|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 170/2024/HS-ST
Ngày 26/09/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tô Huy Bân, ông Chu Văn Bình.
Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Châm - Kiểm sát viên.
Ngày 26/09/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 169/2024/TLST-HS ngày 12/09/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 165/2024/QĐXXST-HS ngày 13/09/2024 đối với:
1. Bị cáo:
1.1 Lò Văn T
, sinh năm 2002; Nơi đăng ký HKTT: Bản S, xã K, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Khơ Mú; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lò Văn D và bà Lò Thị V; Vợ, con chưa có;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/06/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt ở điểm cầu trực tuyến tại Trại tạm giam Công an tỉnh B).
1.2 Lường Văn K
, sinh năm 1996; Nơi đăng ký HKTT: Bản Luấn, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lường Văn I và bà Quàng Thị Đ; Có vợ là Quàng Thị H và 01 con sinh năm 2018;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/06/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt ở điểm cầu trực tuyến tại Trại tạm giam Công an tỉnh B).
2. Người bào chữa cho bị cáo T: Bà Phan Thị Thu H1, trợ giúp viên pháp lý trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Bắc Ninh. (Có mặt ở điểm cầu trực tuyến Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Bắc Ninh)
3. Người tham gia tố tụng khác: Ông Nguyễn Đức Đ1 - Cán bộ phụ trách tin học thuộc Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh (có mặt tại điểm cầu trực tuyến Tòa án nhân dân huyện Yên Phong).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 21/06/2024, tại thôn N, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, Công an huyện Y phối hợp với Công an xã L bắt quả tang Lò Văn T có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Lường Văn K. Thu giữ của Lường Văn K 01 gói giấy màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng (niêm phong trong bì thư kí hiệu là M). Thu giữ của Lò Văn T tại lòng bàn tay trái số tiền mệnh giá 150.000 đồng( niêm phong trong bì thư kí hiệu là M1). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng và bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y để giải quyết theo thẩm quyền.
Tại Kết luận giám định số 1522/KL-KTHS ngày 23/06/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu trắng gửi giám định có khối lượng là 0,1127gam; Là ma túy Heroine”.
Với nội dung trên, bản cáo trạng số 170/CT-VKSYP ngày 13/09/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã quyết định truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Yên Phong để xét xử bị cáo Lò Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự và bị cáo Lường Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo T và K khai nhận: Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 20/06/2024 bị cáo T có gặp 01 người phụ nữ không quen biết tại thôn N, xã L sau khi nói chuyện được người phụ nữ cho 01 gói ma túy. Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 21/06/2024 khi đang đi bộ tại thôn N, xã L thì bị cáo T gặp Lường Văn K. Tại đây, K hỏi mua 150.000 đồng ma túy. Bị cáo đồng ý bán cho K. Bị cáo nhận 150.000 đồng từ K và đưa cho K 01 gói mua túy heroine thì bị bắt quả tang.
Người bào chữa cho bị cáo T: Hành vi phạm tội của bị cáo đã rõ, bị cáo là dân tộc Khơ Mú, thuộc hộ nghèo, ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên hiểu biết pháp luật còn hạn chế, đề nghị hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất để sớm trở về gia đình, xã hội, miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo cũng như xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo cáo Lò Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Bị cáo Lường Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Văn T từ 26 đến 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 21/06/2024. Miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo T.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lường Văn K từ 16 đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 21/06/2024. Miễn hình phạt bổ sung.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định và phong bì đựng que thử nước tiểu. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 150.000 đồng.
Lưu trong hồ sơ vụ án đĩa DVD hỏi cung bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án là đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án xác định: Hồi 00 giờ 30 phút ngày 21/06/2024, tại thôn N, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, Lò Văn T đã bị bắt quả tang về hành vi bán trái phép 0,1127 gam ma túy Heroine cho Lường Văn K với mức giá 150.000 đồng để kiếm lời. Còn K mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Lò Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; Bị cáo Lường Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã truy tố.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chính sách quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, ảnh hưởng tới sức khỏe con người và là cầu nối của đại dịch HIV. Đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm nguy hiểm khác như giết người, cướp tài sản, trộm cắp nên cần phải xử lý nghiêm bị cáo theo quy định của Bộ luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Hai bị cáo thường xuyên sử dụng ma túy, không có việc làm ổn định. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Hai bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới giúp các bị cáo cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội.
[6] Về xử lý vật chứng: Mẫu vật còn lại sau giám định là chất cấm lưu hành, phong bì đựng que thử nước tiểu không có giá trị sử dụng nên tịch thu và tiêu hủy.
Số tiền 150.000 đồng mua bán ma túy nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
[7] Về án phí: Bị cáo T là hộ nghèo, ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 của UBTV Quốc hội, bị cáo được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Liên quan trong vụ án có người phụ nữ cho bị cáo T ma túy, nhưng do bị cáo không biết tên tuổi, địa chỉ của người này. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y không có căn cứ để điều tra, xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Lò Văn T 26 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/06/2024;
2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố bị cáo Lường Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Lường Văn K 14 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/06/2024
3. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 329, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Quyết định tạm giam bị cáo T, K mỗi bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Tịch thu và tiêu hủy: Mẫu vật còn lại sau giám định của Phòng K1 Công an tỉnh B và 01 phong bì đựng que thử nước tiểu.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 150.000 đồng.
Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo T. Bị cáo K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Thanh |
Bản án số 170/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH về hình sự sơ thẩm (mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 170/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lò Văn Th, Lường Văn Kh mua bán tàng trữ trái phép chất ma túy
