Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN ĐỐNG ĐA

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 170 /2024/HS-ST

Ngày: 21/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vương Thùy Dương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thanh

Ông Nguyễn Văn Lương

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thu Hương - Cán bộ Toà án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Tạ Hà Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 21/6/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 165/2024/HSST ngày 31 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 158/2024/QĐXX-ST ngày 07/6/2024.

1. LÊ THANH PHƯỢNG, sinh ngày 30/11/1989; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không. Trình độ văn hóa: 12/12. Nơi ĐKNKTT: số A L, phường C, quận H, thành phố Hà Nội; Nơi ở hiện tại: số A ngách E L, phường V, quận Đ, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Tự do; Con ông: Lê Văn C (đã chết); Con bà: Lê Thị Đ, sinh năm 1958. Gia đình có 2 chị em, bị cáo là con thứ 2. Chồng: Nguyễn Quốc V, sinh năm 1985; có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2017. D chỉ bản số 95 lập ngày 25/01/2024 tại Công an quận Đ, thành phố Hà Nội. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

2. NGUYỄN THỊ ĐƯỜNG, sinh ngày 27/12/1991; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không. Trình độ văn hóa: 12/12. Nơi ĐKNKTT và nơi ở hiện tại: số H T, phường V, quận Đ, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Tự do; Con ông: Nguyễn Văn H, sinh năm 1969; Con bà: Chu Thị H1, sinh năm 1972. Gia đình có 2 chị em, bị cáo là con cả. Chồng: Nguyễn Văn L, sinh năm 1981; có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2016. D chỉ bản số 20 lập ngày 04/01/2024 tại Công an quận Đ, thành phố Hà Nội. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

3. NGUYỄN VĂN LÂN (tức Lam, N), sinh ngày 25/12/1981; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không. Trình độ văn hóa: 9/12. Nơi ĐKNKTT và nơi ở hiện tại: số H T, phường V, quận Đ, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Tự do; Con ông: Nguyễn Văn Q, sinh năm 1944; Con bà: Khương Thị H2, sinh năm 1943 (đã chết). Gia đình có 4 anh em, bị cáo là con thứ ba. Vợ: Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1991; có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2016. D chỉ bản số 22 lập ngày 04/01/2024 tại Công an quận Đ, thành phố Hà Nội.

Tiền án, tiền sự:

- Bản án số 115/HSST ngày 19/5/1998 bị Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”.

- Bản án số 409/HSST ngày 27/8/2008 bị Tòa án nhân dân quận Đống Đa xử phạt 28 tháng tù về tội “Tàng trữ trái pháp chất ma túy”.

- Ngày 14/6/2003, bị Công an phường V, quận Đ xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Bị bắt ngày 25/12/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 01, Công an thành phố H. Có mặt tại phiên tòa

4. NGUYỄN THỊ DUNG, sinh ngày 03/12/1983; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không. Trình độ văn hóa: 6/12. Nơi ĐKNKTT và nơi ở hiện tại: số H T, phường V, quận Đ, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Tự do; Con ông: Nguyễn Văn C1, sinh năm 1959; Con bà: Vũ Thị Ả, sinh năm 1957. Gia đình có 6 anh chị em, bị cáo là con thứ ba. Chồng: Trần Văn T, sinh năm 1968; có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2012. D chỉ bản số 21 lập ngày 04/01/2024 tại Công an quận Đ, thành phố Hà Nội. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Đàm Quang V1, sinh năm 1989; HKTT: Tổ C phường C, TP S, tỉnh Sơn La. Nơi ở hiện tại: Số B T, phường V, quận Đ, thành phố Hà Nội.

- Mai Văn C2, sinh năm 1984; HKTT: Xóm H X, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ 05 phút ngày 25/12/2023 tại khu vực số H - 84 T, V, Đ, Hà Nội, Công an quận Đ phát hiện bắt quả tang các đối tượng đang mua bán số lô đề cụ thể như sau:

- Tại vỉa hè đối diện số H T đối tượng Nguyễn Văn L đang bán các số đề 57, 75, 67, 76 mỗi số 50.000 đồng cho Mai Văn C3 (Sinh năm: 1984; HKTT: Xóm X, G, G, Nam Định).

- Tại tầng 1 số nhà H T, Nguyễn Thị D1 đang bán các số lô 24, 42 mỗi số 50 điểm cho Đàm Quang V1 (Sinh năm: 1989; HKTT: Tổ C phường C, TP S, tỉnh Sơn La).

Tại nhà số H T, Cơ quan Công bắt quả tang Nguyễn Thị Đ1 đang tổng hợp các số lô, số đề và chuyển cho Lê Thanh P thông qua ứng dụng Telegram.

Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đồng thời thu giữ những tang vật chứng gồm:

- Thu giữ của Nguyễn Thị D1 số tiền 3.100.000 đồng; 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone 7 Plus màu đen đã qua sử dụng kèm sim;

- Thu giữ của Nguyễn Thị Đ1: 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone 7 Plus màu đen đã qua sử dụng kèm sim; 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone 11 Promax màu xanh đã qua sử dụng kèm sim;

- Thu giữ của Nguyễn Văn L: 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone 7 màu đen đã qua sử dụng kèm sim;

- Thu giữ của bị can Lê Thanh P: 01 (một) chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A05s màu đen đã qua sử dụng kèm sim;

- Thu giữ của đối tượng Mai Văn C2: 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone 13 màu xanh đã qua sử dụng kèm sim;

- Thu giữ của đối tượng Đàm Quang V1: 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone 11 Promax màu xám đã qua sử dụng kèm sim.

Cơ quan điều tra đã làm rõ hành vi phạm tội của các bị can như sau:

Căn cứ vào kết quả mở thưởng Xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng hàng ngày, các bị can đã thực hiện hành vi đánh bạc, được thua bằng tiền bằng hình thức mua bán số lô đề. Bắt đầu từ ngày 10/12/2023 đến ngày 25/12/2023 thông qua ứng dụng Telegram, Lê Thanh P sử dụng số điện thoại 0941.282.xxx để nhận các số lô, số đề từ Nguyễn Thị Đ1 (sử dụng số điện thoại 0355.265.xxx) rồi chuyển lại cho chủ đề hưởng chênh lệch tỷ lệ phần trăm bằng tiền. Cụ thể, P thỏa thuận nhận của Đ1 với tỷ lệ: Số lô x 21.800đ/1 điểm; Số đề 75%; Số lô xiên x 65%;

Sau khi thống nhất với P, Đ1 đã bán các số lô, số đề cho người có nhu cầu với tỷ lệ: Số lô x 22.500đ/1 điểm; Số đề x 90%; Số lô xiên x 80% để lấy tiền sinh hoạt chung cho gia đình. Chồng của Đ1 là Nguyễn Văn L cũng tham gia giúp Đường bán các số lô, số đề cho khách với tỷ lệ: Số lô x 22.500 đồng/1 điểm; Số đề x100%; Số lô xiên x 80%.

Ngoài ra, Đ1 sử dụng tài khoản zalo "Minh Lâm" đăng ký số điện thoại 0977.037.xxx để nhận lại các số lỗ, đề của Nguyễn Thị D1 (sử dụng tài khoản zalo đăng ký số điện thoại 0972.608.xxx) với tỷ lệ: số lô x 22.000đ/1 điểm; Số đề x 75%. Còn D1 bán cho khách mua lô đề với tỷ lệ: Số lô x22.500đ/1 điểm; số đề x 90% để chuyển lại cho Đ1 lấy chênh lệch hàng ngày rồi Đường sẽ tổng hợp chuyển cho P.

Cơ quan điều tra xác định trong ngày 25/12/2023 tổng số tiền các bị can đã mua bán lô đề như sau:

- Nguyễn Thị D1 bán số lô, đề cho khách được là 9.355.000 đồng (chín triệu ba trăm năm năm nghìn đồng);

- Nguyễn Văn L bán số lô, đề cho khách với tổng số tiền là 18.475.000 đồng (mười tám triệu bốn trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).

- Nguyễn Thị Đ1 sau khi tổng hợp các số lô, số đề của L và D1 cùng với số lô, số đề của bản thân bán được rồi Đ1 chuyển cho P tổng bán số lô, số đề là 71.382.500 đồng (bảy mươi mốt triệu ba trăm tám mươi hai nghìn năm trăm đồng).

- Lê Thanh P khai: từ ngày 10/12/2023 đến ngày 25/12/2023 thông qua ứng dụng Telegram, bị can đã bán, nhận các số lô, số đề từ bị can Nguyễn Thị Đ1 rồi chuyển lại cho Doãn Thị Thanh H3 (Sinh năm: 1989, HKTT:235 tổ B, phường H, H, Hà Nội thông qua tài khoản Telegram đăng ký số điện thoại 0865.205.xxx) để hưởng chênh lệch tỷ lệ phần trăm bằng tiền. Ngày nhiều P bán, nhận các số lô, để với mức tiền tổng khoảng 50.000.000 đồng, ngày ít là khoảng 10.000.000 đồng, trung bình là 30.000.000 đồng. Số tiền P hưởng lợi ngày nhiều là 500.000 đồng, ngày ít là 300.000 đồng, trung bình là 400.000 đồng/ ngày. Tổng số tiền hưởng lợi chênh lệch tỷ lệ phần trăm của bị can qua 15 ngày bán, chuyển số lô, đề là 6.000.000 đồng. P đã chỉ tiêu cá nhân hết số tiền này.

Nguyễn Thị Đ1 khai: Đ1 cùng chồng là Nguyễn Văn L mở hàng nước tại khu vực vỉa hè đối diện số nhà H T nhằm mục đích bán các số lô, số đề cho người có nhu cầu (hầu hết là khách vãng lai). Ngày nhiều bị can bán, nhận các số lô, đề cho 12 người khách với mức tiền tổng khoảng 40.000.000 đồng, ngày ít bán cho 6 người khách với số tiền khoảng 20.000.000 đồng, trung bình 1 ngày bị can bán cho 9 người với mức tiền là 30.000.000 đồng. Số tiền bị can hưởng lợi ngày nhiều là 2.000.000 đồng, ngày ít là 600.000 đồng, trung bình là 1.300.000 đồng/ ngày. Tổng số tiền hưởng lợi chênh lệch tỷ lệ phần trăm của bị can qua 15 ngày bán, chuyển số lô, đề là khoảng 19.500.000 đồng. Bị can đã chi tiêu cho gia đình và cá nhân hết số tiền này.

Nguyễn Văn L khai: Ngày 25/12/2023 khi bị can vừa nhận 200.000 đồng từ Mai Văn C2 (gửi tin nhắn mua các số đề thông qua tài khoản zalo "Minh Lâm" do bị can Nguyễn Thị Đ1 quản lý) thì bị Cơ quan Công an bắt quả tang. Do trời tối nên tờ tiền 200.000 đồng đã bị rơi mất không thu hồi được. Bên cạnh đó, bị can cũng bán các số lô, đề qua tin nhắn điện thoại cho khách có nhu cầu (đều là khách quen mặt nhưng không rõ nhân thân lai lịch) rồi thông qua ứng dụng Telegram đăng ký số điện thoại 036996559 chuyển lại cho Đ1 để tổng hợp thanh toán và chi tiêu chung trong gia đình. Ngày 25/12/2023 tổng số tiền bi can bán số lô, đề cho khách được xác định là 18.475.000 đồng.

Nguyễn Thị D1 khai: trực tiếp bán số lô, đề cho khách có nhu cầu tại quán nước ở số nhà H T, hoặc gián tiếp nhắn tin đến số điện thoại 0972.608.xxx của bị can để mua số lô, đề. Toàn bộ các số lô, đề bán trong ngày đều được chuyển đi cho bị can Đ1 thông qua ứng dụng zalo. Việc tính toán thắng thua với khách và chủ được diễn ra sau khi có kết quả xổ số và thanh toán ngày nào dứt điểm ngày đó. Sau khi thanh toán xong, các bị can đều xóa toàn bộ nội dung tin nhắn mua – bán số lô đề. Số tiền bị can thu lời bất chính qua 14 ngày bán lô đề là 1.680.000 đồng. Ngày 25/12/2023 tổng số tiền bị can bán số lô, đề cho khách được xác định là 9.355.000 đồng.

Các bị can đều thừa nhận hành vi mua bán lô đề nhiều ngày từ 10/12/2023 đến 25/12/2023, tuy nhiên sau khi thanh toán thắng thua hàng ngày, các bị can đã xóa dữ liệu trong điện thoại các nội dung liên quan đến việc mua bán lô đề các ngày trước khi bị phát hiện nên Cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ để xử lý.

Đối với Doãn Thị Thanh H3 khi được triệu tập H3 khai có quan hệ quen biết với bị can Lê Thanh P từ lâu. Tuy nhiên giữa 2 người không phát sinh quan hệ giao dịch mua bán số lô, đề với nhau. H3 khẳng định không sử dụng số điện thoại 0865.205.xxx.

Cơ quan điều tra đã tổ chức đối chất giữa bị can Lê Thanh P và Doãn Thị Thanh H3. Kết quả đối tượng Doãn Thị Thanh H3 giữ nguyên lời khai khẳng định không biết và không tham gia hành vi tổ chức đánh bạc mua bán các số lô, số đề với Lê Thanh P.

Cơ quan điều tra đã xác minh số điện thoại 0865.205.xxx tại Tập đoàn V3 được biết thông tin chủ sở hữu là anh Nguyễn Quang H4 (SN: 2003, HKTT: Tổ dân phố số D, phường L, P, Hà Nam). Khi được triệu tập, anh H4 cho biết: Khoảng tháng 4/2023 khi H4 đang đi học tại trường Đại học M đã được 1 người phụ nữ tên V2 (không rõ nhân thân lai lịch) nhờ mua và đứng tên đăng ký số sim điện thoại 0865.205.xxx nhằm mục đích cho con của V2 sử dụng. Anh H4 không sử dụng sim điện thoại 0865.205.xxx và không quen biết đối tượng Doãn Thị Thanh H3. Do vậy cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

Đối với hành vi mua các số lô, số đề được thua bằng tiền của các đối tượng Đàm Quang V1 mua số lô của bị cáo D1 với số tiền 2.250.000 đồng; Mai Văn C2 mua số đề của bị cáo L với số tiền 200.000 đồng và Bùi Vũ H5 mua các số lô của bị cáo L với số tiền 1 450.000 đồng được xác định là đánh bạc trái phép. Tuy nhiên số tiền đánh bạc không đủ mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc theo Khoản 1 Điều 28 Nghị định 144/2021/NĐ-CP đối với V1, C2 và H5.

Bản cáo trạng số 165/CT-VKSĐĐ ngày 25/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa đã truy tố bị cáo Lê Thanh P, bị cáo Nguyễn Thị Đ1 và bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Tổ chức đánh bạc”; bị cáo Nguyễn Thị D1 về tội “Đánh bạc”.

Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Lê Thanh P, Nguyễn Thị Đ1 và Nguyễn Văn L; điểm i và điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị D1. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt:

- Bị cáo Lê Thanh P từ 17 tháng đến 20 tháng tù, nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách từ 34 tháng đến 40 tháng;

- Bị cáo Nguyễn Thị Đ1 từ 15 tháng đến 18 tháng tù, nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng;

- Bị cáo Nguyễn Văn L từ 13 tháng đến 16 tháng tù,

- Bị cáo Nguyễn Thị D1 từ 08 tháng đến 10 tháng tù, nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách từ 16 tháng đến 20 tháng.

Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Về vật chứng: Đề nghị tịch thu sung công 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone 7 Plus màu đen đã qua sử dụng kèm sim thu giữ của Nguyễn Thị D1; 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone 7 Plus màu đen đã qua sử dụng kèm sim và 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone 11 Promax màu xanh đã qua sử dụng kèm sim thu giữ của Nguyễn Thị Đ1; 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone 7 màu đen đã qua sử dụng kèm sim thu giữ của Nguyễn Văn L; 01 (một) chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A05s màu đen đã qua sử dụng kèm sim thu giữ của Lê Thanh P; 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone 13 màu xanh đã qua sử dụng kèm sim thu giữ của Mai Văn C2; 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone 11 Promax màu xám đã qua sử dụng kèm sim thu giữ của Đàm Quang V1; sung vào công quỹ Nhà nước khoản tiền mặt 3.100.000 đồng thu giữ của bị cáo Nguyễn Thị D1, 6.000.000 đồng tiền thu lời bất chính của Lê Thanh P, 19.500.000 đồng tiền thu lời bất chính của Nguyễn Thị Đ1, Nguyễn Văn L, 1.680.000 đồng thu lời bất chính của Nguyễn Thị D1.

Các bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi như đã nêu tại bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa. Bị cáo P đề nghị HĐXX sung công 6.000.000 đồng thu lời bất chính. Bị cáo Đ1 đề nghị HĐXX sung công 9.750.000 đồng thu lời bất chính. Bị cáo D1 đề nghị HĐXX sung công 1.680.000 đồng thu lời bất chính và khoản tiền mặt 3.100.000 đồng. Bị cáo L: đề nghị HĐXX sung công 9.750.000 đồng thu lời bất chính và đề nghị HĐXX truy thu 200.000 đồng Mai Văn C2 đã mua các số đề của bị cáo L và 1.450.000 đồng Bùi Vũ H5 đã mua các số lô của bị cáo L, tổng số tiền truy thu là 1.650.000 đồng. Các bị cáo nhận thức, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh của các bị cáo để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về tội danh: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của những người liên quan, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 18 giờ 05 ngày 25/12/2023, tại khu vực số H T, phường V, quận Đ, Hà Nội, Nguyễn Thị D1 có hành vi đánh bạc bằng hình thức bán số lô đề cho người chơi với tổng số tiền là 9.355.000 đồng; sau đó D1 chuyển cho Nguyễn Thị Đ1.

Nguyễn Thị Đ1 và Nguyễn Văn L có hành vi Tổ chức đánh bạc với hình thức tổng hợp mua bán số lô, đề dựa trên kết quả xổ số Miền Bắc với tổng số tiền tổ chức đánh bạc là 71.387.500 đồng (bảy mốt triệu ba trăm tám bảy ngàn năm trăm đồng). Bị cáo Đ1 và L đều khai vì là vợ chồng nên việc bán số lô đề là làm chung với nhau; bị cáo L ngồi bán hàng nước đồng thời bán số lô, đề cho khách sau đó sẽ nhắn tin các số lô, đề về để Đường tổng hợp chuyển đi cho chủ là P theo tỷ lệ thỏa thuận.

Số tiền tổ chức đánh bạc của Lê Thanh P là 69.564.000 đồng (sáu chín triệu, năm trăm sáu tư ngàn, sáu trăm đồng).

Quá trình tổ chức đánh bạc, đánh bạc từ trước đến khi bị bắt, Lê Thanh P khai hưởng lợi 6.000.000 đồng; Nguyễn Thị Đ1, Nguyễn Văn L khai hưởng lợi 19.500.000 đồng dùng để chi tiêu chung cho gia đình; Nguyễn Thị D1 hưởng lợi 1.680.000 đồng. Các bị cáo và gia đình bị cáo đã tự nguyện nộp lại toàn bộ số tiền thu lời bất chính nêu trên.

[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an xã hội, làm gia tăng tệ nạn cờ bạc, ảnh hưởng tới kinh tế và sự ổn định của nhiều gia đình, đồng thời là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác. Hiện nay Nhà nước nghiêm cấm đánh bạc được thua bằng tiền dưới mọi hình thức, bản thân các bị cáo đủ nhận thức biết được hành vi đánh bạc là phạm pháp nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó cần có hình phạt nghiêm đủ để giáo dục các bị cáo thành người có ích và đảm bảo tính răn đe phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Quá trình truy tố, xét xử, các bị cáo Lê Thị P1, Nguyễn Thị Đ1, Nguyễn Thị D1 có thái độ khai báo thành khẩn khai báo; nhân thân không xấu, chưa có tiền án tiền sự, lần đầu tiên bị đưa ra xét xử, bị cáo P1 có đơn xin đầu thú với cơ quan Công an quận Đ; hơn nữa, trước khi xét xử, các bị cáo và gia đình các bị cáo đã tự nguyện nộp lại số tiền thu lời bất chính vào ngân sách Nhà nước, thể hiện thái độ ăn năn hối cải của các bị cáo, do đó Hội đồng xét xử áp dụng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm một phần hình phạt cho các bị cáo. Bị cáo Nguyễn Thị D1 được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo cải tạo tại địa phương theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự, thể hiện được chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước.

Đối với Nguyễn Văn L, về nhân thân bị cáo đã có 02 tiền án và 01 tiền sự, thể hiện bị cáo là người coi thường pháp luật nên cần xử phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục và răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, trong quá trình truy tố, xét xử, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; gia đình và bị cáo đều đã tự nguyện nộp lại số tiền thu lời bất chính vào ngân sách Nhà nước nên Hội đồng xét xử áp dụng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm một phần hình phạt cho bị cáo.

[5] Xử lí tang vật:

Tịch thu sung công các máy điện thoại di động thu giữ của các bị cáo Nguyễn Thị D1; Nguyễn Thị Đ1; Nguyễn Văn L; Lê Thanh P; và các máy điện thoại di động thu giữ của Mai Văn C2, Đàm Quang V1, do các máy điện thoại này đều được các đối tượng sử dụng để liên lạc mua bán lô, đề.

Sung vào công quỹ Nhà nước khoản tiền mặt 3.100.000 đồng thu giữ của bị cáo Nguyễn Thị D1, 6.000.000 đồng tiền thu lời bất chính của Lê Thanh P, 9.750.000 đồng tiền thu lời bất chính của Nguyễn Thị Đ1, 9.750.000 đồng tiền thu lời bất chính của Nguyễn Văn L, 1.680.000 đồng tiền thu lời bất chính của Nguyễn Thị D1.

[6] Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Các bị cáo Lê Thanh P, Nguyễn Thị Đ1, Nguyễn Văn L phạm tội “Tổ chức đánh bạc”. Bị cáo Nguyễn Thị D1 phạm tội “Đánh bạc”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 13 (mười ba) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 25/12/2023.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự : Xử phạt bị cáo Lê Thanh P 18 (mười tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Lê Thanh P cho Ủy ban nhân dân phường V, quận Đ, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự : Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Đ1 15 (mười lăm) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Thị Đ1 cho Ủy ban nhân dân phường V, quận Đ, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị D1 10 (mười) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 (hai mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Thị D1 cho Ủy ban nhân dân phường V, quận Đ, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội phạm mới và tổng hợp với hình phạt tù của bản án trước theo quy định tại Điều 55, 56 của Bộ luật hình sự, nếu họ đã bị tạm giam, tạm giữ thì thời gian bị tạm giam, tạm giữ được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.

