Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ

TỈNH KIÊN GIANG

Bản án số: 170/2023/HS-ST

Ngày: 22/8/2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ - TỈNH KIÊN GIANG

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Văn Toán.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Chung Kim Sang

2. Ông Nguyễn Quốc Tiến

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Anh Thư - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2023, tại: Phòng xét xử trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 168/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 197/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang đối với bị cáo:

Trần Thị L; Tên gọi khác: Không; sinh ngày 19/06/1996 tại thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang;

Nơi cư trú: 90/7 Nguyễn Bính, khu phố 7, phường RS, thành phố RG, tỉnh KG; Chổ ở hiện nay: Số 65 Tôn Thất Đ, phường RS, thành phố RG, tỉnh KG; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 07/12 phổ thông; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn Ph, sinh năm 1973 và bà: Trần Thị Tr sinh năm 1975; Chồng: Võ Phấn H, sinh năm 1983; Có 02 người con, con lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất, sinh năm 2022.

Nhân thân: Không tiền án, tiền sự.

Có mặt.

* Người làm chứng:

- Anh Nguyễn Thanh S, sinh năm 1970. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số 243/9/8B, đường Nguyễn Chí Thanh, phường RS, thành phố R G, tỉnh KG.

- Anh Thái Hữu B, sinh năm 1970; (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số 117 đường Tôn Thất Tùng, phường RS, thành phố R G, tỉnh KG.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 09 giờ 30 phút, ngày 22/3/2023, tại trước nhà số 65 Tôn Thất Đạm, phường RS, thành phố R G, tỉnh KG. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá phối hợp cùng Công an phường RS bắt quả tang Trần Thị L đang tàng trữ trái phép chất ma túy. Kiểm tra, thu giữ trong lòng bàn tay trái của Trần Thị L 01 (một) bịch nylon trong suốt có rãnh gài viền màu đỏ, bên trong có chứa 07 (bảy) bịch nylon trong suốt được hàn kín, bên trong mỗi bịch nylon đều có chứa các hạt chất rắn dạng tinh thể không đồng nhất.

Qua điều tra xác định, Trần Thị L bắt đầu sử dụng trái phép chất ma túy, loại ma túy đá từ khoảng đầu tháng 03 năm 2023, nhưng không thường xuyên. Nguồn ma túy trên, do trước đó vào khoảng 17 giờ, ngày 20/3/2023 bản thân có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy nên L đi bộ đến khu vực dốc cầu Rạch Sỏi thuộc phường AB, thành phố RG tìm gặp một người đàn ông (không rõ tên thật, địa chỉ) hỏi mua 07 (bảy) bịch ma túy đá với giá 600.000 đồng. Sau khi có được ma túy, L trở về nơi ở cất giữ và có lấy một ít ma túy đá từ trong các bịch đã mua ra sử dụng một mình. Đến khoảng 09 giờ 30 phút ngày 22/3/2023, khi L cầm 07 bịch ma túy đá trong lòng bàn tay trái định rời nơi ở tại số 65 Tôn Thất Đạm, phường Rạch Sỏi, thành phố RG để đi tìm nơi sử dụng thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá bắt quả tang cùng tang vật. Ngoài ra, L khai nhận trước đó trong tháng 3/2023 (không nhớ ngày) L còn mua ma túy đá của người đàn ông nêu trên hai lần, mỗi lần mua 01 (một) bịch ma túy đá với giá 300.000 đồng, địa điểm mua đều tại khu vực dốc cầu Rạch Sỏi thuộc phường AB, thành phố RG, tất cả các lần mua đều nhằm mục đích sử dụng cá nhân.

Trong quá trình bị bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng gồm:

  • - 01 (một) bịch nylon trong suốt có rãnh gài viền màu đỏ, bên trong có chứa 07 (bảy) bịch nylon trong suốt được hàn kín, bên trong mỗi bịch nylon đều có chứa các hạt chất rắn, dạng tinh thể, không đồng nhất.

Ngày 22/3/2023, các cơ quan chức năng tiến hành mở niêm phong xác định khối lượng vật chứng, trích lấy mẫu để trưng cầu giám định. Ngày 21/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố RG, tỉnh KG ra Quyết định trưng cầu giám định số 126 đối với vật chứng vụ án. Tại bản kết luận giám định số 297/KL-KTHS ngày 27/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Kiên Giang, kết luận: Các hạt chất rắn màu trắng, dạng tinh thể không đồng nhất chứa trong 01 bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại:Methamphetamine khối lượng 0,5519 gam”.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC,STT 247, Nghị định 57/2022NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Hành vi của bị cáo Trần Thị L đã bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang lập hồ sơ đề nghị truy tố trước pháp luật về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại bản Cáo trạng số: 190/CT-VKSRG ngày 17/7/2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang truy tố bị cáo Trần Thị L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Trần Thị L; đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; tuyên bố bị cáo Trần Thị L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Trần Thị L từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị:

  • - Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định là vật chứng trong vụ án là: 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 297/2023 có chữ ký của giám định viên Lê Đức H, người chứng kiến niêm phong Lê Văn T và hình dấu tròn của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang.

(Theo quyết định chuyển giao vật chứng số 35/QĐ-VKS ngày 17/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang)

Tại phiên tòa bị cáo Trần Thị L nhất trí như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố RG đã truy tố và phát biểu quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.

Khi được nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm quay trở về với gia đình và cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về các hành vi và quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố thành phố RG, tỉnh KG; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố thành phố RG, tỉnh KG; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án là phù hợp nên Hội đồng xét xử kết luận:

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang; lời khai của người làm chứng; kết luận giám định; vật chứng cùng các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định: Vào lúc 09 giờ 30 phút cùng ngày 22/3/2023 tại trước nhà số 65 Tôn Thất Đạm, phường RS, thành phố RG, tỉnh KG Công an bắt quả tang Trần Thị L có hành vi tàng trữ trái phép 0,5519 gam Methamphetamine, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.

Như vậy, hành vi cất giấu phép 0,5519 gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng của bị cáo L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như đã viện dẫn nêu trên.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang truy tố bị cáo Trần Thị L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3]. Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cố ý xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước, gây mất trật tự trị an, làm gia tăng tệ nạn và các loại tội phạm về ma túy, là một trong những nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét

thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội

[4]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo Trần Thị L có nhân thân tốt chưa tiền án tiền sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt khi lượng hình thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5]. Về hình phạt:

[5.1]. Về hình phạt chính:

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố RG, tỉnh KG đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Trần Thị L từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Hội đồng xét xử xét thấy việc đề nghị hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là hoàn toàn phù hợp bởi bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không thể tự cải tạo, cần thiết phải cách ly ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ để cải tạo giáo dục riêng cũng như phòng ngừa chung trong xã hội.

[5.2]. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự còn quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...”. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Trần Thị L.

[6]. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định là vật chứng trong vụ án là: 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 297/2023 có chữ ký của giám định viên Lê Đức H, người chứng kiến niêm phong Lê Văn T và hình dấu tròn của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh KG.

(Theo quyết định chuyển giao vật chứng số 35/QĐ-VKS ngày 17/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố RG, tỉnh KG)

[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8]. Về những vấn đề khác:

[8.1]. Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, bị cáo Trần Thị L khai được mua với một người đàn ông không quen biết, việc trao đổi mua bán ma túy không có ai biết và chứng kiến. Do vậy, Cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh, nếu có căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

[8.2] Xét thấy đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá về tội danh, hình phạt, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, quan điểm xử lý vật chứng là phù hợp với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo Trần Thị L nên cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 ; Điều 38, Bộ luật hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Trần Thị L 01 (một) năm tù. Thời hạn tù, tính từ ngày chấp hành án.

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử:
  4. - Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định là vật chứng trong vụ án là: 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 297/2023 có chữ ký của giám định viên Lê Đức Huy, người chứng kiến niêm phong Lê Văn Toàn và hình dấu tròn của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang.

  5. Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
  6. Bị cáo Trần Thị L phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.

  7. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
  8. Án xử công khai có mặt bị cáo, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 22/8/2023).

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh KG;
  • - Sở tư pháp tỉnh KG;
  • - VKSND thành phố RG;
  • - Công An thành phố RG;
  • - Chi cục THADS thành phố RG;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ Tọa phiên Tòa

Lý Văn Toán

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 170/2023/HS-ST ngày 22/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ - TỈNH KIÊN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 170/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ - TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị L phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger