|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN -------- Bản án số: 170/2024/HSST Ngày: 26-8-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ------------------------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh
Các hội thẩm nhân dân: - Bà Trần Thị Minh Hải
- Ông Nguyễn Bính
Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thanh Trúc– Thư ký tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 146/2024/TLST- HS ngày 24 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 234/2024/QĐXXST-HS ngày 12/8/2024 đối với bị cáo:
Thái Hà N; Giới tính: Nam; Sinh ngày 25/8/1983 tại Hà Tĩnh; Nơi cư trú: tổ I, khu phố H, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: không biết chữ; Nghề nghiệp: không; Con ông Nguyễn Văn C (đã chết) và bà Thái Thị H, sinh năm 1956; Vợ, Phan Thị Ngọc Á, sinh năm 1985; Có 1 con sinh 2008; Tiền án: - Ngày 13/3/2002, TAND huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 03/2002; - Ngày 11/01/2007, TAND thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 26/2007; - Ngày 26/02/2009, TAND thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 113/2009; - Ngày 25/9/2012, TAND quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 170/2012; - Ngày 07/5/2015, TAND thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” tại Bản án số 208, chấp hành xong hình phạt ngày 14/7/2017; - Ngày 08/4/2019, TAND tỉnh Bình Thuận xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 35 (y án Bản án hình sự sơ thẩm số 75 ngày 29/11/2018 của TAND huyện Hàm Thuận Nam), chấp hành xong hình phạt ngày 20/12/2023; Tiền sự: không; Nhân thân: không; Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ ngày 01/02/2024, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại: (vắng mặt)
Nguyễn Thị Kim A, sinh năm 1979
Nơi cư trú: khu phố C, phường T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
* Người làm chứng: (vắng mặt)
- Nguyễn Văn T, sinh năm 1995. Nơi cư trú: khu phố B, phường T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
- An Huy Hùng T1, sinh năm 1994. Nơi cư trú: khu phố C, phường T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
- Nguyễn Quốc B, sinh năm 1978. Nơi cư trú: khu phố C, phường T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
- Phạm Văn M, sinh năm 2000. Nơi cư trú: khu phố E, phường T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ 15 phút ngày 31/01/2024, Nguyễn Quốc B điều khiển xe mô tô hiệu Honda Future, biển số 86C2-164.35 chở Nguyễn Thị Kim A (sinh năm 1979, là vợ của B) chạy đến công viên đường N thuộc khu phố A, phường T, thành phố P. B dựng xe trên vỉa hè của công viên rồi cùng A đi vào công viên làm lưới đánh cá. Lúc này, Minh T2 (chưa rõ nhân thân) đang điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) chở Thái Hà N chạy đến công viên, phát hiện xe mô tô biển số 86C2-164.35 dựng trên vỉa hè của công viên, không có người trông coi nên Minh T2 dừng xe lại và đưa cho N 01 đoản phá khóa bằng kim loại dài 8cm và 01 con dao (loại dao gấp) bằng kim loại màu đen dài 24cm, Minh T2 nói N đi vào phá khóa xe để lấy trộm xe mô tô biển số 86C2-164.35. N đi đến vị trí để xe mô tô biển số 86C2-164.35 dùng đoản phá được khóa xe, Nam nổ máy điều khiển xe mô tô biển số 86C2-164.35 tẩu thoát, khi vừa chạy xuống đường cách vị trí ban đầu 15 mét thì B phát hiện, B chạy đến, vừa la lớn vừa dùng tay xô xe mô tô biển số 86C2-164.35, làm N cùng chiếc xe ngã xuống đường. Lúc này, A và quần chúng nhân dân ở gần đó cũng chạy đến, N đứng dậy lấy con dao (loại dao gấp) bằng kim loại màu đen dài 24cm để chống trả lại và dùng con dao trên đâm 01 nhát trúng vào đùi chân phải của Anh gây thương tích. Trước sự việc trên, quần chúng nhân dân đã bắt giữ N, trình báo sự việc cho Công an phường T, đồng thời đưa Kim A đến Bệnh viện Đ để điều trị vết thương.
Minh T2 đang đứng gần đó, sợ bị bắt nên điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) tẩu thoát.
Ngày 02/02/2024, Nguyễn Thị Kim A có đơn yêu cầu giám định thương tích và xử lý hình sự.
Vật chứng của vụ án:
- 01 đoản phá khóa bằng kim loại, có chiều dài 08cm.
- 01 con dao (loại dao gấp) bằng kim loại màu đen dài 24cm.
- 01 xe mô tô hiệu Honda Future, biển số 86C2-164.35, số khung RLHJC7652NY176242, số máy JC90E0379928.
Tại Kết luận định giá tài sản số 05 ngày 05/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố P kết luận: Xe mô tô biển số 86C2-164.35, nhãn hiệu Honda, số loại Future FI, số máy JC90E0379928, số khung RLHJC7652NY176242, trị giá 24.666.667 đồng.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 499 ngày 06/6/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận thương tích của Nguyễn Thị Kim A như sau:
“1. Các kết quả chính:
- Vết thương phần mềm vùng bẹn phải đã được điều trị hiện để lại sẹo kích thước (03 x 01)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 2%.
2. Kết luận:
- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của bà Nguyễn Thị Kim A tại thời điểm giám định là 2%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- Kết luận khác:
+ Vết thương do vật sắc gây ra.
+ Vết thương có chiều hướng lực tác động theo tư thế cơ năng của cơ thể với vật gây thương.
+ Hiện không xác định cố tật.
