Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 170/2024/HS-ST

Ngày: 23-4-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Bình

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Võ Thị Gái

Ông Trần Đăng Vạn

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Xuân Thu – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Huệ - Kiểm sát viên.

Vào ngày 23 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 126/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 150/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2024 dưới hình thức trực tuyến, gồm 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm đặt tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, điểm cầu thành phần đặt tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T, đối với bị cáo:

Trần Minh Q;

Sinh năm 1996; Số định danh: 079096005348; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú và cư trú: Số B đường L, Tổ dân phố F, Khu phố G, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Long Q1 (chết) và bà Nguyễn Kim D (chết); Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị tạm giam từ ngày 04/10/2023. (Có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Nguyễn Trọng T, sinh năm: 1998; Địa chỉ: 1 T, Khu phố D, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 13 giờ 30 ngày 04/10/2023, tổ tuần tra 363 Công an thành phố Thủ Đức tuần tra đến trước số A, T, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện Nguyễn Trọng T điều khiển xe mô tô biển số 54V2 – 4286 đang chở Trần Minh Q có vi phạm giao thông, biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra; tại thời điểm kiểm tra phát hiện ở túi phía trước bên phải của quần mà Trần Minh Q đang mặc có một hộp nhựa in chữ “HEYXI” đựng 02 (hai) gói nylon chứa tinh thể không màu, Trần Minh Q khai nhận là ma túy nên tổ 363 tiến hành bàn giao cho Công an phường L lập hồ sơ xử lý.

Tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T, Trần Minh Q khai nhận sáng ngày 04/10/2023 Q có đi uống café cùng bạn là Nguyễn Trọng T ở đường P, đến khoảng 08 giờ 00 phút ngày 04/10/2023 Q có lên mạng xã hội (Facebook) thì thấy có một số điện thoại đăng bán ma túy nên Q gọi điện thoại theo số trên đặt mua ma túy, có một người thanh niên (không rõ lai lịch) trả lời điện thoại và hẹn Q ở ngã tư P - T để giao ma túy, Q mượn xe mô tô biển số: 54V2 – 4286 của Nguyễn Trọng T đi đến chỗ hẹn rồi gọi điện thoại thì được 01 thanh niên chỉ chỗ lấy ma túy ở dưới đất, Q nhặt hộp nhựa tròn có 02 gói ma túy bên trong cất vào túi quần sau đó bỏ 200.000 đồng xuống chỗ vừa nhặt ma túy rồi điều khiển xe quay về. Đến trưa cùng ngày, Q rủ T về nhà Q chơi, thì bị Cơ quan Công an kiểm tra và thu giữ vật chứng là hộp nhựa tròn có đựng 02 gói ma túy Q mua chưa kịp sử dụng cất trong túi quần của Q đang mặc. T không biết Q mượn xe mô tô đi mua ma túy và cất ma túy trong người đồng thời T không hùn tiền với Q để mua ma túy. Q khai bắt đầu sử dụng ma túy loại (ma tuý đá) từ năm 2018 nhưng không biết chỗ bán ma tuý tình cờ lướt mạng xã hội (Facebook) thì thấy có số điện thoại đăng bán ma túy nên gọi mua, Q mua là lần đầu tiên còn những lần khác thì Q cũng lên mạng xã hội tìm các số điện thoại rao bán ma túy rồi đặt mua ma túy để sử dụng, tiền mua ma túy do gia đình Q cho để tiêu vặt nên Q dùng mua ma túy. Ma túy mua về Q sử dụng cho bản thân, không bán lại cho ai.

Đối với Nguyễn Trọng T khai không biết việc Q mượn xe mô tô của T đi mua ma túy và không hùn tiền để mua ma túy với Q, T không sử dụng ma túy chung với Q. T nghiện ma túy từ năm 2015, T đi chơi được bạn quen ngoài xã hội cho để sử dụng, lần ngần nhất T sử dụng ma túy là vào ngày 01/10/2023 do một người bạn ở đường H, phường H cho một ít sử dụng.

Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể đối với Q và T cho kết quả Dương tính.

Vật chứng thu giữ: 01 hộp nhựa màu trắng bên trong có: 02 gói nylon chứa tinh thể không màu thu giữ trong túi phía trước bên phải của quần mà Q đang mặc trên người. 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu vàng (không có thẻ sim) 01 đện thoại di động hiệu Itel màu đen có số thê bao 0562781597.

Kết luận giám định số 11130/KL-KTHS ngày 11 tháng 10 năm 2023 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận:

Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2431 gram loại Methamphetamine.

Vật chứng còn lại sau giám định: 01 gói niêm phong bên ngoài ghi số vụ 11130 (2161/23) có chữ ký giám định viên Phạm Huỳnh Minh T1.

Bản cáo trạng số 133/CT-VKSTPTĐ ngày 07/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với Trần Minh Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt Trần Minh Q mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng; Bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên và không tự bào chữa; Bị cáo nói lời sau cùng biết lỗi của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Trần Minh Q khai nhận vào lúc 13 giờ 30 ngày 04/10/2023, tại trước số A, T, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh có hành vi tàng trữ 02 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2431 gram loại Methamphetamine để sử dụng. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, cố tình phạm tội với lỗi cố ý. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, vật chứng thu giữ, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, phù hợp với sự thật khách quan của vụ án đủ cơ sở kết luận bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

[3] Như vậy quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đối với bị cáo Trần Minh Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lí các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, cần phải xử lý nghiêm minh bị cáo trước pháp luật. Do đó, cần có một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một

thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo nói riêng và đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chưa tiền án tiền sự. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[7] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử không áp dụng đối với bị cáo.

[8] Về các biện pháp tư pháp: Không có.

[9] Về xử lý vật chứng: 01 hộp nhựa màu trắng bên trong có chứa 02 gói nylon chứa ma túy cần tịch thu, tiêu hủy. 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu vàng (không có thẻ sim) 01 điện thoại di động hiệu Itel màu đen có số thê bao 0562781597 là công cụ phương tiện phạm tội cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước

[10] Về các vấn đề khác: Đối với Nguyễn Trọng T không biết Q tàng trữ trái phép chất ma túy nên không có căn cứ xử lý hình sự, Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã lập hồ sơ chuyển về địa phương để xử lý theo Nghị định của Chính phủ. Đối với người thanh niên (không rõ lại lịch) đã bán ma túy cho Trần Minh Q, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T tục xác minh làm rõ, khi có căn cứ xử lý sau là có cơ sở.

[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Minh Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Trần Minh Q 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/10/2023.

2. Áp dụng Điều 106 Bộ Luật Tố tụng Hình sự:

Tịch thu, tiêu hủy 01 gói niêm phong bên ngoài ghi số vụ 11130 (2161/23) có chữ ký giám định viên Phạm Huỳnh Minh T1, bên trong là ma túy còn lại sau giám định;

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu vàng (không có thẻ sim) 01 điện thoại di động hiệu Itel màu đen có số thê bao 0562781597 .

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 98/QĐ-VKSTPTĐ ngày 06/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức; Biên bản giao nhận tang vật ngày 22/3/2024; Phiếu nhập kho ngày 22/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức)

3. Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo Trần Minh Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND thành phố Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS thành phố Thủ Đức;
  • - Trại giam và bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thái Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 170/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 170/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Minh Quý - Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger