88 gam Heroine, ký hiệu T2; 195 (một trăm chín mươi lăm) viên ma túy tổng hợp là Methamphetamine có khối lượng 17,83 gam, ký hiệu T4; 01 mảnh nilon màu xanh; 01 túi nilon màu xanh; 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn T.
Tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn T thừa nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện TC, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, thực hiện đúng thủ tục tố tụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Ngày 26/4/2024, bị cáo Lò Văn T đã có hành vi cất giữ trái phép trái phép 22,76 gam chất ma tuý (4,48 gam, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine và 18,28 gam, loại Methamphetamine) trong người với mục đích để sử dụng và bán kiếm lời thì bị phát hiện, bắt quả tang tại khu vực bản Nà Cẩu, xã MB, huyện TC, tỉnh Sơn La.
Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với kết quả điều tra, phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập ngày 26/4/2024; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại; Biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định; Kết luận giám định số: 988/KL-KTHS ngày 30/4/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La; lời khai của người chứng kiến.
Từ các căn cứ trên có đủ cơ sở kết luận hành vi cất giữ trái phép 22,76 gam chất ma tuý (4,48 gam, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine và 18,28 gam, loại Methamphetamine) trong người với mục đích để sử dụng và bán kiếm lời của bị cáo Lò Văn T đã phạm vào tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Bị cáo Lò Văn T mục đích mua bán ma túy để hưởng lợi, thu lợi bất chính. Do đó cần có mức hình phạt nghiêm khắc nhằm răn đe giáo dục đối với bị cáo, trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, không biết chữ, trình độ hiểu biết pháp luật có phần hạn chế là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.
[4] Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Bị cáo Lò Văn T không có tài sản, không có đủ điều kiện và khả năng thi hành hình phạt bổ sung. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: Bị cáo Lò Văn T khai mua của khai mua của một người đàn ông dân tộc mông không biết họ tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực bản Hua Pí, Xuân Lao, huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên vào ngày 26/4/2024. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh. Do đó, buộc bị cáo Lò Văn T phải chịu trách nhiệm về số ma túy bị thu giữ.
[6] Vật chứng vụ án: Đối với 3,88 gam Heroine, ký hiệu T2 + 195 (một trăm chín mươi lăm) viên ma túy tổng hợp là Methamphetamine có khối lượng 17,83 gam, ký hiệu T4 là chất ma túy, thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, 01 mảnh nilon màu xanh, một túi nilon màu xanh, 01 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu là công cụ phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội, vật không có giá trị, không sử dụng được cần tịch thu tiêu hủy căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ Luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[7] Về án phí: Bị cáo Lò Văn T là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo có ý kiến xin miễn án phí hình sự sơ thẩm, cần áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn T.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt
Căn cứ điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Lò Văn T 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/4/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ Luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: Một phong bì niêm phong có viền màu xanh đỏ, mặt trước ghi: Vật chứng nhập kho vụ Lò Văn T- MBTPCMT, bắt ngày 26/4/2024. Mặt sau phong bì, dán giấy niêm phong của Công an tỉnh Sơn La số: 067353 đè lên các mép dán của phong bì, trên giấy niêm phong có đầy đủ chữ ký, họ tên của các thành phần tham gia niêm phong, người bị bắt và 02 hình dấu đỏ của cơ quan CSĐT Công an huyện TC, tỉnh Sơn La. Sau đó dán băng dính màu trắng đè lên giấy niêm phong và các mép dán giáp lai của phong bì. Bên trong có: 3,88 gam, chất cục bột màu trắng là Heroine, ký hiệu T2 + 195 (một trăm chín mươi lăm) viên ma túy tổng hợp là Methamphetamine có khối lượng 17,83 gam, ký hiệu T4+ 01 mảnh nilon màu xanh+ 01 túi nlon màu xanh+ 01 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/8/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện TC và Chi cục Thi hành án dân sự huyện TC).
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn T.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Lò Văn T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lò Mai Xiêng |
Bản án số 170/2024/HSST ngày 27/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SƠN LA về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 170/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xét xử sơ thẩm