Xử lý vật chứng và dân sự:
01 van phá khóa bằng kim loại, có chiều dài 08cm; 01 con dao (loại dao gấp) bằng kim loại được sơn đen, chiều dài 24cm, Viện kiểm sát thành phố P đã ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết bảo quản, chờ xử lý.
Cơ quan điều tra trả lại xe mô tô hiệu Honda Future, biển số 86C2-164.35 cho Nguyễn Thị Kim A. Anh nhận xe và không yêu cầu bồi thường về dân sự.
Tại bản cáo trạng số 141/CT-VKS ngày 23 tháng 7 năm 2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố Thái Hà N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm đ, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự và tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị hội đồng xét xử áp dụng điểm đ, g khoản 2 Điều 173; điểm a khoản 1 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích và tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội từ 03 năm 09 tháng tù đến 04 măm 06 tháng tù.
Bị cáo không trình bày lời bào chữa, không tranh luận gì với Kiểm sát viên đồng thời thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như lời kết tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là đầy đủ và tuân thủ đúng theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 18 giờ 20 phút ngày 31/01/2024, tại C đường N thuộc khu phố A, phường T, thành phố P. Thái Hà N và Minh T2 (chưa rõ nhân thân) có hành vi lén lút lấy trộm xe mô tô hiệu Honda Future, biển số 86C2-164.35, trị giá 24.666.667 đồng của Nguyễn Thị Kim A. Khi bị phát hiện thì N dùng con dao (loại dao gấp) bằng kim loại màu đen dài 24cm gây thương tích 2% cho Nguyễn Thị Kim A nhằm mục đích tẩu thoát thì bị bắt quả tang.
[3] Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, xâm phạm đến sức khỏe của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự của địa phương,
Bị cáo Thái Hà N có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” đã xác định là “tái phạm nguy hiểm”, chưa được xóa án tích thì nay lại lấy trộm xe mô tô, trị giá 24.666.667 đồng, nên lần phạm tội này của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, được quy định tại điểm g “tái phạm nguy hiểm; điểm đ “hành hung để tẩu thoát” khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Đồng thời khi bị phát hiện, bị cáo đã dùng dao gây thương tích cho người bị hại 02% để tẩu thoát nên hành vi này của bị cáo cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố bị cáo với tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ và đúng qui định của pháp luật.
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cho thấy: Bị cáo là người có nhân thân xấu, ngoài việc thực hiện hành vi trộm cắp lần này bị cáo đã từng thực hiện nhiều vụ trộm cắp khác đã bị xử lý hình sự. Thế nhưng, bị cáo không tự cải tạo tốt. Khi ra tù bị cáo vẫn không chịu lao động để tạo ra của cải vật chất nuôi sống bản thân, mà do muốn nhanh chóng có thu nhập mà không phải lao động nặng nhọc nên bị cáo đã tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác để thỏa mãn nhu cầu vật chất cá nhân, bất chấp pháp luật. Khi bị phát hiện bị cáo còn hành hưng người bị hại để tẩu thoát. Hành vi của bị cáo ngày càng manh động đơn và thể hiện tính nguy hiểm cao cho xã hội nên cần phải xử lý bằng biện pháp hình sự và áp dụng mức hình phạt thật nghiêm khắc nhằm để răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa hôm nay cũng như quá trình điều tra, truy tố bị cáo thành thành khẩn khai báo, nên cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[5] Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là có căn cứ và với mức án mà Kiểm sát viên đề nghị là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có xem xét nhân thân của bị cáo, xét thấy: Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội nên cần áp dụng mức hình phạt thật nghiêm khắc, cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội thêm một thời gian nhất định là cần thiết để bị cáo biết tuân theo pháp luật, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới. Đồng thời áp dụng quy định tại Điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội.
[6] Biện pháp tư pháp:
- Về phần bồi thường dân sự: Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt và thể hiện là đã nhận lại được tài sản bị bị cáo chiếm đoạt, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Xử lý vật chứng: Khi bắt quả tang đã thu giữ 1 van phá khóa bằng kim loại, có chiều dài 08 cm, 1 con dao gấp bằng kim loại được sơn đen, chiều dài 24 cm là vật chứng của vụ án nên cần tịch thu tiêu hủy
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Đối tượng có tên Minh T2 là đồng phạm với Thái Hà N thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô biển số 86C2-164.35 của Nguyễn Thị Kim A, do chưa xác định được nhân thân nên Cơ quan điều tra đã tách vụ án để làm rõ, xử lý sau là có căn cứ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ điểm g, đ khoản 2 Điều 173; điểm a khoản 1 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55 Bộ luật hình sự.
- Tuyên bố: Bị cáo Thái Hà N phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Cố ý gây thương tích”.
- Xử phạt: T (ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 01 (một) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 04 năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/02/2024.
- Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng dân sự; Tuyên xử:
Tịch thu tiêu hủy 1 van phá khóa bằng kim loại, có chiều dài 08 cm và 1 con dao gấp bằng kim loại được sơn đen, chiều dài 24 cm là vật chứng của vụ án (Theo biên bản giao nhận vậy chứng số 153 ngày 26/7/2024)
- Về án phí: Căn cứ khoản 02 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, buộc bị cáo Thái Hà N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai, sơ thẩm, có mặt bị cáo, vắng mặt người bị hại. Quyền kháng cáo bản án của bị cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Quyền kháng cáo bản án của người bị hại vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM – HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm Phán - Chủ Tọa Phiên Tòa Nguyễn Thị Hồng Hạnh |
Bản án số 170/2024/HSST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN về trộm cắp tài sản và cố ý gây thương tích (hình sự)
- Số bản án: 170/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Cố ý gây thương tích (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản và Cố ý gây thương tích
