|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 170/2024/DS-ST Ngày: 25/7/2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Bích Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Đông Nguyệt
- Bà Trần Thị Lan
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thụy Uyên Vy – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 258/2023/TLST-DS ngày 09/11/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 499/2024/QĐXXST- DS ngày 04/6/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 642/2024/QĐST-DS ngày 03/7/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần H1
Địa chỉ: E N, Phường L, Quận Đ, Hà Nội.
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hoàng L, chức danh: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T và ông Võ Minh T1;
Cùng địa chỉ liên lạc: Tầng B Tòa nhà T, số A N, phường N, Quận A, TP .;
Cùng Văn bản ủy quyền số 4128/2023/GUQ-TGĐ12 ngày 16/5/2023
Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt
Bị đơn: Bà Cam Thị Mỹ N, sinh năm 1981;
HKTT: 266/40/43 T, Phường H, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh
Bị đơn vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện đề ngày 19/6/2023, Đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện đề ngày 23/4/2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại cổ phần H1 (sau đây viết tắt là Ngân hàng) có ông Nguyễn Văn T là đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 21/07/2021 Ngân hàng TMCP H1-Chi nhánh Đ-Phòng G (sau đây viết tắt là M1) và bà Cam Thị Mỹ N đã ký kết Giấy đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng MSB và bảng Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng (sau đây viết tắt là Hợp đồng), loại thẻ: Visa Signature Dinning M, cụ thể:
- Hạn mức thẻ: 200.000.000 đồng;
- Mục đích sử dụng: tiêu dùng cá nhân;
- Thời hạn: 36 tháng;
- Lãi suất: 30%/năm;
- Lãi suất quá hạn: 43.5%/lãi suất chi tiêu trong hạn.
Ngày 21/07/2021 M1 đã cấp hạn mức tín dụng cho bà Cam Thị Mỹ N theo Hợp đồng, loại thẻ: Visa Signature Dinning M, hạn mức được cấp: 200.000.000 đồng;
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà Cam Thị Mỹ N đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ gốc và lãi theo đúng cam kết, thỏa thuận tại Hợp đồng đã ký kết. Tạm tính đến ngày 25/7/2024, bà Cam Thị Mỹ N còn nợ Ngân hàng với số tiền: 305.561.707 đồng (Ba trăm lẻ năm triệu, năm trăm sáu mươi mốt nghìn, bảy trăm lẻ bảy đồng), trong đó:
- Nợ gốc: 195.902.942 đồng;
- Nợ lãi trong hạn: 107.799.835 đồng;
- Nợ lãi quá hạn: 933.894 đồng;
- Nợ phí: 925.036 đồng.
Yêu cầu giải quyết:
Buộc bà Cam Thị Mỹ N phải trả cho Ngân hàng TMCP H1 số tiền tạm tính đến ngày 25/7/2024 là 305.561.707 đồng (Ba trăm lẻ năm triệu, năm trăm sáu mươi mốt nghìn, bảy trăm lẻ bảy đồng), trong đó:
- Nợ gốc: 195.902.942 đồng;
- Nợ lãi trong hạn: 107.799.835 đồng;
- Nợ lãi quá hạn: 933.894 đồng;
- Nợ phí: 925.036 đồng.
Và kể từ ngày 26/7/2024 bà Cam Thị Mỹ N còn phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền lãi trên số nợ gốc chưa thanh thanh toán theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng cho đến khi thanh toán hết khoản nợ.
Bị đơn là bà Cam Thị Mỹ N vắng mặt không lý do mặc dù đã được Tòa án tống đạt triệu tập hợp lệ: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa. Bà N cũng không gửi văn bản có ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho Tòa án nên không thể thu thập ý kiến của bà N. Theo kết quả xác minh của Công an P, Quận D thì “Đ/s Cam Thị Mỹ N, sinh năm: 1981, HKTT tại 2 T, Phường H, Quận D, TP . Vắng địa phương từ năm 2016, hiện nay đi đâu không rõ”
Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt, nguyên đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Qua kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại cổ phần H1 khởi kiện yêu cầu bị đơn là bà Cam Thị Mỹ N thanh toán số tiền nợ theo Giấy đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng và bảng Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng (sau đây viết tắt là Hợp đồng), nên có đủ cơ sở xác định đây là vụ án dân sự về tranh chấp hợp đồng tín dụng; Bà Cam Thị Mỹ N có hộ khẩu thường trú tại Quận D. Do đó, căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 4.
Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án tống đạt triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tòa án tiến hành xét xử vắng mặt.
Theo quy định tại Khoản 4 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự, đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc.
[2] Về yêu cầu của đương sự:
[2.1] Về hình thức của hợp đồng:
Căn cứ lời trình bày của đương sự, tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận thấy: Ngày 21/07/2021, Ngân hàng Thương mại cổ phần H1 và bà Cam Thị Mỹ N có ký Giấy đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng và bảng Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng (sau đây gọi là hợp đồng); Ngân hàng đã cấp 01 thẻ tín dụng, loại thẻ: Visa Signature Dinning M, hạn mức được cấp: 200.000.000 đồng, mục đích sử dụng: tiêu dùng cá nhân, thời hạn: 36 tháng, lãi suất: 30%/năm, Lãi suất quá hạn: 145%/lãi suất chi tiêu trong hạn. Việc ký kết là hoàn toàn tự nguyện, các điều khoản hai bên thỏa thuận trong hợp đồng đều đáp ứng đủ điều kiện chủ thể ký kết hợp đồng và phù hợp với nội dung quy định tại Điều 91, Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 17/2017/QH14. Nội dung trong hợp đồng không trái đạo đức xã hội, không trái pháp luật, do vậy Hợp đồng có hiệu lực pháp luật và các bên phải có nghĩa vụ chấp hành.
[2.2] Về quá trình thực hiện Hợp đồng: Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà Cam Thị Mỹ N đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ gốc và lãi theo cam kết, thỏa thuận tại Hợp đồng đã ký kết. Tạm tính đến ngày 25/7/2024, bà Cam Thị Mỹ N còn nợ Ngân hàng với số tiền: 305.561.707 đồng (Ba trăm lẻ năm triệu, năm trăm sáu mươi mốt nghìn, bảy trăm lẻ bảy đồng), trong đó:
- Nợ gốc: 195.902.942 đồng;
- Nợ lãi trong hạn: 107.799.835 đồng;
- Nợ lãi quá hạn: 933.894 đồng;
- Nợ phí: 925.036 đồng.
Do đó, ngày 19/6/2023, Ngân hàng đã khởi kiện để yêu cầu bà N thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ gốc và lãi là đúng theo quy định tại Khoản 2 Điều 8, Điều 15 của Bảng Điều khoản, điều kiện về việc phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.
[2.3] Về yêu cầu thanh toán nợ gốc:
Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn, các tài liệu có trong hồ sơ như: Giấy đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng và bảng Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, bảng tình hình giao dịch thẻ tín dụng, đủ cơ sở xác định bà N còn nợ Ngân hàng số tiền nợ gốc là 195.902.942 đồng. Căn cứ vào Điều 15 của Bảng Điều khoản, điều kiện về việc phát hành và sử dụng thẻ tín dụng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu chủ thẻ thanh toán đầy đủ và đúng hạn các khoản dư nợ thẻ. Vì vậy yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn thanh toán số tiền nợ gốc là 195.902.942 đồng là có cơ sở chấp nhận.
[2.4] Về yêu cầu thanh toán nợ lãi trong hạn, nợ lãi quá hạn, nợ phí:
[2.4.1] Về yêu cầu thanh toán nợ lãi trong hạn:
Nguyên đơn yêu cầu bà N thanh toán tiền lãi trong hạn với lãi suất 30%/ năm, số tiền lãi trong hạn là 107.799.835 đồng là đúng với quy định tại Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm và Thông báo số 15/TB-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về việc đính chính Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019, Giấy đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng và Điều 4 bảng Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, Quyết định V/v điều chỉnh lãi suất thẻ tín dụng tại Ngân hàng Bán lẻ số 45/2021/QĐ-TGDD1 ngày 05/01/2021 là có căn cứ nên được chấp nhận.