2. Áp dụng các Điều 47, 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333, Điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án:

2.1. Tịch thu sung quỹ Nhà nước:

+ 02 (hai) chiếc điện thoại di động Iphone 7 Plus màu đen đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong;

+ 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone 11 Promax màu xanh IMEI : 352840111652619 đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong;

+ 01 (một) chiếc điện thoại di động I phone 7 màu đen, IMEI : 354916095903075 đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong;

+ 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone 11 Promax màu xám, IMEI : 353888103211166 đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong;

+ 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone 13 màu xanh, IMEI : 356177154955237 đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong;

+ 01 (một) chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A05s màu đen đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong;

Theo Biên bản giao nhận vật chứng số 232 ngày 17/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Đống Đa, Hà Nội.

+ Khoản tiền mặt 3.100.000 (ba triệu một trăm nghìn) đồng đã nộp tại Giấy nộp tiền lập ngày 17/5/2024 tại Kho bạc Nhà nước Đ2, nộp vào tài khoản số 3949.0.1049185, đơn vị nhận tiền : Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa.

+ Khoản tiền thu lời bất chính 6.000.000 (sáu triệu) đồng do gia đình bị cáo Lê Thanh P đã nộp tại biên lai ký hiệu BLTT/23 số 0019247 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa, Hà Nội.

+ Khoản tiền thu lời bất chính 1.680.000 (một triệu sáu trăm tám mươi nghìn) đồng do bị cáo Nguyễn Thị D1 đã nộp tại biên lai ký hiệu BLTT/23 số 0019094 ngày 19/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa, Hà Nội.

+ Khoản tiền thu lời bất chính 9.750.000 (chín triệu bảy trăm năm mươi nghìn) đồng do bị cáo Nguyễn Thị Đ1 đã nộp tại biên lai ký hiệu BLTT/23 số 0019249 ngày 19/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa, Hà Nội.

+ Khoản tiền thu lời bất chính 9.750.000 (chín triệu bảy trăm năm mươi nghìn) đồng do gia đình bị cáo Nguyễn Văn L đã nộp tại biên lai ký hiệu BLTT/23 số 0019250 ngày 19/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa, Hà Nội.

2.2. Truy thu số tiền 200.000 đồng đối tượng Mai Văn C2 đã mua các số đề của bị cáo L và số tiền 1.450.000 đồng Bùi Vũ H5 đã mua các số lô của bị cáo L. Bị cáo Nguyễn Văn L phải nộp tổng số tiền truy thu là 1.650.000 đồng.

Mỗi bị cáo Lê Thanh P, Nguyễn Thị Đ1, Nguyễn Văn L, Nguyễn Thị D1 phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được nhận bản án ./.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND quận Đống Đa;
  • - Công an quận Đống Đa;
  • - Chi cục THADS quận Đống Đa;
  • - UBND phường Văn Chương, Đống Đa
  • - UBND phường Văn Miếu, Đống Đa
  • - Các Bị cáo;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Vương Thùy Dương

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 170 /2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự: tổ chức đánh bạc và đánh bạc

  • Số bản án: 170 /2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Tuyên bố: Các bị cáo Lê Thanh Phượng, Nguyễn Thị Đường, Nguyễn Văn Lân phạm tội “Tổ chức đánh bạc”. Bị cáo Nguyễn Thị Dung phạm tội “Đánh bạc”. - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Lân 13 (mười ba) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 25/12/2023. - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự : Xử phạt bị cáo Lê Thanh Phượng 18 (mười tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Lê Thanh Phượng cho Ủy ban nhân dân phường Văn Chương, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự : Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Đường 15 (mười lăm) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Thị Đường cho Ủy ban nhân dân phường Văn Miếu, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Dung 10 (mười) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 (hai mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Thị Dung cho Ủy ban nhân dân phường Văn Miếu, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. - Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội phạm mới và tổng hợp với hình phạt tù của bản án trước theo quy định tại Điều 55, 56 của Bộ luật hình sự, nếu họ đã bị tạm giam, tạm giữ thì thời gian bị tạm giam, tạm giữ được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger