TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:170/2024/HS-ST Ngày: 23-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Thanh Quyên
- - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Thân Thị Tuyết Nhung
- 2. Bà Nguyễn Thị Thuỷ
- - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Trần Ngọc Nam – Kiểm sát viên.
Ngày 23/8/2024, tại điểm cầu thành phần Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang và Trại tạm giam Công an tỉnh B, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 155/2024/HSST ngày 06/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 148/2024/QĐXXST – HS ngày 08/8/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hoàng Văn Q, sinh năm 1984; Giới tính: Nam; Nơi cư trú và nơi ở: Thôn P, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 5/12; Con ông Hoàng Văn B, sinh năm 1959 (đã chết) và bà Lưu Thị T, sinh năm 1957; Gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là thứ ba; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/6/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B và có mặt tại phiên toà.
- * Bị hại: Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1994 (Có mặt)
- Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên
- * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Triệu Văn P1, sinh năm 1990 (Có mặt)
- Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên
- Đại diện theo uỷ quyền: Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1994
- Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hoàng Văn Q, sinh năm 1984, trú tại thôn P, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang xuống chợ M, xã T, thành phố B làm công việc bốc vác hàng thuê từ đầu năm 2023. Khoảng hơn 11h ngày 03/5/2024, Hoàng Văn Q nhìn thấy chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1994, trú tại thôn H, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên đang nằm ngủ trên chiếc giường xếp gần lối đi ra nhà vệ sinh chợ M và để 01 túi xách màu đen ở bên cạnh, Q nảy sinh ý định trộm cắp tài sản trong chiếc túi này. Q đi ra khu vực nhà vệ sinh lấy 01 chiếc chổi có cán bằng tre rồi dùng cán chổi đẩy chiếc camera đang hướng vào chỗ chị P nằm ngủ sang hướng khác để tránh bị phát hiện. Q tiến lại gần chỗ chị P đang nằm ngủ rồi dung tay phải lấy chiếc túi xách mang vào nhà vệ sinh mở ra thì thấy bên trong có 01 xấp tiền gồm nhiều tờ tiền mệnh giá khác nhau và 01 chiếc điện thoại iphone 11 màu đen. Q lấy hết số tiền trong túi đút vào túi quần bên phải và lấy chiếc điện thoại đút vào túi quần bên trái đang mặc rồi mang chiếc túi để vào vị trí cũ. Sau đó, Q đi ra ngoài đường kiểm đếm thấy trộm cắp được tổng số tiền 21.700.000 đồng. Sau khi trộm cắp tài sản, Q đi xe buýt đến thành phố T, Bắc Ninh bán chiếc điện thoại trộm cắp được cho một cửa hàng mua bán điện thoại không quen biết được 700.000 đồng. Sau đó Q quay về thị trấn M, thị xã V, tỉnh Bắc Giang và sống lang thang ở đây. Số tiền trộm cắp được Q tiêu sài cá nhân và mua ma tuý sử dụng hết.
Kết luận định giá tài sản số 125/KL-HĐĐG ngày 10/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố B kết luận:
- -01 chiếc điện thoại Iphone 11, vỏ màu đen đã qua sử dụng có trị giá tại thời điểm ngày 03/5/2024 là 6.000.000 đồng
- -01 ốp lựng bằng nhựa, vỏ màu trắng trong suốt mua từ tháng 8/2023, đã qua sử dụng có trị giá tại thời điểm ngày 03/5/2024 là 10.000 đồng.
- -01 túi xách màu đen, mua từ tháng 01/2024, đã qua sử dụng có trị giá tại thời điểm ngày 03/4/2023 là 100.000 đồng
- -Chi phí làm lại 01 sim nhà mang Viettel, có trị giá tại thời điểm ngày 03/5/2024 là 30.000 đồng
Tại bản cáo trạng số 159/CT-VKS ngày 05/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã truy tố bị cáo Hoàng Văn Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà: Bị cáo Hoàng Văn Q đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như Cáo trạng đã truy tố. Viện kiểm sát truy tố bị cáo là không oan, bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình là sai, bị cáo rất hối hận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Về trách nhiệm dân sự, bị cáo đồng ý bồi thường cho chị P số tiền 27.740.000 đồng. Tuy nhiên, hiện nay do bị cáo bị tạm giam nên chưa có điều kiện để bồi thường cho chị P.
Bị hại chị Nguyễn Thị P xác nhận bị cáo Q chưa bồi thường số tiền 27.740.000 đồng cho chị. Nay chị yêu cầu bị cáo Q phải bồi thường cho chị số tiền trên.
Anh Triệu Văn P1 xác nhận số tiền bị cáo Q trộm cắp của chị P là tài sản chung của vợ chồng anh. Nay anh yêu cầu bị cáo Q phải bồi thường cho vợ chồng anh số tiền trên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Q từ 01 năm đến 01 năm 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 03/6/2024.
- Do bị cáo không có tài sản riêng, không có nghề nghiệp, hiện đang bị tạm giam nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
- - Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị P, anh Triệu Văn P1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 27.740.000 đồng. Bị cáo chưa bồi thường cho chị P, anh P1 số tiền trên nên cần áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584; Điều 585; Điều 589 Bộ luật Dân sự để buộc bị cáo Q phải bồi thường cho chị Nguyễn Thị P, anh Triệu Văn P1 số tiền 27.740.000 đồng.
- - Về xử lí vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
- +Tịch thu tiêu huỷ 01 mũ lưỡi chai màu đen đã qua sử dụng.
- Ngoài ra, cần áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, bị hại, người liên quan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình Điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Hoàng Văn Q đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình gây ra. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Ngày 03/5/2024, Hoàng Văn Q thấy chị Nguyễn Thị P đang nằm ngủ trên giường xếp ở chợ M, xã T, thành phố B và để chiếc túi xách bên cạnh. Lợi dụng sơ hở, Q đã trộm cắp chiếc túi xách của chị P và lấy số tiền 21.700.000 đồng và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11, màu đen trị giá 6.040.000 đồng để trong túi xách. Tổng giá trị tài sản Q trộm cắp của chị P là 27.740.000 đồng.
[3] Như vậy, hành vi của bị cáo Hoàng Văn Q đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo 01 lần thực hiện hành vi phạm tội với tổng giá trị tài sản trộm cắp là 27.740.000 đồng. Do vậy, cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo mặc dù ít nghiêm trọng xong đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương nơi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm các bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.
[5] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa bị xét xử và xử phạt vi phạm hành chính lần nào.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo lần đầu phạm tội, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi phạm tội, bị cáo tự nguyện ra đầu thú. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo.
[8] Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, điều luật đã viện dẫn. Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo phạm tội lần đầu và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý và thường xuyên vắng mặt tại địa phương, đi đâu làm gì chính quyền địa phương không nắm được. Do vậy, để đảm bảo tình hình an ninh chính trị địa phương, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục bị cáo trở thành người tốt cho xã hội.
[9] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản riêng và hiện đang bị tạm giam nên không cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo và cần áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Do bị cáo đang bị tạm giam nên cần tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo công tác thi hành án.
[10] Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị P, anh Triệu Văn P1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 27.740.000 đồng. Bị cáo chưa bồi thường cho chị P, anh P1 số tiền trên nên cần áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584; Điều 585; Điều 589 Bộ luật Dân sự để buộc bị cáo Q phải bồi thường cho chị Nguyễn Thị P, anh Triệu Văn P1 số tiền 27.740.000 đồng.
[11] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
- + Tịch thu tiêu huỷ: 01 mũ lưỡi chai màu đen không còn giá trị sử dụng.
[12] Đối với chiếc điện thoại di động mà Q trộm cắp của chị Nguyễn Thị P sau đó đem bán, tuy nhiên do Q không nhớ vị trí cửa hàng đã bán chiếc điện thoại nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.
Đối với Hoàng Văn Q khai có sử dụng ma tuý. Phiếu xét nghiệm chất ma tuý ngày 03/6/2024 của Công an thành phố B đối với Q có kết quả dương tính với ma tuý Heroin. Công an thành phố B đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Q về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý là có căn cứ.
[13] Ngoài ra cần áp dụng điểm Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; khoản 2 Điều 136; các Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự để buộc bị cáo Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584; Điều 585; Điều 589 Bộ luật Dân sự;
- Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
- + Tịch thu tiêu huỷ 01 mũ lưỡi chai màu đen.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc bị cáo Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.387.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Q 01(một) năm 3 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 03/6/2024.
Buộc bị cáo Hoàng Văn Q phải bồi thường cho chị Nguyễn Thị P, anh Triệu Văn P1 số tiền 27.740.000 đồng (Hai mươi bẩy triệu bẩy trăm bốn mươi nghìn đồng)
Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Báo cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt biết quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lương Thị Thanh Quyên |
Bản án số 170/2024/HS-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 170/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn Q phạm tội Trộm cắp tài sản