[2.4.2] Về yêu cầu thanh toán nợ lãi quá hạn:
Đến ngày 22/7/2024, thời hạn thẻ tín dụng cấp cho bà N hết hạn mà bà N vẫn chưa thanh toán tiền cho Ngân hàng nên Ngân hàng chuyển khoản nợ của bà N sang lãi quá hạn, yêu cầu bà N thanh toán tiền lãi quá hạn trên nợ gốc 195.902.942 đồng, với lãi suất 43.5%/ năm, số ngày chịu lãi từ ngày 22/7/2024 đến hết ngày 25/7/2024 là 4 ngày với số tiền lãi quá hạn là 933.894 đồng là đúng với quy định tại Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm và Thông báo số 15/TB-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về việc đính chính Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019, Giấy đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng và Điều 4 bảng Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, Quyết định V/v điều chỉnh lãi suất thẻ tín dụng tại Ngân hàng Bán lẻ số 45/2021/QĐ-TGDD1 ngày 05/01/2021.
Ngoài ra, Ngân hàng còn yêu cầu kể từ ngày 26/7/2024 bà Cam Thị Mỹ N còn phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền lãi trên số nợ gốc chưa thanh thanh toán theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Hợp đồng cho đến khi thanh toán hết khoản nợ. Yêu cầu ngày của Ngân hàng là phù hợp với quy định tại Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm và Thông báo số 15/TB-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về việc đính chính Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 và thỏa thuận giữa các bên nên có cơ sở chấp nhận.
[2.4.3] Về yêu cầu thanh toán nợ phí:
Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn, các tài liệu có trong hồ sơ như: Giấy đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng và bảng Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, bảng tình hình giao dịch thẻ tín dụng, đủ cơ sở xác định bà N còn nợ Ngân hàng số tiền nợ phí là 925.036 đồng. Căn cứ vào Điều 4, Điều 14 và Điều 15 của Bảng Điều khoản, điều kiện về việc phát hành và sử dụng thẻ tín dụng thì bà N có nghĩa vụ thanh toán phí phát sinh từ việc sử dụng thẻ. Vì vậy yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn thanh toán tiền nợ phí là 925.036 đồng là có cơ sở chấp nhận.
[3] Về án phí và các chi phí tố tụng khác:
[3.1] Về án phí: Do bà N có nghĩa vụ trả tiền nên bà N có nghĩa vụ nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền phải trả. H lại số tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý về sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[3.2] Về chi phí tố tụng khác: Chi phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng bà N chịu
[4] Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 91, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 91, Điều 95 và Điều 98 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014;
Căn cứ Điều 8, Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm và Thông báo số 15/TB-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về việc đính chính Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý về sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại cổ phần H1.
Buộc bà Cam Thị Mỹ N thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần H1 số tiền nợ đến ngày 25/7/2024 là 305.561.707 đồng (Ba trăm lẻ năm triệu, năm trăm sáu mươi mốt nghìn, bảy trăm lẻ bảy đồng), trong đó:
- Nợ gốc: 195.902.942 đồng;
- Nợ lãi trong hạn: 107.799.835 đồng;
- Nợ lãi quá hạn: 933.894 đồng;
- Nợ phí: 925.036 đồng.
Kể từ ngày 26/7/2024 bà Cam Thị Mỹ N còn phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền lãi trên số nợ gốc chưa thanh thanh toán theo mức lãi suất đã thỏa thuận đã ký kết tại Giấy đăng ký kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng MSB ký ngày 21/07/2021 và bảng Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cho đến khi thanh toán hết khoản nợ.
Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng khác:
Bà Cam Thị Mỹ N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 15.278.085 đồng.
Ngân hàng Thương mại cổ phần H1 được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 6.093.000 (sáu triệu không trăm chín mươi ba nghìn) đồng theo biên lai số AA/2023/0042573 ngày 30/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bà Cam Thị Mỹ N phải chịu chi phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng là 10.000.000 đồng. Bà N có nghĩa vụ hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần H1 số tiền 10.000.000 đồng trên.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kê từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 15 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày tuyên án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
|
|
Nguyễn Thị Đông Nguyệt |
Đỗ Thị Bích Phượng |
|
Trần Thị Lan |
|
Nơi nhận:
|
Bản án số 170/2024/DS-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 170/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP H1 buộc bà N thanh toán
